1
Bộ Giáo dục và Đào tạo
Trƣờng Đại học Ngoại thƣơng
---------o0o---------
Công trình dự thi Cuộc thi
“Sinh viên nghiên cứu khoa học trƣờng Đại học Ngoại thƣơng 2009”
Tên công trình:
BẤT CÂN XỨNG THÔNG TIN TRÊN
THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Nhóm ngành: XH1a
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
TTCK : Thị trường chứng khoán
Sở GDCK : Sở giao dịch chứng khoán
UBCKNN : Ủy ban Chứng khoán Nhà nước
CTCP : Công ty cổ phần
NĐT : Nhà đầu tư
4
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU ............................................................................................................ 9
CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN VÀ LÝ
THUYẾT BẤT CÂN XỨNG THÔNG TIN TRÊN THỊ TRƢỜNG CHỨNG
KHOÁN .................................................................................................................... 13
I.3.6.1. Phát tín hiệu (Signaling): ......................................................... 27
I.3.6.2. Sàng lọc (Screening): ............................................................... 27
I.3.6.3. Cơ chế giám sát: ....................................................................... 28
CHƢƠNG II: THỰC TRẠNG VỀ BẤT CÂN XỨNG THÔNG TIN TRÊN THỊ
TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM ........................................................... 29
II.1. Sơ lƣợc về TTCK Việt Nam: .......................................................................... 29
II.1.1. Các thành phần tham gia TTCK VN: ....................................................... 30
II.1.2. Bất cân xứng thông tin trên TTCK Việt Nam: ......................................... 31
II.2. Khung pháp lý quy định về việc công bố thông tin đối với các công ty đại
chúng tại Việt Nam .................................................................................................. 32
II.2.1. Những văn bản pháp luật liên quan đến quy định công bố thông tin đối
với các công ty đại chúng tại Việt Nam .............................................................. 32
6
II.2.2. Đánh giá chung về khung pháp lý ............................................................ 35
II.3. Công bố thông tin của các công ty đại chúng: .............................................. 37
II.3.1. Thực trạng công bố thông tin theo quy định: ............................................ 37
II.3.1.1. Thông tin định kỳ: ................................................................... 37
II.3.1.2. Thông tin bất thường: ............................................................. 40
II.3.1.3. Thông tin theo yêu cầu: ........................................................... 40
II.3.1.4. Công bố thông tin về giao dịch của các cổ đông nội bộ ......... 41
II.3.2. Một số những tồn tại khác ........................................................................ 42
II.4. Thực trạng áp dụng các nguyên tắc quản trị công ty ( Corporate
Governance) nhằm tăng cƣờng minh bạch thông tin: ......................................... 43
II.4.1. Khái niệm và những nguyên tắc về quản trị công ty: ............................... 43
II.4.2. Giai đoạn hình thành và phát triển: ........................................................... 44
II.4.3. Thực trạng về chế độ quản trị công ty của các công ty đại chúng Việt
Nam...................................................................................................................... 45
THÔNG TIN VÀ BẢO VỆ NHÀ ĐẦU TƢ TRÊN TTCK VIỆT NAM ............ 62
III.1. Kinh nghiệm hạn chế bất cân xứng thông tin và bảo vệ nhà đầu tƣ của
TTCK Mỹ: ............................................................................................................... 62
III.2. Một số kiến nghị nhằm nâng cao tính minh bạch và hiệu quả thông tin
trên TTCK Việt Nam: ............................................................................................. 67
8
III.2.1. Hoàn thiện khung pháp lý về công bố thông tin. Tăng cường cơ chế giám
sát và xử lý vi phạm công bố thông tin: ............................................................. 67
III.2.1.1. Hoàn thiện khung pháp lý về công bố thông tin: ................... 67
III.2.1.2. Tăng cường cơ chế giám sát:................................................. 68
III.2.1.3. Xử phạt nghiêm khắc các vi phạm về công bố thông tin: ...... 70
III.2.2. Tăng cường nhận thức và tính tự giác minh bạch thông tin của các công
ty đại chúng: ........................................................................................................ 72
III.2.3. Nâng cao chất lượng thông tin trên TTCK: ............................................. 74
III.2.4. Hoàn thiện cơ chế kế toán, kiểm toán: .................................................... 74
III.2.5. Hoàn thiện các nguyên tắc về quản trị công ty (Corporate Governance)
trong các công ty đại chúng nhằm tăng cường minh bạch thông tin: .................. 76
III.2.6. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và kiến thức nhà đầu tư: .............. 78
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 81
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................... 82
phát triển và chưa phát huy được hết vai trò thực thụ là những vấn đề như hệ thống
luật pháp chưa bao quát, chính sách điều hành còn mang tính mệnh lệnh – hành
chính, chất lượng của người điều hành còn yếu…và lý do quan trọng nhất là mức độ
minh bạch thông tin còn thấp.Có ý kiến cho rằng trên một thị trường còn mới như ở
10
Việt Nam, khi mà các nguồn thông tin không bắt buộc hay thông tin thay thế khác
chưa xuất hiện thì người đầu tư chỉ có thể dựa vào thông tin báo cáo tài chính mà
doanh nghiệp niêm yết công bố để xác định chiến lược đầu tư. Tuy nhiên với với
còn nhiều bất cập trong việc cung cấp thông tin của các doanh nghiệp niêm yết sẽ
gây nên tình trạng bất cân xứng về thông tin sẽ dẫn đến việc các nhà đầu tư đưa ra
các quyết định đầu tư không chính xác, gây cung cầu ảo, thị trường bong bóng và
tiềm ẩn nguy cơ sụp đổ thị trường.
Thực tế, các thực trạng về bất cân xứng thông tin trên TTCK Việt Nam hoàn
toàn có thể khắc phục bằng những giải pháp thích hợp. Do đó, nhóm tác giả đã lựa
chọn và nghiên cứu đề tài: “Bất cân xứng thông tin trên Thị trƣờng chứng
khoán Việt Nam – Thực trạng và Giải pháp” với mong muốn góp phần làm
TTCK Việt Nam công khai và minh bạch thông tin hơn. Từ đó, TTCK Việt Nam sẽ
phát triển nhanh chóng và góp phần thúc đẩy nền kinh tế quốc dân nói chung.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu:
Vấn đề bất cân xứng thông tin đã được đề cập đến trong một số nghiên cứu
trước đó cả trên thế giới. Tiêu biểu là các công trình nghiên cứu của G.A.Akerlof
(1970), M.Spence (1973) và J.Stiglitz (1975), đây là những công trình đã đặt nền
móng cho lý thuyết bất cân xứng thông tin (Asymmetric Information) hiện đại. Giải
Nobel Kinh tế 2001 dành cho 3 học giả này đã khẳng định vị trí của lý thuyết bất
cân xứng thông tin trong kinh tế học hiện đại.
Tại Việt Nam, các học giả đã bắt đầu quan tâm đến lý thuyết bất cân xứng thông
tin và đã xuất hiện những đề tài mang tính chất chuyên sâu. Điển hình là Đề tài
Nam, nhóm tác giả đưa ra những giải pháp về phía nhà nước, doanh nghiệp và nhà
đầu tư nhằm góp phần thúc đẩy sự phát triển của TTCK Việt Nam. 12
6.Phương pháp nghiên cứu:
Trên cơ sở của phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đề tài sử
dụng những phương pháp nghiên cứu truyền thống như sau: diễn giải, quy nạp,
phân tích, tổng hợp, so sánh,… để rút ra những những luận cứ logic nhất, từ đó tổng
hợp và luận giải những đối tượng nghiên cứu.
7. Kết quả nghiên cứu dự kiến:
Hệ thống hóa cơ sở lý luận về bất cân xứng thông tin trên TTCK;
Phân tích và luận giải thực trạng bất cân xứng thông tin trên TTCK Việt
Nam;
Đề xuất những giải pháp cụ thể, hiệu quả và có tính ứng dụng cao nhằm hạn
chế bất cân xứng thông tin và thúc đẩy TTCK Việt Nam phát triển.
8. Kết cấu đề tài:
Ngoài phần lời mở đầu và kết luận, đề tài gồm 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận về Thị trường chứng khoán và lý thuyết Bất cân
xứng thông tin trên Thị trường chứng khoán
Chương II: Thực trạng bất cân xứng thông tin trên Thị trường chứng khoán
Việt Nam
Chương III: Một số giải pháp kiến nghị nhằm hạn chế bất cân xứng thông tin
và bảo vệ nhà đầu tư trên Thị trường chứng khoán Việt Nam
kiện nhất định, có thể đổi nó lấy một chứng khoán khác.
1
TS. Đào Lê Minh (chủ biên), Giáo trình Những vấn đề cơ bản về Thị trường Chứng khoán, UBCKNN 2002
14
Chứng khoán phái sinh (Derivatives): là những công cụ tài chính có giá
giao dịch được dựa trên các tài sản khác (được gọi là Tài sản gốc –
Underlying assets). Bốn loại chứng khoán phái sinh cơ bản là Hợp đồng
tương lai (Futures), Hợp đồng kỳ hạn (Forwards), Hợp đồng quyền chọn
(Options) và Hợp đồng hoán đổi (Swaps).
I.1.2. Sơ lƣợc về Thị trƣờng chứng khoán:
Theo TS. Nguyễn Đình Thọ (2008), phó trưởng khoa Tài chính Ngân hàng, ĐH
Ngoại Thương, TTCK là một cơ chế thông qua đó người mua và người bán có thể
tiến hành tìm kiếm, giao dịch, trao đổi và mua bán chứng khoán.
I.1.2.1. Lịch sử hình thành và phát triển của Thị trường chứng khoán:
Lịch sử ra đời của TTCK có thể được coi là bắt đầu từ thế kỷ 12 ở Pháp khi
những nhà môi giới chứng khoán đầu tiên tiến hành giao dịch chứng khoán của
chính phủ.
TTCK phi chính thức hình thành và phát triển ở khắp châu Âu từ thế kỷ XV cho
tới thế kỷ XVII và là tiền đề cho sự ra đời của các Sở GDCK ở Châu Âu. Họat động
môi giới và giao dịch chứng khoán thường được thực hiện tại các quán café mà các
nhà môi giới hẹn gặp mặt nhau.
Năm 1460, Sở GDCK đầu tiên trên thế giới được xây dựng tại Antwerp, Bỉ. Sở
giao dịch này được xây mới lại vào năm 1531 và tồn tại suốt từ thời gian đó tới khi
bị cháy vào năm 1858. Sau vụ cháy, Sở giao dịch Antwerp đã được xây dựng lại với
một kiến trúc hoàn toàn mới và tồn tại từ đó đến nay.
Sau sự ra đời của Sở giao dịch Antwerp, các sở giao dịch khác bắt đầu được
Sở Giao dịch xuyên lục địa đầu tiên ở Châu
Âu hình thành - Euronext
Sở GDCK Amsterdam sáp
nhập với Paris và Brussels
2007
Tập đoàn Giao dịch Chứng khoán xuyên lục
địa và liên lục địa lớn nhất thế giới ra đời –
NYSE Euronext
NYSE sáp nhập với
Euronext
16
Sau hàng trăm năm hoạt động, TTCK hiện nay đã trở thành một thị trường toàn
cầu, họat động không ngừng nghỉ. Thống kê của Liên đoàn cac Sở GDCK Thế giới
(World Federation Exchanges) cho thấy giá trị thị trường của các sở giao dịch lớn
nhất thế giới đã vượt hơn 20000 tỷ USD.
I.1.2.2. Thị trường tài chính và chức năng của Thị trường chứng khoán:
Theo TS. Đào Lê Minh (2002)
2
, Thị trường tài chính là nơi diễn ra sự luân
chuyển vốn từ những người có vốn nhàn rỗi tới những người thiếu vốn.
Thị trường tài chính cũng có thể định nghĩa là nơi mua bán, trao đổi các công cụ
tài chính.
Sơ đồ 1.1: Chức năng luân chuyển vốn của Thị trường tài chính
Nguồn: Frederich S.Mishkin (1992)
Thông thường, thị trường tài chính được chia thành hai loại chính là thị trường
tiền tệ và thị trường vốn.
Thị trường tiền tệ là nới giao dịch mua bán các công cụ nợ có thời hạn đáo
hạn ít hơn 1 năm. Thị trường tiền tệ bao gồm thị trường cho vay ngắn hạn,
thị trường liên ngân hàng và thị trường hối đoái;
Thị trường vốn là nơi diễn ra các giao dịch mua bán các loại tài sản tài chính
hoặc công cụ nợ trung và dài hạn (thời hạn đáo hạn trên 1 năm). Thị trường
vôn bao gồm TTCK, thị trường cho vay dài hạn và thị trường tín dụng thuê
mua. TTCK là một bộ phận của thị trường vốn.
Sơ đồ 1.2: Quan hệ giữa Thị trường tài chính và Thị trường chứng khoán
Trên thị trường tài chính, TTCK đóng vai trò là một bộ phận cực kì quan trọng.
Các chức năng chính của TTCK:
Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế;
Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng;
Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán;
18
Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp;
Tạo môi trường giúp chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô.
I.1.2.3. Các chủ thể tham gia Thị trường chứng khoán:
Theo TS. Đào Lê Minh (2002), các tổ chức và cá nhân tham gia TTCK có thể
chia thành 3 nhóm: Nhà phát hành, Nhà đầu tư và Các tổ chức có liên quan đến
chứng khoán.
Nhà phát hành: là các tổ chức thực hiện huy động vốn thông qua TTCK. Bao
Có thể coi tính hiệu quả của thị trường tài chính là cơ sở của toàn bộ lý thuyết
tài chính hiện đại. Theo Farma (1965), một thị trường tài chính được coi là hiệu quả
khi và chỉ khi toàn bộ các thông tin sẵn có về một tài sản tài chính được giao dịch
trên thị trường đó được phản ánh tức thì vào giá của nó.
20
Theo những nghiên cứu của Bachelier (1900) và Graham & Dodd (1934)
3
,
Farma đã phân biệt 3 loại thị trường hiệu quả :
Hiệu quả phân bổ nguồn lực (Allocative efficiency): khi các nguồn vốn được
đầu tư có hiệu quả nhất và do vậy đóng góp và sự phát triển kinh tế;
Hiệu quả vận hành (Operational efficiency): khi chi phí giao dịch tối thiểu
nhằm duy trì và vận hành các trung gian tài chính;
Hiệu quả thông tin (Information efficiency): khi giá chứng khoán trên thị
trường vào mọi thời điểm đều phản ánh tất cả các thông tin sẵn có về doanh
nghiệp phát hành cũng như ảnh hưởng của các sự kiện tới hiệu quả tài chính
tương lai của doanh nghiệp đó.
Như vậy, thông tin là một trong ba yếu tố cấu thành nên tính hiệu quả của thị
trường. Có thể nói thông tin có vai trò quan trọng nhất vì quyết định đến giá cổ
phiếu trên thị trường. Thị trường có thông tin minh bạch và công khai sẽ hình thành
nên giá chứng khoán hợp lý và thu hút nhà đầu tư tham gia, thúc đẩy sự phát triển
của TTCK nói riêng và nền kinh tế quốc dân nói chung.
I.3. Lý thuyết bất cân xứng thông tin (Ansymmetric Information):
I.3.1. Giới thiệu sơ lƣợc về lý thuyết bất cân xứng thông tin (Asymmetric
Information:
Cùng với Lý thuyết Thị trường hoàn hảo, Lý thuyết bất cân xứng thông tin
(Ansymmetric Information) đã nêu bật lên vai trò của thông tin đối với Thị trường
giá trị hoặc chất lượng của một tài sản đang được giao dịch (trao đổi) trên thị
trường đó. Nói một cách khác, nếu như không tồn tại tình trạng bất đối xứng
đối với việc tiếp cận các thông tin về tài sản, thì các bên tham gia thị trường
được hiểu là "đối xứng" về thông tin.
2. Khoa học thông tin đã chứng minh sự lừa đảo liên quan đến bất đối xứng về
thông tin. Bên lừa biết bản chất, giá trị của món hàng nhưng không cung cấp
thông tin cho người mua, người mua cũng không có khả năng kiểm chứng
chất lượng hàng hóa mà mình mua tại thời điểm mua hàng. (Tiến sỹ Lê Đăng
Doanh, nguyên Viện trưởng Viện Quản lý Kinh tế).
3. Bất cân xứng thông tin trên TTCK xảy ra khi một hoặc nhiều nhà đầu tư sở
hữu được thông tin riêng (Kyle, 1985 trích trong Ravi, 2005) hoặc có nhiều
thông tin đại chúng hơn về một công ty (Kim và Verrecchia, 1994 và 1997
trích trong Ravi, 2005).
22
I.3.3. Những nghiên cứu đầu tiên về bất cân xứng thông tin trên thế giới
4
:
I.3.3.1. G.A. Akerlof (1970): “Thị trường những quả chanh”:
Theo Auronen (2003, tr.7), người đầu tiên giới thiệu về lý thuyết bất cân xứng
thông tin là G.A. Akerlof (1970). Năm 1970, ông công bố nghiên cứu của mình
trong bài "The Market for 'Lemons': Quality Uncertainty and the Market
Mechanism" trên tạp chí Quarterly Journal of Economic. Đây được coi là nền móng
cho lý thuyết bất cân xứng thông tin.
Trong nghiên cứu của mình, Akerlof phân tích những thị trường hàng hóa tại đó
người bán biết nhiều thông tin về chất lượng hàng hóa hơn người mua. Ví dụ điển
hình là thị trường ô-tô cũ, Akerlof đã dùng từ “Vỏ chanh” (Lemons) để chỉ những
người kém năng lực không thể đạt được.
Ví dụ khác về cơ chế phát tín hiệu là tỷ lệ trả cổ tức của các doanh nghiệp, có
thể coi đây là tín hiệu về lợi nhuận trong tương lai của công ty là tốt hay xấu.
I.3.3.3. Joseph Stiglitz (1975): Cơ chế sàng lọc
Bổ sung các nghiên cứu của G.A.Akerlof (1970) và M.Spence (1973), J.Stiglitz
đã đưa ra cơ chế sàng lọc (Screening) vào năm 1973. Stiglitz đặt ra vấn đề là bản
thân những người có ít thông tin hơn cũng có thể tự cải thiện tình trạng của mình
thông qua cơ chế sàng lọc. Ông đã chỉ ra rằng bên có ít thông tin hơn có thể thu thập
thông tin từ bên kia bằng cách đưa ra các điều kiện giao dịch hợp đồng khác nhau.
Ví dụ điển hình là các công ty bảo hiểm thường cung cấp những loại hợp đồng
bảo hiểm với các mức phí bảo hiểm khác nhau, tương ứng với mức bồi thường khác
nhau. Các khách hàng sẽ tự lựa chọn loại hợp đồng bảo hiểm phù hợp với mình, do
đó tự phân hóa thành các loại khách hàng khác nhau. Những khách hàng có rủi ro
thấp thường thích loại hợp đồng có phí bảo hiểm thấp trong khi khách hàng có rủi
ro cao lại lựa chọn hợp đồng có phí bảo hiểm cao.
Trải qua hơn hai thập kỷ, lý thuyết về thị trường có bất cân xứng thông tin đã trở
nên vô cùng quan trọng và là trọng tâm nghiên cứu của kinh tế học hiện đại. Bất cân
xứng thông tin càng trở nên phổ biến và trầm trọng khi tính minh bạch của thông
tin, khả năng tiếp cận thông tin và cơ sở hạ tầng thông tin yếu kém.
24
I.3.4. Hệ quả của bất cân xứng thông tin trên Thị trƣờng chứng khoán
Theo Frederic S.Mishkin (1992), bất cân xứng thông tin sẽ dẫn đến hai hệ quả:
Lựa chọn đối nghịch (Adverse Selection) và Tâm lý ỷ lại (hay còn gọi là Rủi ro đạo
đức – Moral Hazard).
I.3.4.1. Lựa chọn đối nghịch (Adverse Selection):
Lựa chọn đối nghịch là rủi ro do bất cân xứng thông tin gây ra trước khi giao
dịch được tiến hành. Rủi ro lựa chọn đối nghịch trên thị trường tài chính xảy ra khi
Như vậy, bất cân xứng thông tin cản trở sự lưu thông vốn trên thị trường tài
chính, khiến chức năng luân chuyển vốn của thị trường tài chính không được thực
hiện tốt. Điều này gây trở ngại cho sự phát triển của thị trường tài chính, đặc biệt tại
các nước đang phát triển như Việt Nam.
I.3.5. Những tác động của bất cân xứng thông tin trên Thị trƣờng chứng
khoán:
I.3.5.1. Tác động đến các nhà đầu tư:
Do bất cân xứng thông tin khiến giá cổ phiếu không phản ánh được đầy đủ và
tức thời tình hình hoạt động của doanh nghiệp nên các nhà đầu tư không thể xác
định được lợi nhuận kỳ vọng một cách chính xác. Điều này gây ra một số tác động
đến nhà đầu tư như sau:
Một số nhà đầu tư nắm được nhiều thông tin sẽ thu được lợi nhuận cá biệt
cao hơn lợi nhuận thị trường: điều này là do các doanh nghiệp có những
nguồn thông tin tốt chưa được công bố, do đó giá cổ phiếu trên thị trường
của các doanh nghiệp này đang bị đánh giá thấp hơn giá trị thực
(undervalued). Tuy nhiên, một số nhà đầu tư, bằng cách này hay cách khác,
nắm được những nguồn thông tin đó và mua vào cổ phiếu với giá rẻ, thu
được lợi nhuận cá biệt cao hơn lợi nhuận của thị trường.
Một số nhà đầu tư nắm được ít thông tin sẽ phải bỏ ra chi phí cá biệt cao
hơn chi phí thị trường: trái ngược với điều trên, những nhà đầu tư nắm được
ít thông tin sẽ mua phải những cổ phiếu có giá thị trường cao hơn giá trị thực