MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Một nền kinh tế muốn phát triển cần có các nguồn lực: vốn, khoa học –
công nghệ, tài nguyên và nguồn nhân lực; muốn tăng trưởng nhanh và bền
vững cần dựa vào ba yếu tố cơ bản là áp dụng công nghệ mới, phát triển kết
cấu hạ tầng hiện đại và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Sự phát triển kinh tế - xã hội phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhiều điều kiện,
nhưng chủ yếu nhất vẫn là phụ thuộc vào yếu tố con người. nếu so sánh các
nguồn lực với nhau thì nguồn nhân lực có ưu thế hơn cả. Do vậy, hơn bất cứ
nguồn lực nào khác, nguồn nhân lực luôn chiếm vị trí trung tâm và đóng vai
trò quan trọng hàng đầu trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nhất là
trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế
quốc tế.
Việc khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực là vấn đề hết sức
quan trọng, nguồn nhân lực cần phát huy tính đa dạng, phong phú về truyền
thống văn hóa phương Đông như: hiếu học, trọng nhân tài, trọng tri thức, khoa
học…Tuy nhiên cho đến nay, những tiềm năng quan trọng này vẫn chưa được
chú ý khai thác đầy đủ, đúng mức và có thể sử dụng chưa hiệu quả về nguồn
nhân lực.
Ngày nay, khi thế giới bước vào nền kinh tế tri thức thì vấn đề nhân tài
đang thực sự là vấn đề cấp thiết, vì nhân tài là hạt nhân của nền kinh tế tri
thức. Tuy rằng, nhân tài thời nào cũng quý cũng quan trọng nhưng ngày nay
lại càng quan trọng hơn. Muốn đi tắt, đón đầu trong phát triển thì phải có
nguồn nhân lực tiên tiến, không để lãng quên nhân tài và không để lãng phí
nguồn nhân lực. Do vậy, các quốc gia cần phải chủ động quy hoạch, tạo
nguồn, đào tạo và bồi dưỡng để nguồn nhân lực phát huy đạt hiệu quả cao
nhất.
Để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - văn hoá – xã hội trong tình hình
mới, Đảng và Nhà nước ta đã đặt ra những yêu cầu cơ bản trước mắt và lâu
dài trong việc sử dụng nguồn nhân lực có hiệu quả nhất, khai thác tiềm năng
trí tuệ, phát huy những yếu tố tinh thần gắn với truyền thống văn hóa dân tộc.
toàn bộ bí quyết thành công của một quốc gia xét cho cùng, đều nằm trong
chiến lược đào tạo và phát triển con người.
2. Mục đích nghiên cứu Đề tài
Ninh Thuận là một tỉnh thuộc khu vực Đông Nam Bộ có dân số ít, kinh tế
chậm phát triển so với các tỉnh trong khu vực và cả nước, việc phát triển kinh
tế - xã hội đã được cấp ủy, chính quyền của tỉnh đặc biệt quan tâm và đặt lên
hàng đầu, đã có những biện pháp tích cực để khơi dậy những tiềm năng nhằm
từng bước cải thiện đời sống nhân dân trong tỉnh, sớm hòa nhập vào sự phát
triển chung của cả nước và thế giới.
Kể từ khi tái lập tỉnh (năm 1992) cho tới nay, được sự hỗ trợ của các cơ
quan Trung ương, tỉnh Ninh Thuận đã xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế -
xã hội giai đoạn 2005 – 2010 và định hướng phát triển kinh tế - xã hội thời
gian 2010 – 2015; từng bước điều chỉnh cơ cấu cây trồng và chuyển dịch cơ
cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp, du lịch và dịch vụ; ổn định diện
tích cây trồng, tăng năng xuất và đẩy mạnh chế biến các sản phẩm từ nông
nghiệp để xuất khẩu những sản phẩm mà tỉnh có thế mạnh.
Trên cơ sở chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, tỉnh Ninh thuận đã quy
hoạch các vùng đất mà sản xuất kém hiệu quả để thành lập các khu công
nghiệp với những chính sách hấp dẫn để thu hút các nhà đầu tư trong nước và
nước ngoài đến sản xuất – kinh doanh, phát triển kinh tế, làm phong phú và đa
dạng những hàng hóa được sản xuất có thương hiệu tại Ninh Thuận, đẩy mạnh
xuất khẩu, tăng thu ngoại tệ, tăng việc làm, giảm thất nghiệp, tăng thu nhập,
cải thiện đời sống của người lao động.
2
Trên cơ sở chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2005 – 2010 và
định hướng phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2010 - 2015 của tỉnh Ninh
Thuận, tôi đã chọn đề tài: “Phát triển nguồn nhân lực cho các khu công
nghiệp của tỉnh Ninh Thuận giai đoạn 2008 – 2015” để nghiên cứu và xây
dựng đề tài này; mục đích của đề tài là:
Thứ nhất, góp phần phân tích đánh giá tính khách quan, những khó khăn,
trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận; ý nghĩa khoa học và tính thực tiễn của đề tài thể
hiện qua các nội dung sau đây:
Một là, hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về hoạch định chiến
lược đào tạo nguồn nhân lực ở Việt Nam nói chung và nguồn nhân lực cho các
khu công nghiệp của tỉnh Ninh Thuận nói riêng.
3
Hai là, bằng các số liệu chứng minh, luận văn phân tích và làm sáng tỏ
hiện trạng việc đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực tại các khu công nghiệp
của tỉnh; từ đó, rút ra nguyên nhân và bài học kinh nghiệm cho việc hoạch
định chiến lược đào tạo nguồn nhân lực cho các khu công nghiệp của tỉnh
Ninh Thuận.
Ba là, vạch ra chiến lược phát triển, dự báo nhu cầu nguồn nhân lực cho
các khu công nghiệp của tỉnh đến năm 2015, xây dựng chiến lược đào tạo và
giải pháp cơ bản để đạt được mục tiêu tạo nguồn nhân lực cho các khu công
nghiệp của tỉnh.
Bốn là, với các số liệu chứng minh về nguồn nhân lực tại các khu công
nghiệp sẽ giúp cho các cấp chính quyền, các cơ quan, ban ngành của tỉnh nâng
cao hiệu quả quản lý Nhà nước trên địa bàn tỉnh nhằm xây dựng chính sách
phù hợp để xây dựng chiến lược tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ
phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nói chung và các khu công nghiệp của tỉnh
nói riêng.
Ngoài ra, đề tài còn chỉ ra những kết quả đạt được những hạn chế và
những nguyên nhân đào tạo, quản lý, sử dụng nguồn nhân lực và thông qua đó
đề xuất những giải pháp để thu hút, đào tạo, sử dụng nguồn nhân lực cho các
khu công nghiệp của tỉnh Ninh Thuận giai đoạn đến năm 2015 ngày càng tốt
hơn.
6. Những điểm mới của Luận văn
Luận văn được nghiên cứu độc lập, những nội dung của Đề tài hoàn toàn
mới vì từ trước tới nay chưa có ai nghiên cứu nguồn nhân lực cho khu công
nghiệp của tỉnh Ninh Thuận; với kết quả nghiên cứu sẽ góp phần nâng cao
Ở đây, con người xuất hiện với tư cách là động lực của sự phát triển kinh
tế - xã hội: “Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản chỉ đạo
toàn bộ sự phát triển đất nước” (Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VIII, Nhà
Xuất bản Chính trị Quốc gia, năm 1997). Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX,
Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia, năm 2001 thì lấy con người và nguồn nhân
lực là một trong ba khâu đột phá đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước: “Phát triển Giáo dục và Đào tạo là một trong những động lực quan
trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa là điều kiện để phát
huy nguồn lực con người – yếu tố cơ bản để phát triển xã hội; tăng trưởng
kinh tế nhanh và bền vững”. Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ X, Nhà Xuất bản
Chính trị Quốc gia, năm 2005 đã chỉ rõ: “Phát triển mạnh hệ thống giáo dục
nghề, trung cấp nghề cho các khu công nghiệp, các vùng kinh tế động lực và
cho việc xuất khẩu lao động….Đổi mới hệ thống giáo dục đại học và sau đại
học, gắn đào tạo với sử dụng, trực tiếp phục vụ chuyển đổi cơ cấu lao động,
phát triển nhanh nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là chuyên gia đầu
ngành. Chú trọng phát hiện, bồi dưỡng, trọng dụng nhân tài; nhanh chóng xây
dựng cơ cấu nguồn nhân lực hợp lý về ngành nghề, trình độ đào tạo, dân tộc
vùng miền….”.
Để làm sáng tỏ vị trí, chức năng của nguồn lao động và nguồn nhân lực
thì cần phân biệt mấy khái niệm sau:
Nguồn lao động là tổng số nhân khẩu có khả năng lao động bao gồm
nhân khẩu ở độ tuổi lao động và nhân khẩu ngoài độ tuổi lao động.
Nguồn nhân lực (nguồn lực con người) ngày nay đã trở thành một khái
niệm công cụ để điều hành thực thi chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế -
xã hội,. Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hay
5
một địa phương, tức là nguồn lao động được chuẩn bị (ở các mức độ khác
nhau) sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó, tức là những người
lao động có kỹ năng (hay khả năng nói chung), con đường đáp ứng được yêu
cầu của chuyển đổi cơ cấu lao động, chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng
phát huy bởi nền giáo dục tiên tiến gắn liền với một nền khoa học hiện đại”
(10, tr.11).
Ngoài ra, một số tác giả khác khi nghiên cứu các đề tài về nguồn nhân lực
và phát triển nguồn nhân lực Việt Nam cũng đã đưa ra những quan điểm khác
nhau về nguồn nhân lực; theo tôi, khái niệm nguồn nhân lực nên được hiểu
một cách ngắn gọn là nguồn lực con người. Điều đó, cũng có nghĩa là khái
niệm nguồn nhân lực cần tập trung phản ánh những vấn đề sau đây :
6
Một là, xem xét nguồn nhân lực dưới góc độ nguồn lực con người – yếu
tố quyết định sự phát triển của xã hội; hai là, nguồn nhân lực bao gồm số
lượng và chất lượng, trong đó mặt chất lượng thể hiện ở trí lực, nhân cách,
phẩm chất đạo đức, lối sống và sự kết hợp giữa các yếu tố đó; ba là, nghiên
cứu về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực nhất thiết phải gắn liền
với thời gian và không gian mà nó tồn tại.
Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam đã phản ánh một cách tổng quát
khái niệm nguồn nhân lực trên cả ba phương diện : trí lực, thể lực, nhân cách,
cùng với cơ sở khoa học cho sự phát triển các yếu tố đó là nền giáo dục tiên
tiến gắn liền nền khoa học hiện đại.
Từ sự phân tích trên theo tôi, khái niệm nguồn nhân lực nên được hiểu
đầy đủ như sau :
Theo nghĩa rộng thì nguồn nhân lực bao gồm những người đủ 15 tuổi trở
lên thực tế đang làm việc (gồm những người trong độ tuổi lao động và những
người trên độ tuổi lao động), những người trong độ tuổi lao động có khả năng
lao động nhưng chưa có việc làm (do thất nghiệp hoặc đang làm nội trợ trong
gia đình), cộng với nguồn lao động dự trữ (những người đang được đào tạo
trong các trường đại học, cao đẳng, trung cấp và dạy nghề…).
Điều đó có nghĩa là, số lượng và chất lượng nguồn nhân lực được nghiên
cứu trên các khía cạnh quy mô, tốc độ tăng nguồn nhân lực, sự phân bố theo
vùng, khu vực và lãnh thổ; trong đó, trí lực thể hiện ở trình độ dân trí, trình độ
chuyên môn, là yếu tố trí tuệ, tinh thần, là cái nói lên tiềm lực sáng tạo ra các
* Theo quan điểm sử dụng năng lực con người của ILP
“Phát triển nguồn nhân lực bao hàm không chỉ sự chiếm lĩnh trình độ
lành nghề, mà bên cạnh phát triển năng lực là làm cho con người có nhu cầu
sử dụng năng lực đó để tiến đến có được việc làm hiệu quả cũng như thỏa mãn
nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân”.
* Theo GS – TSKH Nguyễn Minh Đường
“Phát triển nguồn nhân lực được hiểu là sự gia tăng giá trị cho con người
trên các mặt trí tuệ, kỹ năng lao động, thể lực, đạo đức, tâm hồn…để họ có thể
tham gia vào lực lượng lao động làm giàu cho đất nước, góp phần cải tạo xã
hội, cũng như phát huy truyền thống của dân tộc và góp phần tô điểm thêm
bức tranh muồn màu của nhân loại. Do vậy, phát triển nguồn nhân lực phải
được tiến hành trên cả 3 mặt: Phát triển nhân cách, phát triển sinh thể, đồng
thời tạo ra môi trường xã hội thuận lợi cho nguồn lực phát triển” (11).
Kế thừa và phát huy những quan điểm trên, theo tôi dưới góc độ nghiên
cứu tổng thể, phát triển nguồn nhân lực là phát triển nguồn lực con người dưới
dạng tiềm năng thành “vốn con người – vốn nhân lực”. Xét ở góc độ cá nhân,
đó là nâng cao tri thức, sức khỏe, kỹ năng thực hành để tăng năng suất lao
động dẫn đến tăng thu nhập và cải thiện chất lượng cuộc sống. Xét ở góc độ
xã hội, là quá trình tạo dựng một lực lượng lao động cả về số lượng, chất
lượng và sử dụng có hiệu quả nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội
của quốc gia, vùng lãnh thổ trong từng thời kỳ.
Cho nên, dù với khái niệm rộng hay hẹp thì giáo dục và đào tạo vẫn được
coi là biện pháp chủ yếu và quan trọng để phát triển nguồn nhân lực. Trong
quá trình phân tích và đánh giá Luận văn đã nêu rõ sự khác biệt giữa phát triển
nguồn nhân lực và phát triển con người.
Phát triển nguồn nhân lực nhìn nhận con người dưới góc độ là một yếu tố
của sản xuất, một nguồn lực của xã hội, mục đích là gia tăng sự đóng góp có
hiệu quả của nó cho quá trình tái sản xuất để phát triển kinh tế - xã hội; còn
phát triển con người được nhìn nhận dưới góc độ con người là một chủ thể của
tự nhiên và xã hội. Vì thế, phát triển con người là trung tâm của sự phát triển,
Đối với các quốc gia đang phát triển, đặc biệt là các nước chậm phát
triển, thì lại ngược lại hoàn toàn. Tỉ lệ sinh ở các nước này thường khá cao
(trên 1,5%/năm), điều kiện kinh tế, chăm sóc sức khỏe và dịch vụ y tế chậm
được cải thiện, dẫn đến dự thừa lao động. hệ quả là gia tăng thất nghiệp và gây
áp lực cho việc giải quyết việc làm.
1.1.2.2 Phát triển nguồn nhân lực về mặt chất lượng
Hiện nay, có hai quan điểm phổ biến xem xét chất lượng nguồn nhân lực:
Theo quan điểm thứ nhất, chất lượng nguồn nhân lực được thể hiện ở các
mặt trí lực, thể lực và nhân cách, thẩm mỹ và yếu tố kết cấu các mặt đó. Nghĩa
là, yếu tố kết cấu được tách riêng khi xem xét nguồn nhân lực.
Theo quan điểm thứ hai, chất lượng nguồn nhân lực thể hiện trên ba mặt:
trí lực, thể lực và nhân cách, thẩm mỹ; nghĩa là, yếu tố đã được bao hàm trong
chính nội tại ba yếu tố đó.
9
Chúng tôi tiếp cận theo quan điểm thứ hai khi xem xét chất lượng nguồn
nhân lực của một quốc gia, vùng lãnh thổ. Vì chất lượng nguồn nhân lực được
xem xét ở đây là của một tập hợp người, bao gồm các những người trong và
trên độ tuổi lao động có khả năng lao động, thực tế đang làm việc, chưa có
việc làm hoặc đang được đào tạo. Mặt khác, khi xem xét chất lượng nguồn
nhân lực, nếu tính riêng yếu tố kết cấu thì sẽ không thể phác họa được một
bức tranh đầy đủ về chất lượng nguồn nhân lực.
Do vậy, thực chất của phát triển nguồn nân lực về mặt chất lượng là sự
phát triển trên cả ba mặt: trí lực, thể lực và nhân cách, thẩm mỹ của người lao
động.
Theo tôi, đây cũng là cơ sở để Nhà nước Việt Nam xác định: trong khi
nguồn lực vật chất và tài chính còn hạn hẹp, thì cùng với khoa học và công
nghệ, giáo dục – đào tạo phải trở thành quốc sách hàng đầu.
Phát triển nhân cách, thẩm mỹ là phát triển yếu tố văn hóa, tinh thần và
quan điểm sống như: tính tích cực, dám nghĩ, dám làm, đạo đức, tác phong, lối
sống…trong mỗi người lao động. Đó là quá trình nâng cao trình độ nhận thức
với tốc độ giải quyết việc làm, nghịch biến với tỷ lệ thất nghiệp và phụ thuộc
vào chính sách thu hút, bố trí, sử dụng và chế độ đãi ngộ. Nếu những chính
sách này hợp lý sẽ kích thích được tinh thần làm việc, phát huy được khả năng
sáng tạo của người lao động, là động lực quan trọng để nâng cao hiệu quả và
chất lượng công việc, sẽ thu hút được nhân tài cho tổ chức mình.
Do vậy, nguồn nhân lực có một vai trò hết sức quan trọng đến sự thành
công hay thất bại của mỗi một doanh nghiệp, mỗi địa phương và mỗi một
quốc gia, nếu tạo điều kiện cho nguồn nhân lực thể hiện tốt vai trò tiên phong
của mình thì hiệu quả kinh tế - xã hội sẽ không ngừng được nâng lên cả về
chất và lượng, còn nếu một nguồn nhân lực kém chất lượng thì sẽ làm cho nền
kinh tế phát triển chậm hoặc thậm chí kém phát triển và tụt hậu.
Được xác định là một điều kiện không thể thiếu trong bất kỳ một hoạt
động nào trong phát triển kinh tế - xã hội, nguồn nhân lực luôn đóng vai trò
cực kỳ quan trọng đối với sự tồn vong của mỗi quốc gia.
1.1.4 Các chức năng của quản lý nguồn nhân lực
Các hoạt động liên quan đến quản lý nguồn nhân lực rất đa dạng và thay
đổi trong các tổ chức khác nhau. Tuy nhiên, có thể phân chia các hoạt động
chủ yếu của quản lý nguồn nhân lực theo 3 chức năng sau:
* Nhóm chức năng thu hút nguồn nhân lực:
Nhóm chức năng này chú trọng vấn đề đảm bảo số lượng nhân viên với
các phẩm chất phù hợp cho công việc của doanh nghiệp. Để có thể tuyển đúng
người vào đúng việc; trước hết, doanh nghiệp phải căn cứ vào kế hoạch sản
xuất kinh doanh và thực trạng sử dụng nhân viên trong doanh nghiệp nhằm
xác định được những công việc nào cần tuyển thêm người.
Thực hiện phân tích công việc sẽ giúp cho doanh nghiệp biết cần tuyển
thêm bao nhiêu nhân viên và yêu cầu tiêu chuẩn đặt ra đối với các ứng cử viên
như thế nào là phù hợp? Do đó, nhóm chức năng tuyển dụng thường có các
hoạt động: dự báo và hoạch định nguồn nhân lực, phân tích công việc phỏng
vấn, trắc nghiệm, thu thập, lưu trữ và xử lý các thông tin về nguồn nhân lực
của doanh nghiệp.
tìm nguồn cung lao động kịp thời cho hoạt động sản xuất – kinh doanh của
doanh nghiệp.
1.1.4.2 Đào tạo và phát triển nhân lực
Đào tạo là quá trình học hỏi nhằm nâng cao kiến thức kỹ năng, thái độ và
hành vi làm việc của nhân viên. Điều đó, có nghĩa là đào tạo sẽ làm thay đổi
những hiểu biết, cách thức làm việc và thái độ của người lao động đối với
công việc; đào tạo là định hướng vào hiện tại, chú trọng vào công việc hiện
thời của cá nhân, giúp họ có ngay các kỹ năng và khả năng đặc biệt cần thiết
để thực hiện tốt các công việc hiện tại.
Trong quá trình đào tạo, mỗi người sẽ được bù đắp những thiếu hụt trong
học vấn, được cập nhật hóa kiến thức và mở rộng tầm hiểu biết để không
những hoàn thành tốt những công việc được giao mà còn có thể đương đầu
với những biến đổi của môi trường xung quanh có ảnh hưởng tích cực tới việc
làm của người lao động.
Các phương pháp đào tạo phổ biến hiện nay là:
* Đào tạo tại nơi làm việc :
- Kèm cặp, hướng dẫn tại chỗ.
- Luân phiên thay đổi công việc.
12
* Đào tạo ngoài nơi làm việc
- Phương pháp nghiên cứu tình huống.
- Đào tạo học nghề.
- Phương pháp xử dụng dụng cụ mô phỏng.
- Đào tạo xa nơi làm việc.
- Phương pháp hội thảo.
- Chương trình liên hệ với các trường đại học.
- Phương pháp huấn luyện theo dõi mô hình mẫu.
1.1.4.3 Trả tiền công cho lao động
Tiền lương là giá cả sức lao động và người lao động phù hợp với quan hệ
cung cầu sức lao động trong nền kinh tế thị trường. Trả tiền công cho lao động
nguời lao động trung thành và gắn bó với doanh nghiệp v.v. Phúc lợi doanh
nghiệp gồm có: Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, hưu trí, nghỉ phép, trợ cấp
của doanh nghiệp cho người lao động có hoàn cảnh khó khăn v.v.
1.2 Phát triển nguồn nhân lực trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế
Toàn cầu hóa kinh tế có những tác động hết sức sâu sắc tới đời sống kinh
tế - chính trị - xã hội của từng nước cũng như các mối quan hệ quốc tế. Tuy
nhiên, sự đánh giá tác động này là rất khác nhau giữa các nước, nhóm nước và
các nhóm xã hội trong mỗi nước, chủ yếu tùy thuộc vào nhận thức và lợi ích
mà họ đã hưởng hoặc mất đi trong quá trình này. Có thể đề cập tới một vài tác
động của quá trình toàn cầu hóa kinh tế trong lĩnh vực lao động, việc làm, thu
nhập và ổn định xã hội như sau:
1.2.1 Toàn cầu hóa kinh tế với vấn đề việc làm và thất nghiệp
Có những quan điểm khác nhau về tác động của toàn cầu hóa kinh tế đối
với vấn đề việc làm.
Những người phản đối toàn cầu hóa lo ngại rằng toàn cầu hóa sẽ làm tăng
nguy cơ thất nghiệp, thậm chí có ý kiến cho rằng toàn cầu hóa là nguyên nhân
chính gây ra tình trạng thất nghiệp gia tăng trong một nước. Những người theo
quan điểm này lập luận rằng:
Thứ nhất, sự cạnh tranh khốc liệt trong quá trình toàn cầu hóa làm cho
hàng loạt doanh nghiệp gặp khó khăn phải thu hẹp sản xuất, chuyển đổi kinh
doanh hoặc phá sản và ngừng sản xuất, khiến cho nhiều người mất việc làm.
Thứ hai, cùng với sự phát triển của toàn cầu hóa, sự gia tăng các luồng di
chuyển nhân công giữa các nước càng làm cho những người lao động kém
thuận lợi (kém năng lực, ít được đào tạo hoặc không có điều kiện để tiếp cận
sự đào tạo), đứng trước nguy cơ bị mất việc cho những người có khả năng
cạnh tranh cao hơn và ngày càng khó khăn để kiến được những việc làm mới.
Thứ ba, tự do hóa thương mại và đầu tư tạo điều kiện làm gia tăng các
luồng đầu tư ra nước ngoài và như vậy làm cho những người lao động trong
nước mất bớt cơ hội có việc làm. Nhiều người lao động ở các nước phát triển
tham gia biểu tình chống toàn cầu hóa chia sẻ quan điểm quan điểm này.
Thứ nhất, toàn cầu hóa thúc đầy sự di chuyển nhanh của tư bản, công
nghệ, tri thức, kinh doanh v.v, nhưng lao động thì lại di chuyển rất ít (luồng
đầu tư trực tiếp trên thế giới vào năm 2006 đã tăng gấp 4,5 lần so với dòng
chảy trung bình hàng năm trong giai đoạn 2001- 2005, trong khi số người di
cư từ nước này sang nước khác vào thời điểm này cũng chỉ tăng trung bình
2% mỗi năm và mới chỉ chiếm 2,3% dân số thế giới).
Như vậy, lao động hầu như có xu hướng cố định tại một nước, trong khi
các yếu tố sản xuất khác thì di chuyển nhanh với tốc độ ngày càng cao. Với sự
phát triển của khoa học – kỹ thuật, ngày càng ra đời nhiều sản phẩm - công
nghệ mới rút ngắn chu kỳ sản xuất và tiêu thụ hàng hóa, do đó các cơ sở sản
xuất cũng di chuyển nhanh từ nước này sang nước khác. Điều này, cũng có
nghĩa là lợi thế so sánh của một quốc gia luôn bị đặt trong trạng thái bất ổn
định.
Thứ hai, thời đại toàn cầu hóa đi liền với sự phát triển của công nghệ
thông tin và kinh tế tri thức, làm cho thị trường lao động thay đổi lớn về chất,
trong đó ngày càng thiếu hụt lao động có trình độ cao về công nghệ thông tin
và tri thức nói chung, trong khi lao động giản đơn, lao động không được tiếp
cận với công nghệ thông tin thì ngày càng dự thừa. Tư liệu của World Bank
(WB) cho thấy chênh lệch tiền lương của giới lao động lành nghề và lao động
không lành nghề tại một số nước trên thế giới từ cuối thập niên 1980 đến nay
đã có những khoảng cách đáng kể.
Vấn đề cần quan tâm đó là khả năng thích ứng của lao động trong thời
đại toàn cầu hóa, các mạng lưới an sinh xã hội; các cơ hội về giáo dục và đào
15
tạo có tầm quan trọng then chốt trong việc thực hiện mục tiêu này. Giáo dục,
đào tạo và đào tạo lại có tác dụng nâng cao khả năng đối phó với sự thay đổi
của các cá nhân.
1.2.3 Tác động của Hội nhập kinh tế quốc tế với phát triển nguồn
nhân lực ở Việt Nam
Hội nhập tích cực vào nền kinh tế quốc tế là một xu thế tất yếu mà bất kỳ
trong bối cảnh toàn cầu hóa.
Thứ tư, việc sử dụng tiếng Anh trong giáo dục và đào tạo là một yêu cầu
thực tế mà các quốc gia phải hướng tới trong thời đại toàn cầu hóa
Tiếng Anh là ngôn ngữ toàn cầu, thứ tiếng của doanh nghiệp, của chính
trị, của ngoại giao, là tiếng “mẹ đẻ” của ngôn ngữ máy tính và Internet. Sự
phổ biến của tiếng Anh là sự thật không thể phủ nhận; hiện nay, có khoảng
16
200 triệu người đang sử dụng tiếng Anh như ngôn ngữ thứ nhất, 2/3 dân số thế
giới dùng như ngôn ngữ thứ hai và 1/6 dân số thế giới đang học tiếng Anh.
Theo dự báo thì có khoảng ½ dân số thế giới sẽ ít nhiều thông thạo tiếng Anh
vào trước năm 2050. Muốn hội nhập kinh tế thế giới, tham gia vào quá trình
toàn cầu hóa thì phải biết sử dụng tiếng Anh; dĩ nhiên, việc phổ biến tiếng
Anh trong giáo dục và đào tạo ở các quốc gia không có nghĩa là làm suy giảm
vị thế của tiếng mẹ đẻ. Các hiệu quả để chống lại sự lạm dụng tiếng Anh là cổ
súy cho việc sử dụng tiếng mẹ đẻ. Nhưng ngăn chặn tiếng Anh là điều không
bao giờ làm được trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế và dưới tác động của cuộc cách
mạnh khoa học – công nghệ, nhu cầu và khả năng thực hiện sự hợp tác quốc tế
về phát triển và sử dụng nguồn nhân lực ngày càng trở nên tất yếu và rõ nét.
Nhiều nước coi đây là con đường cơ bản để rút ngắn khoảng cách chênh lệch
về trình độ phát triển với khu vực và thế giới. Việc cử cán bộ, chuyên gia, học
sinh …ra nước ngoài học tập, công tác được nhiều nước quan tâm và trở thành
phương thức chủ yếu để phát triển nguồn nhân lực ở mỗi nước.
Việc sử dụng lao động cũng ngày càng mang tính quốc tế hóa rộng rãi.
Xu hướng đầu tư trực tiếp ngày càng gia tăng và sự di chuyển ồ ạt các nguồn
lực sản xuất giữa các nước làm cho quy mô của lao động tổng thể được sử
dụng vượt ra khỏi phạm vi quốc gia, lãnh thổ. Trên thực tế, sự di chuyển
nguồn nhân lực giữa các nước hiện đã trở thành hiện tượng phổ biến trong đời
sống kinh tế - xã hội quốc tế.
Giáo dục và Đào tạo, cùng với khoa học công nghệ phải thực sự là quốc
đổi mới căn bản toàn diện với những chương trình, kỹ năng đổi mới để đáp
ứng yêu cầu phát triển khoa học – công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hóa –
hiện đại hóa.
* Nhu cầu và cơ cấu nguồn nhân lực Việt Nam ngày càng tăng về số
lượng và chất lượng
Nghiên cứu số liệu trong phụ lục số 1 cho ta thấy, để chuẩn bị lực lượng
lao động cho xã hội, mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay
tập trung vào việc đào tạo hướng nghiệp cho học sinh một cách thiết thực để
có kỹ năng lao động cao. Tỷ lệ học sinh được hướng nghiệp cần phải tăng
thêm từ khoảng 10% hiện nay lên 20% vào năm 2010 và 30% vào năm 2020.
Lao động có tay nghề cần được đào tạo theo hình thức khác nhau, phấn
đấu để chứng chỉ nghề của Việt Nam được thế giới mà trước hết là Hiệp hội
các nước Đông Nam Á công nhận.
1.3. Kinh nghiệm của một số nước về phát triển nguồn nhân lực
trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá
1.3.1 Kinh nghiệm ở một số nước trên thế giới
Ở những nước tiên tiến, họ xác định đầu tư cho giáo dục và đào tạo là
đầu tư phát triển; cho nên, chính sách nguồn nhân lực luôn là một trong
những bộ phận cấu thành chủ chốt trong hầu hết các chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội của các nước trên thế giới.
Nhật Bản coi nguồn nhân lực là yếu tố quyết định tương lai của đất
nước; cho nên, từ đầu thập niên 1980, Nhật Bản đã đề ra mục tiêu: đào tạo
những thế hệ mới có tính năng động, sáng tạo có kiến thức chuyên môn sâu,
có khả năng suy nghĩ và làm việc độc lập, khả năng giao tiếp quốc tế để đáp
ứng những đòi hỏi của thế giới, với sự tiến bộ không ngừng của khoa học và
xu thế cạnh tranh - hợp tác toàn cầu. Qua nghiên cứu trong phụ lục số 2 thì từ
năm 1995 – 2002, dân số trong độ tuổi từ 15 trở lên thì năm sau tăng hơn năm
trước nhưng lực lượng lao động và tỷ lệ tham gia lao động thì có giảm nhưng
không nhiều, điều này cho thấy mức ổn định về lực lượng lao động đã tạo cho
ổn định về nguồn nhân lực trong xã hội Nhật Bản.
Trung Quốc phải biến dân số hùng mạnh của mình thành một nguồn lực lớn
với nguồn nhân tài phong phú”. Chính phủ Trung Quốc cho rằng chiến lược
chấn hưng đất nước dựa trên phát triển nhân lực phải được coi trọng là một
nhiệm vụ quan trọng và cấp bách hiện nay của Trung Quốc.
Trong những năm đầu thập kỷ XXI, Trung Quốc tiếp tục coi trọng việc
xây dựng đội ngũ cán bộ theo phương châm “4 hoá” ở giai đoạn thứ 3 là
“cách mạng hoá, trẻ hoá, tri thức hóa và chuyên môn hoá (Ba giai đoạn là :
Chuẩn bị, hình thành và chín muồi); đặc biệt, để tăng cường hội nhập quốc tế
sau khi gia nhập WTO, Trung Quốc thực hiện chủ trương bồi dưỡng, giáo dục
nhân tài theo “3 hướng” là : Hướng về hiện đại hoá, hướng ra thế giới, hướng
tới tương lai”. Hướng về hiện đại hoá là nói tới quan hệ giữa giáo dục và phát
triển kinh tế, gắn giáo dục với việc thực hiện các nhiệm vụ chung của cả
nước; hướng ra thế giới là một mối quan hệ giữa giáo dục và thế giới, vừa
tuân theo những đặc trưng của nền giáo dục Trung Quốc, vừa chú ý tới xu thế
phát triển của khoa học kỹ thuật và giáo dục của các nước trên thế giới; hướng
tới tương lai là đề cập đến mối quan hệ giữa giáo dục với tương lai, vừa nhấn
mạnh việc phục vụ sự nghiệp hiện đại hoá, vừa dự kiến nhu cầu phát triển
19
trong tương lai. Mục tiêu “3 hướng” nhằm gắn giáo dục của Trung Quốc với
giáo dục của nước ngoài, giáo dục hiện đại với giáo dục tương lai để bồi
dưỡng nguồn nhân lực tốt hơn cho đất nước.
Chính phủ Thái Lan luôn khẳng định: Nguồn nhân lực có học vấn cao
thực sự là một nhân tố thiết yếu cho sự phát triển đất nước trong giai đoạn
mới. Trên cơ sở đó, mục tiêu đề ra cho tới 2020 là nâng cao tỷ lệ sinh viên tốt
nghiệp đại học so với lứa tuổi ở Thái Lan lên tới 40% (tương đương với tỷ lệ
của Hàn Quốc và Nhật Bản hiện nay); đồng thời, phát triển hệ thống đào tạo
công nhân kỹ thuật nhằm tạo cơ hội học tập cho thế hệ thanh thiếu niên hiện
nay. Thái Lan coi đây là một nhân tố quan trọng nhất để biến mục tiêu đạt
mức GDP/người là 1.200 USD trở thành hiện thực vào năm 2020.
Ngay từ khi mới thành lập, Singapore đã đề ra chính sách phát triển giáo
được cải tiến, đời sống người giáo viên còn nhiều khó khăn v.v, đó là những
20
nguyên nhân làm cho chất lượng giáo dục và đào tạo của nước ta chưa ngang
bằng với các nước tiên tiến.
Phải khẳng định rằng, so với các nước khác trong khu vực và trên thế
giới thì Việt Nam là nước sớm có sự quan tâm tới đào tạo nguồn nhân lực;
trong chiến lược phát triển của mình, Việt Nam luôn coi giáo dục và đào tạo
là quốc sách hàng đầu.
Với thành tựu và sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật
Việt Nam đã xác định cần phải coi giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu,
chọn lọc những tinh hoa của nhân loại, thực hiện đi tắt đón đầu trong phát
triển khoa học và công nghệ; đã tăng dần tỷ trọng nguồn ngân sách đầu tư cho
giáo dục và đào tạo. Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài
không những chỉ là mục tiêu mà đã và đang được đẩy mạnh với quy mô ngày
càng lớn ở khắp các địa phương trong cả nước, đáp ứng ngày càng cao về
nguồn nhân lực tại các khu công nghiệp và phát triển nền kinh tế Việt Nam.
Những điểm tương đồng:
Thứ nhất, Việt Nam và các nước trong khu vực đều có điểm xuất phát
tương đối thấp trong thời kỳ đầu công nghiệp hóa và hội nhập kinh tế quốc tế.
Về cơ cấu kinh tế, cơ cấu dân số và lao động hiện nay của Việt Nam
đang ở vào trình độ của các nước NIEs Đông Á vào đầu 1960 và của các nước
ASEAN cuối những năm 1970 đầu những năm 1980 tức là cơ bản vẫn là một
nước nông nghiệp với hơn 70% dân số sống ở nông thôn và phần đông lực
lượng lao động vẫn làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp. Trong cơ cấu xuất
khẩu hiện nay ở Việt Nam, thành phần chủ yếu vẫn là các loại sản phẩm sơ
chế tương tự như Hàn Quốc và Đài Loan vào đầu những năm 1960. Về trình
độ kỹ thuật – công nghệ, ngoại trừ một số ngành lĩnh vực riêng lẻ được trang
bị công nghệ hiện đại trong những năm gần đây, trình độ kỹ thuật – công nghệ
của Việt Nam nhìn chung còn rất thấp, về cơ bản vẫn phải dựa chủ yếu vào
các ngành sử dụng nhiều lao động có giá trị gia tăng thấp giống như các nền
đầy khó khăn khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển, khiến cho con người
Đông Á luôn khắc ghi một điều là phải vươn lên, phải làm việc cật lực mới có
cơ hội phát triển.
Thuận lợi thứ ba là, các nước trong khu vực thời kỳ đầu công nghiệp hóa
và Việt nam hiện nay đều có cơ cấu dân số tương đối trẻ. Điều này tạo thuận
lợi cho quá trình học tập và đào tạo, tiếp thu kiến thức một cách năng động
sáng tạo, sớm đưa đất nước hòa nhập vào quỹ đạo phát triển của nền kinh tế
hiện đại.
Những khác biệt:
Những khác biệt trong bối cảnh phát triển nguồn nhân lực giữa Việt Nam
hiện nay với các nước Đông Á trong thời kỳ đầu công nghiệp hóa, bao gồm:
Thứ nhất, áp lực và thách thức đối với phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam
hiện nay là cao hơn; thứ hai, Việt Nam hiện nay có nhiều thuận lợi hơn trong
việc phát triển nguồn nhân lực; thứ ba, việc đáp ứng nguồn nhân lực cho quá
trình phát triển ở Việt Nam hiện nay cũng phức tạp hơn.
Áp lực và thách thức lớn hơn đối với việc phát triển nguồn nhân lực ở
Việt Nam hiện nay xuất phát từ nhiều nguyên nhân: thứ nhất, Việt Nam có
phần tụt hậu hơn so với một số nước trong khu vực; thứ hai, toàn thế giới đã
sự nhận thức về phát triển nguồn nhân lực đã cao hơn trước; thứ ba, do nền
công nghệ và tri thức trên thế giới hiện nay đã cao hơn nhiều so với cách đây
hơn ba thập kỷ.
Sự tụt hậu xa hơn so với các nước trong khu vực là một áp lực rất lớn
đối với Việt Nam; do vậy, Việt Nam cần phải có một chiến lược phát triển
tăng tốc trong thế kỷ XXI. Hiện nay, nhiều nước trong khu vực và trên thế
giới đang tập trung ưu tiên cho chiến lược này nên đã gây ra những khó khăn
rất lớn trong cạnh tranh để phát triển và sử dụng nguồn nhân lực. Như vậy,
yêu cầu phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay không chỉ do các yếu
tố chủ quan bên trong như đói nghèo, kém phát triển ....mà còn do áp lực từ
bên ngoài của trào lưu phát triển nguồn nhân lực nói chung trên thế giới.
22
Ở Việt Nam, điều kiện thuận lợi là dân số đông, nguồn lao động dồi dào,
khả năng cung cấp nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội là rất lớn;
đất nước đang trong thời kỳ hội nhập, đang thực hiện sự nghiệp công nghiệp
hoá và hiện đại hoá thì nhu cầu nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực
chất lượng cao nói riêng là bài toán cần có lời giải không những đối với việc
hoạch định chiến lược của Nhà nước mà chính mỗi doanh nghiệp cũng phải tự
xây dựng cho mình một chiến lược với những chính sách phù hợp để không
những thu hút được nhiều lao động có kỹ thuật cao mà còn giữ được lao động
số lao động làm việc lâu dài trong doanh nghiệp của mình.
Do mặt bằng tri thức và công nghệ ngày càng cao thì chất lượng nguồn
nhân lực cũng phải cao hơn so với trước đây để vận hành máy móc, công nghệ
tiên tiến; bảo đảm cho hàng hoá tinh xảo hơn, chất lượng tốt hơn và giá cả
23
cũng rẻ hơn. Đây là, sự đòi hỏi khách quan mà mỗi quốc gia, mỗi địa phương,
mỗi doanh nghiệp cần chú trọng để bảo đảm sự ổn định và phát triển không
ngừng trong cơ chế thị trường; cho nên, giáo dục và đào tạo cần được quan
tâm và đầu tư hơn nữa để đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực có chất lượng
cao, đáp ứng sự đòi hỏi khách quan trong Hội nhập kinh tế Quốc tế.
24
Chương 2
THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO VÀ SỬ DỤNG NGUỒN NHÂN LỰC
Ở CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TỈNH NINH THUẬN
TRONG THỜI GIAN QUA
2.1 Giới thiệu khái quát về Ninh Thuận
2.1.1 Điều kiện tự nhiên và điều kiện xã hội
Về điều kiện tự nhiên:
Tỉnh Ninh Thuận thuộc khu vực Đông Nam Bộ, diện tích tự nhiên
3.360km
2
, có 6 đơn vị hành chính gồm một thành phố và 5 huyện; thành phố
nghiệp được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn nhằm đẩy nhanh tốc độ phát
25