Ứng dụng công cụ phái sinh trên thị trường tiền tệ việt nam thực trạng và giải pháp - Pdf 26

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
… … …& … … …
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP:
ỨNG DỤNG CÔNG CỤ PHÁI SINH TRÊN
THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ VIỆT NAM
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
TP. Hồ Chí Minh
04/2011
1
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
***
1. Lý do chọn đề tài
Trong thời gian qua, cùng với sự phát triển không ngừng của thị trường tài
chính Thế Giới, là sự lớn mạnh của thị trường các sản phẩm phái sinh. Đối với
thị trường tài chính Việt Nam, khi mà sự hội nhập kinh tế ngày càng mở rộng,
thì hoạt động của Ngân hàng nhà nước, ngân hàng thương mại, các tổ chức tín
dụng, các công ty càng bị thách thức nhiều hơn bởi những rủi ro về tỷ giá, lãi
suất, giá cả hàng hóa.
Năm 2009 là năm phát triển mạnh của các sản phẩm phái sinh. Nhưng
chính những sản phẩm phái sinh là nguyên nhân đã làm cho nền kinh tế Mỹ rời
vào tình trạng khủng hoảng. Sự ảnh hưởng lan rộng đến toàn Thế Giới. Và nền
kinh tế Việt Nam cũng không tránh khỏi sự ảnh hưởng.
Đứng trước tình hình biến động mạnh của lãi suất, tỷ giá, giá cả hàng hoá
sau cuộc khủng hoảng tài chính Thế Giới, thì chính những sản phái sinh sẽ giúp
các chủ thể tham gia nền kinh tế phòng ngừa được rủi ro này. Những sản phẩm
phái sinh này là gì? Tại sao sản phẩm này lại là “ con dao hai lưỡi” của thị
trường tiền tệ? Sự ứng dụng các công cụ này trên thị trường tiền tệ Việt Nam?
Sản phẩm có phải là một công cụ phòng ngừa hiệu quả, hay là sản phẩm cho sự
4
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
đầu cơ? xuất phát từ thực trạng đó, em chọn nghiên cứu đề tài:
“ Ứng dụng công cụ phái sinh trên thị trường tiền tệ Việt Nam
Thực trạng và giải pháp ”
5
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
2. Nội dung nghiên cứu của đề tài:
Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề cơ bản sau:
- Hệ thống toàn bộ lý thuyết cơ bản về công cụ phái sinh và thị trường tiền tệ.
- Tìm hiểu, đánh giá thực trạng ứng dụng các công cụ phái sinh trên thị trường
tiền tệ Việt Nam.
- Từ những kết quả đánh giá thực trạng ứng dụng các công cụ phái sinh trên thị

không được tiến hành định giá lại, do đó, không đặt ra yêu cầu phải bổ sung
khoản ký quỹ. Chính vì vậy, rủi ro không có khả năng chi trả của hợp đồng có
hai chiều.
• Thứ hai, giá trị của hợp đồng kỳ hạn chỉ được giao nhận vào ngày
đáo hạn của hợp đồng, không có khoản chi trả nào được thực hiện vào ngày ký
kết hợp hoặc trong thời hạn của hợp đồng.
1.1.1.2 Hợp đồng tương lai (Futures)
 Khái niệm :
Hợp đồng tương lai là hợp đồng giữa hai bên người bán - người mua để
bán hoặc mua tài sản vào một ngày trong tương lai với giá trị đã thỏa thuận
ngày hôm nay. Các hợp đồng được giao dịch trên sàn giao dịch giao sau và
chịu quá trình thanh toán hằng ngày.
Người mua hợp đồng tương lai, là người có nghĩa vụ mua hàng hóa vào
một ngày trong tương lai, có thể bán hợp đồng trên thị trường giao sau.
Ngược lại, người bán hợp đồng tương lai là người có nghĩa vụ bán hàng
hóa vào một ngày trong tương lai, có thể mua lại hợp đồng trên thị trường giao
sau. Điều này đã làm cho họ thoát khỏi nghĩa vụ bán hàng hóa.
Đối với hợp đồng tương lai, việc thanh toán các khoản lãi lỗ vào ngày
cuối ngày giống như việc tất toán hợp đồng kỳ hạn cũ có thời hạn là (t+1) để ký
8
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
hợp đồng kỳ hạn mới có thời hạn là (t) và có cùng ngày giá trị với hợp đồng kỳ
hạn cũ.
Người mua hợp đồng tương lai có quyền chuyển nhượng hợp đồng tại
bất kỳ thời điểm nào trong thời hạn hiệu lực của hợp đồng.
 Đặc điểm hợp đồng tương lai :
Hợp đồng tương lai điều chỉnh theo giá thị trường, do hợp đồng đều
được công ty thanh toán bù trừ của sở giao dịch đảm bảo, do đó, rủi ro mất khả
năng thanh toán giảm.
Hợp đồng tương lai yêu cầu tất cả các thành viên tham gia thị trường

- Quyền chọn kiểu Mỹ: cho phép thực hiện giao dịch vào những
ngày làm việc trong thời gian hiệu lực của hợp đồng.
- Quyền chọn kiểu Châu Âu: chỉ cho phép thực hiện giao dịch tại
thời điểm hợp đồng đến hạn.
1.1.1.4 Hợp đồng hoán đổi (Swaps)
 Khái niệm:
Giao dịch hoán đổi là giao dịch bao gồm đồng thời hai giao dịch, trong
đó cả hai bên đồng ý thanh toán cho bên còn lại một chuỗi các dòng tiền trong
một khoản thời gian xác định. Một cách đơn giản, swap được hiểu là một sự
phối hợp giữa mua bán giao ngay với mua bán có kỳ hạn là cam kết song
phương thực hiện việc mua bán ngoại tệ trả ngay và sẽ hoàn trả vốn theo một
kỳ hạn được xác định
 Đặc điểm của hợp đồng swap:
Swap có lợi cho cả hai bên tham gia thỏa mãn về nhu cầu về ngoại tệ để
kinh doanh mà không cần phải đi vay trên thị trường tiền tệ. Đồng thời, do tính
hoán đổi nên rủi ro trong nghiệp vụ này sẽ bị triệt tiêu.
Có bốn loại hoán đổi: hoán đổi tiền tệ, hoán đổi lãi suất, hoán đổi chứng
khoán, hoán đổi hàng hóa.
Hợp đồng swap không thể mua bán trao đổi như là các loại chứng khoán
hay hợp đồng tương lai, mà chúng thực sự là những hợp đồng ca biệt giữa hai
10
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
bên xác định. Do đó, cách duy nhất đề thoát khỏi hợp đồng này là bằng cách
thỏa thuận song phương với phía đối tác để huỷ hợp đồng, hoặc bằng cách
chuyển nhượng nó cho bên thứ ba với điều kiện có sự đồng ý của phía đối tác.
Hoán đổi lãi suất là công cụ được sử dụng một cách rộng rãi bởi các
doanh nghiệp để phòng ngừa rủi ro lãi suất trong thập niên 80 và 90.
1.1.2 Chức năng kinh tế của các công cụ phái sinh
1.1.2.1 Quản trị rủi ro
Trong môi trường tài chính đầy bất ổn, mặc dù những tổn thất, những

Giá của hợp đồng giao sau và kỳ hạn cũng chứa đựng những thông tin về
những gì mà người ta mong đợi về giá giao ngay trong tương lai. Nhưng trong
hầu hết các trường hợp, thị trường giao sau sôi động hơn, thông tin về giá trên
thị trường này đáng tin cậy hơn. Mặc dù là không nhất thiết là phải coi giá giao
sau hoặc là giá kỳ hạn là giá giao ngay trong tương lai, giá giao sau và giá kỳ
hạn phản ánh một mức giá mà người tham gia trên thị trường có thể chốt ngay
ngày hôm nay thay vì chấp nhận những bất ổn của giá giao ngay trong tương
lai.
Do đó, thị trường giao sau và kỳ hạn cung cấp những thông tin hiệu quả
để hình thành giá. Thị trường quyền chọn không cung cấp những dự báo về giá
giao ngay trong tương lai một cách trực tiếp. Tuy nhiên, chúng cũng cung cấp
những thông tin quý giá về độ bất ổn, và cũng là rủi ro của tài sản giao ngay cơ
sở.
1.1.2.3 Các lợi thế về hoạt động
Các thị trường sản phẩm phái sính cung cấp nhiều lợi thế về hoạt động.
• Thứ nhất, chúng có chi phí giao dịch thấp hơn. Điều này có nghĩa là
hoa hồng và các chi phí giao dịch khác đối với người tham gia giao dịch là thấp
nhất. Điều này làm cho việc sử dụng các giao dịch trên thị trường này thay thế
hoặc bổ sung cho các giao dịch trên thị trường giao ngay trở nên dễ dàng và
hấp dẫn hơn.
12
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
• Thứ hai, thị trường các sản phẩm phái sinh, đặc biệt là sản phẩm
giao dịch giao sau và quyền chọn, có tính thanh khoản cao hơn so với thị
trường giao ngay. Mặc dù là thị trường giao ngay có tính thanh khoản rất cao
đối với các chứng khoán của các công ty lớn, nhưng chúng không thể hấp thụ
các giao dịch có giá trị lớn mà không gây ra các biến động giá đáng kể. Tính
thanh khoản cao hơn là do mức vốn yêu cầu để tham gia vào thị trường các sản
phẩm phái sinh là thấp hơn. Tỷ suất sinh lời và rủi ro có thể được điều chỉnh ở
bất kỳ mức độ nào như mong muốn, nhưng tốt nhất nên chính thị trường này có

• Nếu xét theo chiều dọc, thị trường tiền tệ biểu hiện quan hệ giữa
ngân hàng trung ương và ngân hàng thương mại qua con đường tái chiết khấu.
Trong đó, lãi suất tái chiết khấu đã trở thành công cụ linh hoạt để ngân hàng
trung ương điều tiết vĩ mô nền kinh tế trong quá trình thực thi chính sách tiền
tệ.
Ngày nay, quy mô hoạt động của thị trường tiền tệ được mở rộng về phạm
vi điều tiết vốn, theo các chủ thể tham gia trên thị trường tiền tệ cũng như
phong phú hơn và các nghiệp vụ hoạt động cũng đa dạng hơn.
1.2.1.2 Phân loại
 Phân loại thị trường tiền tệ được dựa trên một số tiêu thức sau
Nếu căn cứ vào cơ cấu tổ chức, thị trường tiền tệ bao gồm:
• Thị trường tiền tệ cũ: đây chính là thị trường tiền tệ cổ điển, là thị
trường vay vốn ngắn hạn giữa các tổ chức tín dụng đặt dưới sự quản lý của
ngân hàng trung ương. Hằng ngày, tại đây hình thành lãi suất chỉ đạo thị trường
tiền tệ mà thế giới đều biết đến thông qua những cái tên gọi như: LIBOR,
PIBOR
• Thị trường tiền tệ mới: đây là thị trường các loại trái phiếu ngắn hạn
mà cơ cấu gồm hai cấp:
- Thị trường tiền tệ sơ cấp chuyên phát hành các loại trái phiếu
ngắn hạn.
14
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
- Thị trường tiền tệ thứ cấp tổ chức mua bán các trái phiếu đã phát
hành ở thị trường sơ cấp.
- Hoạt động của thị trường mở: là thị trường mua bán các loại
chứng khoán nhà nước ngắn hạn như: tín phiếu kho bạc, công
khố phiếu nhằm điều tiết cung- cầu tiền tệ.
 Nếu căn cứ vào đối tượng tham gia trên thị trường tiền tệ bao gồm:
• Thị trường tín dụng ngắn hạn giữa các ngân hàng thương mại dưới
sự điều hành của ngân hàng trung ương nhằm mục đích điều tiết vốn trong hệ

thời. Từ đó, để góp phần đảm bảo khả năng thanh toán quan hệ điều tiết vốn
giữa các ngân hàng thương mại phát sinh, chúng được thực hiện thông qua hình
thức sau:
• Cho vay bằng tiền: căn cứ vào nhu cầu vốn và tạm thời trên thị
trường tiền tệ có thể gặp các loại tín dụng như tín dụng hàng ngày; tín dụng
theo yêu cầu, tín dụng có kỳ hạn.
• Cho vay dưới hình thức cầm cố tài sản và chiết khấu chứng từ có
giá: trong trường hợp cần thiết ngân hàng thương mại có thể vay vốn tại ngân
hàng thương mại khác nhưng không đủ thỏa mãn có thể vay vốn tại ngân hàng
trung ương qua các nghiệp vụ tái chiết khấu và bảo chứng từ.
1.2.3.2 Nghiệp vụ mua bán chứng từ có giá ngắn hạn
• Công cụ lưu thông chủ yếu là các trái phiếu ngắn hạn được phát
hành từ thị trường tiền tệ sơ cấp và sẽ được tổ chức mua bán tại thị trường tiền
tệ thứ cấp.
• Đây là nghiệp vụ mang tính thương mại trên thị trường tiền tệ, một
số chủ thể cần bổ sung vốn bằng tiền của mình nên phát hành một số trái phiếu
ngắn hạn ra thị trường, một số chủ thế khác muốn sinh lời trên số vốn nhàn rỗi
của mình thì mua lượng trái phiếu ngắn hạn này.
• Ngoài ra, người ta còn mua bán các loại chứng từ có giá khác như
kỳ phiếu thương mại, khế ước nợ, kỳ phiếu ngân hàng, các loại thư tín dụng…
16
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
• Nghiệp vụ trên thị trường mở đã trực tiếp tác động đến khả năng
cung ứng tín dụng của các ngân hàng thương mại làm ảnh hưởng đến khối tiền
tệ trong nền kinh tế. Do đó, nghiệp vụ này được xem là như một trong những
công cụ quan trọng để ngân hàng trung ương điều tiết cung- cầu về tiền tệ.
1.3 Sự phát triển công cụ phái sinh trên thế giới
1.3.1 Lịch sử ra đời và sự phát triển của các công cụ phái sinh
1.3.1.1. Lịch sử hình thành
Thế giới ngày càng trở nên bất ổn hơn, những bất ổn trong giá cả hàng hóa

phải phát triển các cách kết hợp những khối cấu trúc thị trường lại với nhau và
cung cấp những dạng phức tạp hơn từ các công cụ cơ bản.
1.3.1.2 Sự phát triển của công cụ phái sinh trên thế giới
Kể từ những năm 80 của thế kỉ 20, các giao dịch tài chính phái sinh đã
được sử dụng ngày càng rộng rãi ở nhiều quốc gia, đặc biệt là những nước có
nền kinh tế phát triển. Tuy nhiên, ý thức phòng ngừa rủi ro tỷ giá thông qua các
công cụ phái sinh tiền tệ của các NHTM cũng như các chủ thể khác trong nền
kinh tế vẫn còn rất hạn chế (Mallin, Ow-Young and Reynolds, 2003). Nhận
định này được thể hiện khá rõ nét nếu chúng ta so sánh tỷ trọng của giao dịch
phái sinh tiền tệ với tổng các giao dịch tài chính phái sinh khác (xem sơ đồ 1).
Theo số liệu về doanh số của các công cụ tài chính phái sinh toàn cầu tháng
6/2009, các giao dịch phái sinh tiền tệ chỉ chiếm một tỷ lệ khá khiêm tốn
khoảng 9% so với 68% của giao dịch phái sinh lãi suất và 23% của giao dịch
phái sinh trên chỉ số chứng khoán.
Sơ đồ 1:
Tỷ trọng giao dịch phái sinh tiền tệ so với các
giao dịch phái sinh khác trên OTC.
18
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Nguồn: BIS Quaterly Review, March, 2010.
Tuy vậy, một thực tế không thể phủ nhận rằng, bên cạnh mục đích phòng
ngừa rủi ro về tỷ giá, các giao dịch phái sinh tiền tệ ngày càng được sử dụng
với mục đích đầu cơ nhằm tìm kiếm lợi nhuận khổng lồ, đặc biệt là hợp đồng
tiền tệ tương lai và quyền chọn. Chính vì lẽ đó mà doanh số của các giao dịch
này đã có sự gia tăng đáng kể qua các năm. Chúng ta có thể thấy điều đó qua
Sơ đồ 2 và Sơ đồ 3.
Sơ đồ 2:
Doanh thu giao dịch phái sinh của các công cụ phái sinh- tình hình
của sàn giao dịch toàn cầu 2002- 2009
Nguồn: BIS Quaterly Review, March, 2010

phòng ngừa lại rẻ hơn nhiều so với các giao dịch phái sinh khác.
1.3.2 Bài học từ sự phát triển các công cụ phái sinh của Mỹ
Kể từ thập niên 1980, thị trường tài chính Mỹ và thế giới đã nhanh chóng
phát triển các công cụ chứng khoán phái sinh và mở rộng hoạt động chứng
khoán hóa các khoản nợ và đầu tư. Chứng khoán phái sinh và chứng khoán hóa
giúp tăng nguồn tài chính và phân tán rủi ro. Nhưng đồng thời chính sản phẩm
phái sinh này đã dẫn đến việc giá cả của trái phiếu và cổ phiếu ngày càng xa rời
giá trị đích thực của tài sản bảo đảm.
Các loại trái phiếu này được mệnh danh là “Mortgage backed securities –
MBS”, một sản phẩm tài chính phái sinh được bảo đảm bằng những hợp đồng
cho vay bất động sản có thế chấp. Các tổ chức giám định hệ số tín nhiệm
(Credit rating agencies) đánh giá cao loại sản phẩm phái sinh này. Và nó được
các ngân hàng, công ty bảo hiểm, quỹ đầu tư, quỹ hưu trí trên toàn thế giới mua
mà không biết rằng các hợp đồng cho vay bất động sản dùng để bảo đảm là
không đủ tiêu chuẩn.
Tại Mỹ không một cơ quan nhà nước, đơn vị kiểm toán hay phân tích tín
dụng và tài chính có đủ thông tin và khả năng nhìn xuyên qua lớp các thao tác
chứng khoán để có thể đánh giá chính xác giá trị và độ rủi ro của các khoản đầu
tư và tài sản nằm trên sổ sách của các công ty tài chính và ngân hàng.
Ngoài ra, những nới lỏng của pháp luật bắt đầu từ thập niên 1980, chẳng
hạn như việc hủy bỏ đạo luật Glass-Steagal vốn tách biệt ngân hàng thương
mại chuyên thực hiện những hoạt động cho vay an toàn với ngân hàng đầu tư
chuyên thực hiện những nghiệp vụ đầu tư rủi ro cao, đã góp phần khuyến khích
những hoạt động đầu cơ và tạo điều kiện cho xung đột lợi ích phát triển. Chính
21
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
môi trường thiếu minh bạch và thiếu giám sát đã thổi bùng lên bong bóng đầu
cơ bất động sản.
Sự phát triển nhanh chóng của những công cụ phái sinh, những hợp đồng
cho vay thế chấp với những tài sản không đủ tiêu chuẩn, việc mua bán trên

kinh doanh. Đặc biệt, đối với công ty đa quốc gia nếu thu nhập của các công ty
con được chuyển về cho một công ty đa quốc gia mẹ đặt tại Mỹ, khoản thu
nhập này sẽ không có giá trị như cũ nếu như đồng đô la tăng giá so với các
đồng tiền chính. Một công ty nội địa hoạt động trong nước sẽ không chịu tác
động trực tiếp của các dao động tiền tệ này. Một công ty đa quốc gia sẽ bị ảnh
hưởng rất lớn bởi tác động của tỷ giá làm cho công ty rất dễ rơi vào tình trạng
khó khăn.
1.4.2.2 Rủi ro về lãi suất
Rủi ro lãi suất là khả năng thu nhập giảm do chênh lệch lãi suất giảm khi
lãi suất thị trường thay đổi ngoài dự kiến gắn với thay đổi nhiều nhân tố khác
như cấu trúc và kỳ hạn của tài sản và nguồn, quy mô và kỳ hạn của các hợp
đồng kỳ hạn.
 Đối với ngân hàng thương mại, để huy động vốn của doanh nghiệp và
người dân, ngân hàng phải trả lãi. Khi tài trợ thì ngân hàng thu lãi. Nhưng mà
giá cả hàng hoá, lãi suất của các khoản cho vay, tiền gửi và chứng khoán
thường xuyên biến động, có thể làm gia tăng. Lợi nhuận cho ngân hàng và
ngược lại làm tổn thất cho ngân hàng. Điển hình, khi ngân hàng trung ương
tăng lãi suất, nó khiến cho việc vay tiền của ngân hàng thương mại từ ngân
hàng trung ương trở nên đắt hơn. Tuy nhiên, sự gia tăng lãi suất không chỉ
dừng lại ở đó, nó còn tạo nên tác động lan truyền ảnh hưởng đến hầu hết các cá
nhân và doanh nghiệp.
 Đối với khách hàng là cá nhân: Tác động gián tiếp đầu tiên của việc gia
tăng lãi suất chiết khấu, các ngân hàng sẽ tăng lãi suất cho vay đối với khách
hàng. Khách hàng cá nhân bị ảnh hưởng thông qua việc lãi suất tăng đối với thẻ
tín dụng và các khoản vay ngắn hạn khác. Song song đó, các cá nhân cũng có
23
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
thể sẽ hạn chế mức vay nợ xuống, do vậy lúc này người tiêu dùng sẽ có ít tiền
hơn để chi tiêu. Sau cùng, mỗi tháng mọi người đều phải trả tiền cho các hoá
đơn và khi các hoá đơn này trở nên đắt hơn thì khoản thu nhập dự phòng của

cụ phái sinh đã làm cho thị trường tăng tính thanh khoản cho tài sản.
Khi thị trường bất động sản phát triển tốt chủ nhân một bất động sản sẽ
đem bán để kiểm một khoản lời. Vì thế, tài sản đó trở nên rủi ro, không có tính
thanh khoản khi thị trường đi xuống, và sở hữu chủ không có cách gì để vượt
qua khó khăn này. Việc phát triển các công cụ phái sinh cũng tạo cho các chủ
nhà khả năng “bán khống” tài sản. Điều đó có thể khiến cho nhà đất trở nên dễ
mua, bán và được bảo hộ giống như chứng khoán, trái phiếu và một số loại
hàng hóa khác, nhờ đó của cải có thể được bung ra đồng thời các rủi ro mang
tính hệ thống cũng giảm bớt. Giả thiết đó là càng có nhiều công cụ phái sinh,
thị trường nhà đất càng có tính thanh khoản cao và bình ổn hơn. Các nhà môi
giới cho rằng các hợp đồng tương lai sẽ không giúp cho thị trường tiền tệ và thị
trường hàng hóa miễn dịch với các biến động lên hoặc xuống, và còn có thể
khiến các biến động xuống đổ dốc nhanh hơn.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status