MỤC LỤC Phần dẩn luận ..........................................................................................................
1. Lý do chọn đề tài. ...........................................................................................
2. Đối tượng nghiên cứu. ....................................................................................
3. Phạm vi nghiên cứu. .......................................................................................
4. Phương pháp nghiên cứu. ............................................................................... Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẤT CÂN XỨNG THÔNG TIN
1.1 Khái niêm ................................................................................................... 1
1.1.1 Bất cân thông tin là gì .......................................................................... 1
1.1.2 Bất cân xứng thông tin và thị trường hiệu quả. ..................................... 1
1.1.2.1 Thị trường hiệu quả là gì .............................................................. 2
1.1.2.2 Các giả thiết của thị trường hiệu quả ............................................ 2
1.1.2.3 Các dạng của thi trường hiệu quả ................................................. 3
1.1.3 Ý nghĩa của việc đánh giá tình trạng bất cân xứng thông tin. ................ 4
1.1.3.1 Sự tác động của bất cân xứng thông tin đến thị trường chứng
khoán ...................................................................................................... 4
1.1.3.2 Ý nghĩa đánh giá bất cân xứng thông tin. .................................. 5
1.2 Nội dung phân tích ..................................................................................... 5
1.2.1 Nguyên nhân của tình trạng bất cân xứng thông tin ............................. 5
1.2.2 Bất cân xứng thông tin và định giá tài sản ............................................ 6
1.2.3 Bất cân xứng thông tin và chính sách cổ tức ......................................... 7
1.2.4 Bất cân xứng thông tin và cầu trúc vốn ................................................ 8
Chương 2
THỰC TRẠNG BẤT CÂN XỨNG THÔNG TIN TRÊN
3.1 Lợi ích của việc minh bạch hóa thông tin. ...................................................43
3.2 Nội dung công bố thông tin .........................................................................44
3.3 Góc độ quản lý vĩ mô của Nhà nước ............................................................45
3.4 Thành lập ngay tổ chức định mức tín nhiệm ................................................46
3.4.1 Sự cần thiết phải thành lập tổ chức định mức tín nhiệm.......................46
3.4.2 Những lợi ích mà tổ chức định mức tín nhiệm đem lại ........................47
3.5 Phối hợp các cơ quan truyền thông ..............................................................48
3.6 Xây dựng cơ chế giám sát thông tin .............................................................48
3.7 Học hỏi kinh nghiệm quốc tế .......................................................................49
Kết luận: ................................................................................................................50
Tài liệu tham khảo: ...............................................................................................51
Phụ lục .................................................................................................................79
1. KIỂM ĐỊNH TÍNH TỰ TƯƠNG QUAN CỦA TỶ SUẤT SINH LỢI CÁC CỔ
PHIẾU .................................................................................................................. 54
2. KIỂM ĐỊNH TÍNH TỰ TƯƠNG QUAN CỦA TỶ SUẤT SINH LỢI THỊ
TRƯỜNG VNINDEX .......................................................................................... 65
3. KIỂM ĐỊNH QUY TẮC GIAO DỊCH .................................................................. 68
4. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC XÂY DỰNG TỔ CHỨC ĐỊNH
MỨC TÍN NHIỆM HIỆN NAY TẠI VIỆT NAM. ................................................ 75
5. THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN THẾ GIỚI ...................................................... 78
6. THÔNG TƯ SỐ 38 CỦA BỘ TÀI CHÍNH BAN HÀNH NGÀY 18/4/2007, QUY
ĐỊNH VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN CỦA CÁC TỔ CHỨC TRÊN THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN. ............................................................................................... 80
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA BẤT CÂN XỨNG THÔNG TIN
nhau. Bất cân xứng thông tin đó là một dấu hiệu của một thị trường còn non trẻ, thị trường
mới nổi hay có thể hiểu theo cách khác là bất cân xứng thông tin thể hiện một thị trường
không hiệu quả về mặt thông tin.
1.1.2.1 Thị trường hiệu quả là gì?
Trong một thị trường cạnh tranh, giá cả thay đổi một cách ngẩu nhiên. Nếu giá cả,
thông tin trong quá khứ được sử dụng để dự đoán giá cả trong tương lai, các nhà đầu tư sẽ
thực hiện việc này và thu được lợi nhuận quá dễ dàng. Một thị trường cạnh tranh có hàng
ngàn, hàng triệu nhà đầu tư, nhà phân tích, họ có thể tận dụng các thông tin giá cả quá khứ,
giá cả sẽ điều chỉnh ngay lập tức. Vì vậy họ khó có thể thu được tỷ suất sinh lợi cao liên
tục.
Thị trường hiệu quả là thị trường trong đó giá cả của chứng khoán đã phản ánh đầy đủ tức
thời tất cả thông tin hiện có trên thị trường. Giá cả thay đổi tăng giảm ngẩu nhiên, không
có quy luật về sự thay và không thể dự đoán được.
Lý thuyết thị trường hiệu quả (Efficient Market Theory) được nghiên cứu bởi Eugene Fama
vào những năm 1970.
1.1.2.2 Các giả thiết của thị trường hiệu quả.
1. Thứ nhất: Thị trường hiệu quả nó đòi hỏi một số lượng lớn các đối thủ cạnh tranh tham
gia vào thị trường với mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận, họ tiến hành phân tích và định giá
các loại chứng khoán một cách hoàn toàn độc lập với nhau.
2. Thứ hai: Những thông tin mới về chứng khoán được công bố trên thị trường một cách
ngẫu nhiên và tự động, và việc quyết định về thời điểm công bố thông tin cũng độc lập
lẫn nhau.
3. Thứ ba: Các nhà đầu tư luôn tìm mọi cách điều chỉnh giá chứng khoán thật nhanh
nhằm phản ánh chính xác ảnh hưởng của thông tin. Mặc dù sự điều chỉnh của giá có
thể là không hoàn hảo, tuy nhiên nó không hề ưu tiên cho một mặt nào. Có khi sự điều
chỉnh là quá mức, cũng có khi là dưới mức cần thiết, nhưng ta không thể dự đoán được
điều gì sẽ xảy ra ở mỗi thời điểm xác định. Giá chứng khoán được điều chỉnh một cách
nhanh chóng là bởi số lượng lớn các nhà đầu tư với mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận cạnh
tranh với nhau.
4. Thứ tư: Vì giá chứng khoán điều chỉnh theo tất cả những thông tin mới nên giá của
3. Mức độ thứ ba: Thị trường hiệu quả dạng mạnh (strong - form).
Giá cả phản ánh tất cả thông tin có thể được công bố bằng cách phân tích tỷ mĩ về công
ty và nền kinh tế, cả những thông tin về sự kiện đã xảy ra, và cả những thông tin mà thị
trường sẽ kỳ vọng xảy ra trong tương lai. Giá cả thực tế của một loại chứng khoán luôn là
một dấu hiệu hoàn hảo về giá trị thực sự của nó. Trong thị trường như vậy, chúng ta sẽ
quan sát thấy các nhà đầu tư may mắn và không may mắn, nhưng chúng ta không tìm thấy
bất kỳ một siêu giám đốc đầu tư nào có thể liên tục đánh bại thị trường. Việc mua bán cổ
phiếu trong nổ lực “vượt mặt” thị trường có thể giống như trò chơi may rủi hơn là một
cuộc đấu đòi hỏi kỹ năng.
1.1.3 Ý nghĩa của việc đánh giá tình trạng bất cân xứng thông tin.
Trong những thị trường non trẻ, thị trường đang phát triển thì tình trạng bất cân xứng
thông tin là điều không thể tránh khỏi, nó thể hiện trình độ phát triển của thị trường tài
chính còn thấp, một thị trường chứng khoán mới nổi.
1.1.3.1 Sự tác động của bất cân xứng thông tin đến thị trường chứng
khoán thể hiện một số điểm như sau:
Việc thiếu thông tin làm cho nhà đầu tư không hiểu biết đầy đủ tình hình sản xuất
kinh doanh, tình hình tài chính, thành phần ban lãnh đạo và cũng như cơ cấu sở hữu trong
công ty. Và điều này sẽ dẫn đến những quyết định sai lầm của nhà đầu tư, quyền lợi nhà
đầu tư bị thiệt hại.
Các nhà đầu tư không có đầy đủ thông tin về tình hình chung của doanh nghiệp,
thông tin toàn ngành, thông tin của các ngành khác, điều này làm cho các nhà đầu tư không
có cơ sỡ để so sánh cũng như dự báo, định giá doanh nghiệp muốn đầu tư. Dẫn đến những
quyết định đầu tư không chính xác.
Việc thiếu minh bạch thông tin của các tổ chức niêm yết và các tổ chức không
niêm yết, làm mất đi niềm tin trong nhà đầu tư. Điều này là không tốt cho một thị trường
mới nổi như thị trường chứng khoán Việt Nam chúng ta.
Bất cân xứng thông tin trên thị trường chứng khoán dẩn đến việc đầu tư chứng
khoán theo kiểu “ hiệu ứng đô mi nô”, “hiệu ứng đàn cừu”, kinh doanh bầy đàn, họ dễ bị
lung lay trước những thông tin bên lề, tin đồn, tin mật được cung cấp bởi những người viết
bản tin, hoặc từ những người thân trong nội bộ công ty, mà không quan tâm nhiều đến tính
tư. Đã xuất hiện khá phổ biến hiện tượng rò rỉ thông tin trong các cuộc đấu giá cổ phiếu.
Những thông tin này không được bảo mật chặt chẻ mà được cung cấp một cách riêng biệt
cho những đối tượng có nhu cầu. Những người nắm được cụ thể, chi tiết về tổng cầu cổ
phiếu của thị trường, về các cá nhân tổ chức tham giá đấu giá sẽ tính toán, định giá được
một mức giá hợp lý mà mình bỏ thầu. Nhờ các nguồn quan hệ cá nhân, môt số nhà đầu tư
còn biết trước được các quyết định của ban quan trị như khi nào chia cổ tức, tỷ lệ bao
nhiêu, cổ phiếu thưởng, tăng quy mô vốn… trước khi trung tâm chứng khoán công bố, nền
đã hành động trước đem lại lợi nhuận cho các nhân, trong khi các nhà đầu tư khác biết thì
đã quá muộn.
c. Tung tin đồn thất thiệt. Trên thị trường chúng khoán hiện nay có không ít tin đồn
có ảnh hưởng đến uy tín của một số công ty niêm yết. Các thông tin này được tung ra trên
các diển dàn chứng khoán, trên các sàn giao dịch chứng khoán, hoặc truyền miệng. Do nhà
đầu tư chưa có kinh nghiệm, kỹ năng kiểm chứng nguồn thông tin nên gây cho nhà đầu tư
hoang mang, giá cả cổ phiếu trên thị trường bị ảnh hưởng.
d. Cơ qua truyền thông cung cấp thông tin sai lệch, không đầy đủ, nó khiến cho nhà
đầu tư chuyên nghiệp mất long tin vào chất lượng thông tin của các cơ quan báo chí.
1.2.2 Bất cân xứng thông tin và định giá tài sản tài chính.
Mô hình định giá tài sản tài chính cổ điển CAPM của W. F. Sharpe, thị trường tài chính
được giả định là có tính chất hoàn hảo trong đó:
Mọi thông tin về công ty nào đó và triển vọng của công ty đó đều được tất cả mọi
nhà đầu tư tiếp cận như nhau và miễn phí.
Các nhà đầu tư mong muốn tối đa hóa lợi nhuận.
Các nhà đầu tư đi vay và cho vay với một lãi suất phi rủi ro.
Không có thuế và chi phí giao dịch.
Nhưng thị trường luôn có những bất hoàn hảo, lý thuyết bất cân xứng thông tin ra đời đã
đặt lại vấn đề định giá tài sản tài chính. Phải chăng thông tin luôn được công khai miễn
phí? Ai cũng có thể tiếp cận thông tin như nhau?
S.Grossman (1976) và tiếp đó là J. Stiglitz (1980) cho rằng có sự chuyển hoá thông tin vào
trong giá, tức là thông tin không phải miễn phí và giá trị thông tin có thể tính thành tiền.
Các ông đã chia toàn bộ người mua trên thị trường ra hai nhóm người:
bù trừ đúng bằng lãi vốn tăng thêm từ việc mua lại cổ phần của công ty (tỷ trọng nắm giử
cổ phần của cổ đông tăng lên). Sự dịch chuyển cổ tức tiền mặt sang mua lại cổ phần không
ảnh hưởng đến giá trị của cổ phần.
Tuy nhiên, nếu ta so sánh quan điểm này với tình hình thực tế của thị trường chứng
khoán thì có thể thấy sự mâu thuẫn. Thực tế là việc tăng cổ tức thường được coi là một
thông tin tốt dẫn đến việc tăng giá cổ phiếu, và ngược lại khi các công ty giảm hoặc không
trả cổ tức nữa thì giá cổ phiếu sẽ sụt giảm. Nếu quả thực chính sách cổ tức không quan
trọng thì tại sao lại có những phản ứng như vậy trên thị trường?
Theo nghiên cứu của Bhattachar (1979), Miller và Rock (1985) thì các nhà đầu tư
không phản ứng với chính sách cổ tức mà phản ứng với các thông tin chứa đựng bên trong
chính sách cổ tức. Việc tăng cổ tức có thể là một tín hiệu cho rằng các nhà quản trị công ty
rất lạc quan về dòng thu nhập trong tương lai của công ty. Vì thông thường các công ty rất
ngại cắt giảm cổ tức nên họ chỉ quyết định tăng cổ tức nếu tin rằng có thể duy trì mức cổ
tức cao đó trong tương lai. Do vậy mà tăng cổ tức sẽ dẫn đến giá cổ phiếu tăng. Nhưng
chính tín hiệu lạc quan - dòng thu nhập cao trong tương lai - chứ không phải là phương tiện
truyền đạt tín hiệu - cổ tức tăng - làm cho giá cổ phiếu tăng lên.
Như vậy, theo các nhà nghiên cứu này thì chính sách cổ tức có chứa đựng thông tin và
có thể được coi là một tín hiệu về khả năng phát triển trong tương lai của công ty. Tuy
nhiên quan điểm này chỉ có ý nghĩa khi thỏa mản hai điều kiện:
Thứ nhất, các nhà đầu tư coi trọng thông tin này;
Thứ hai, cổ tức là một tín hiệu về triển vọng phát triển của công ty và là một tín hiệu đáng
tin cậy hơn các tín hiệu khác. Quan điểm này cho rằng cả hai điều kiện trên đều tồn tại.
Các nhà đầu tư luôn quan tâm đến chính sách cổ tức vì cổ tức là một trong hai nguồn thu
nhập chính của họ. Còn mức độ tin cậy cao của chính sách cổ tức khi đóng vai trò là tín
hiệu về khả năng tăng trưởng của công ty là hoàn toàn có thể lý giải được. Vì thực tế, nếu
công ty tuyên bố tăng cổ tức mà không có đủ thu nhập để trả thì sẽ phải huy động vốn từ
bên ngoài hoặc phải hy sinh các khoản đầu tư trong tương lai. Vì thế, tăng cổ tức là một tín
hiệu có độ tin cậy cao hơn và ràng buộc trách nhiệm của nhà quản lý công ty nhiều hơn các
tín hiệu khác.
của doanh nghiệp đủ khả năng thanh toán những chi phí tài chính đáng kể phát sinh từ
những khoản nợ này. Tỷ số nợ càng lớn thì ban lãnh đạo càng đáng tin cậy.
Trên thị trường cổ phiếu, doanh nghiệp nói chung, ban lãnh đạo nói riêng được coi là
những người bán, còn cổ đông - nhà đầu tư là những người mua. Trong một tình hình như
thế giả định sự chuyển giao trực tiếp thông tin từ người bán sang người mua là không thể
có. Có hai lý do:
Thứ nhất, nhà quản lý không nhất thiết phải trao đổi toàn bộ những thông tin
mà anh ta sử dụng cho các nhà đầu tư; với lý do là những thông tin ấy có thể bị các
đối thủ cạnh tranh sử dụng.
Thứ hai, các thành viên hội đồng quản trị thường có lợi ích trái ngược nhau:
Người nào đang tìm kiếm nguồn tài trợ thì luôn có xu hướng khuếch đại điểm mạnh
của những dự án của họ, bỏ qua những khiếm khuyết, trong khi những thành viên
hội đồng quản trị là người ngoài công ty thì luôn có xu hướng kiểm tra, xem xét
những đề nghị mà những người khác mang đến cho anh ta, mặc cho chi phí có thể
cao.
Chương 2
THỰC TRẠNG BẤT CÂN XỨNG THÔNG TIN TRÊN
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
2.1 THỰC TRẠNG BẤT CÂN XỨNG THÔNG TIN VÀ SỰ TÁC ĐỘNG ĐẾN
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM.
2.1.1 Thực trạng việc công bố thông tin của các tổ chức tham gia trên thị
trường chứng khoán Việt Nam.
Các văn bản quy phạm pháp luật về công bố thông tin đã được quy định cụ thể tại Nghị
định 144/NĐ-CP và Thông tư 57/2004/TT-BTC, và mới đây vào ngày 18/4/2007 Thông tư
số 38/2007/TT-BTC được ban hành, trên cơ sở hoàn thiện, quy định cụ thể hơn về vấn đề
công bố thông cho các tổ chức tham gia trên thị trường chứng khoán so với Thông tư
nhà đầu tư khác không có thông tin. Sự rò rỉ thông tin còn thể hiện ở việc công bố các
thông tin có lợi của công ty.
Thứ ba. Doanh nghiệp cung cấp thông tin không công bằng đối với các nhà đầu tư:
Ưu tiên cung cấp thông tin cho các nhà đầu tư chiến lược, các nhà đầu tư tổ chức mà không
công bố rộng rãi. Đến nay, một hiện tượng phổ biến cho thấy trong các cuộc đấu giá thì
người đấu giá thành công chủ yếu là các nhà đầu tư tổ chức. Loại trừ khả năng các nhà đầu
tư tổ chức có kinh nghiệm, kỹ năng phân tích thì người ta cũng nghi ngờ các nhà đầu tư
nhận được nhiều thông tin chất lượng hơn so với các nhà đầu tư cá thể.
Thứ tư. Là hiện tượng lừa đảo. Thời gian vưa qua, ta thấy xuất hiện một số trường
hợp lừa đảo trên thị trường chứng khoán Việt Nam, rất đáng cảnh báo các nhà đầu tư
nghiệp dư, đặc biệt những người ít có kiến thức về chứng khoán và kinh tế lại có tham
vọng làm giàu bằng kinh doanh chứng khoán. Báo Vnexpress đăng tin, cơ quan Cảnh sát
điều tra Công an thành phố Hải Phòng vừa bắt 3 người mạo danh trong vụ lừa đảo quốc tế
về bán cổ phiếu phổ thông V5G diễn ra tại thị xã Đồ Sơn. Đó là Lâm Thu Hương, Trần Thị
Sen (tức Kim Sa, Giám đốc Công ty cổ phần Hoa Nguyên, TP HCM) và Lý Hữu Hoàng,
Việt kiều Mỹ, chuyên gia cố vấn cho Hương và Sen. Tổng giá trị của vụ lứa đảo này lên
đến 800 tỷ đồng.
Rồi đầu năm 2007, Công an Hà Nội có kết luận điều tra về vụ Lý Thị Trúc Quỳnh,
Trưởng phòng khu vực số 9 Công ty cổ phần bảo hiểm Bảo Minh tại Hà Nội - lừa đảo môi
giới cổ phiếu chiếm đoạt gần 38,4 tỷ đồng và 36.100 USD.
Thứ năm. Là việc tung tin đồn thất thiệt. Trong thời gian 7 năm hoạt động của thị
trường chứng khoán, có không ít tin đồn ảnh hưởng đến uy tín của các công ty niêm yết.
Các tin này thường được tung ra trên các diễn đàn chứng khoán trên các sàn giao dịch
chứng khoán, hoặc được truyền miệng. Do nhà đầu tư chưa có kinh nghiệm, kỹ năng để
kiểm chứng nguồn thông tin, đồng thời do cơ chế thông tin của doanh nghiệp còn yếu kém,
chậm chạp nên dẫn đến gây tâm lý hoang mang cho nhà đầu tư, ảnh hưởng đến giá cả cổ
phiếu trên thị trường.
Thứ sáu, Các cơ quan truyền thông cung cấp thông tin sai lệch, không đầy đủ. Đây
không phải là hiện tượng phổ biến nhưng khiến cho các nhà đầu tư chuyên nghiệp không
mấy tin cậy vào chất lượng thông tin của các cơ quan báo chí.
2.1.2 Kiểm định mức độ hiệu quả thông tin của thị trường chứng khoán Việt
Nam.
Cái nhìn đầu tiên
Chúng ta đã nghiên cứu kỹ một thị trường vốn hiệu quả, đó là một thị trường vốn trong đó
giá chứng khoán được điều chỉnh một cách nhanh chóng ngay lập tất cả các thông tin được
công bố về chứng khoán đó.
2.1.2.1 Thị trường chứng khoán Việt Nam so với thị trường chứng khoán
khu vực và thế giới.
Thị trường chứng khoán Việt Nam được đánh giá như là một thị trường đang phát triển,
một thị trường mới nổi. Thị trường mới nổi không nhất thiết là thi trường mơi thành lập.
Theo IMF, World Bank, MSCI cho rằng thị trường mới nổi là thị trường của những nước
đang phát triển.
2.1.2.2 Đặc điểm của thị trường mới nổi.
a. Độ biến động của thị trường cao, cao hơn nhiều so với các thị trường phát triển.
b. Kỳ vọng về khả năng sinh lợi của nhà đầu tư cũng thường cao hơn so với thị trường
phát triển tương ứng với mức độ rủi ro cao của nó.
c. Mức độ mở cửa ra thị trường quốc tế của thị trường mới nổi còn hạn chế. Điều này
cũng tương đối dễ hiểu, thị trường còn chịu sự điều hành quản lý từ phía Nhà nước,
việc mở cửa thị trường phải có thời gian và lộ trình cụ thể, để cho thị trường thích
nghi dần với môi trường quốc tế.
Các rào cản hiện nay của thị trường mới nổi đối với các tổ chức, cá nhân đầu tư
nước ngoài thể hiện những điểm sau đây:
Hạn chế nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào thị trường
Hạn chế việc lập công ty quản lý quỹ và công ty chứng khoán.
Hạn chế mức sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài đối với các công ty trong
nước.
Hạn chế nhà đầu tư nước ngoài chuyển lợi nhuận dưới dạng tiền về nước hoặc
hạn chế việc rút vốn về nước.
Hạn chế khác như tỷ giá, lãi suất chưa được thả nổi…
d. Tính minh bạch của các doanh nghiệp và của thị trường còn thấp. Việc tuân thủ các
0
nếu JB >
2
2
, tức tỷ suất sinh lợi không phân phối chuẩn.
Chấp nhận H
0
nếu JB <
2
2
, tức tỷ suất sinh lợi có phân phối chuẩn.
(phương pháp kiểm định được sử dụng từ: Kinh tế lượng ứng dụng, ThS Phạm Trí Cao,
NXB Lao động, năm 2006)
Năm 1: 7/2000 đến /2001
Có 5 cổ phiếu, đồ thị phân phối xác suất tỷ suất sinh lợi như sau:
0
20
40
60
80
100
-0.15 -0.10 -0.05 0.00 0.05
Series: REE
Sample 7/31/2000 7/30/2001
Observations 146
Mean 0.009601
Median 0.017232
20
40
60
80
100
-0.1 -0.0 0.1 0.2
Series: TMS
Sample 7/31/2000 7/30/2001
Observations 143
Mean 0.012613
Median 0.016921
Maximum 0.200021
Minimum -0.137870
Std. Dev. 0.032238
Skewness -0.071789
Kurtosis 14.34601
Jarque-Bera 767.1507
Probability 0.000000
0
10
20
30
40
50
60
70
-0.05 0.00 0.05
Series: LAF
Sample 7/31/2000 7/30/2001
Observations 87
Bảng tổng hợp hệ số thống kê của các cổ phiếu.
Cổ phiếu Skewness Kurtosis Jacque - Bera (JB)
Hệ số chi bình phương
2
2
REE -1.8367 10.3782 413.2433 5.9915
HAP -1.9317 12.3182 606.2956 5.9915
SAM -1.6837 10.1956 383.9560 5.9915
TMS -0.0718 14.3460 767.1507 5.9915
LAF -1.4612 6.5318 74.30016 5.9915
(Nguồn: Số liệu được lấy từ các trang Web của Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM
www.vse.org.vn, các công ty chứng khoán SSI, BSC, BVS, SBS…và tính toán của tác giả.)
Ta thấy tất cả hệ số Jacque - Bera (JB) các cổ phiếu đều lớn hơn hệ số chi bình phương
2
2
. Ta là bác bỏ H
0
, tức tỷ suất sinh lợi các cổ phiếu không có phân phối chuẩn.
Hoàn toàn tương tự, ta kiểm định cho các năm còn lại.
Năm 2: 7/2001 – 7/2002
Có 10 cổ phiếu. Tính toán được các hệ số như sau:
Cổ phiếu Skewness Kurtosis
-0.04 -0.02 -0.00 0.02 0.04
Series: BTC
Sample 8/01/2002 7/31/2003
Observations 247
Mean -0.001309
Median 0.000000
Maximum 0.048790
Minimum -0.051293
Std. Dev. 0.021459
Skewness -0.112514
Kurtosis 3.364199
Jarque-Bera 1.886240
Probability 0.389411
0
20
40
60
80
100
120
-0.050 -0.025 -0.000 0.025 0.050
Series: AGF
Sample 8/01/2002 7/31/2003
Observations 247
Mean -0.001035
Median 0.000000
Maximum 0.048009
Minimum -0.063852
Std. Dev. 0.013727
60
80
100
120
140
-0.04 -0.02 -0.00 0.02 0.04
Series: TRI
Sample 8/01/2002 7/31/2003
Observations 247
Mean -0.001693
Median 0.000000
Maximum 0.048790
Minimum -0.053859
Std. Dev. 0.015656
Skewness -0.349832
Kurtosis 5.068997
Jarque-Bera 49.09414
Probability 0.000000
Bảng tổng hợp các hệ số thống kê.
Hệ số Skewness Kurtosis Jacque - Bera (JB)
Hệ số chi bình phương
2
2
AGF -0.9125 9.1772 427.0 5.9915
BBC 0.1624 103.5553 104,063.9 5.9915
BPC -0.2905 5.4681 66.2 5.9915
BT6 -0.8176 10.5079 607.6 5.9915
Series: VTC
Sample 7/31/2003 7/30/2004
Observations 249
Mean 0.002205
Median 0.000000
Maximum 0.048790
Minimum -0.051293
Std. Dev. 0.021436
Skewness 0.255517
Kurtosis 3.654305
Jarque-Bera 7.151182
Probability 0.027999
0
10
20
30
40
50
60
70
-0.04 -0.02 -0.00 0.02 0.04
Series: REE
Sample 7/31/2003 7/30/2004
Observations 250
Mean 0.002653
Median 0.000000
Maximum 0.048553
Minimum -0.052186
Std. Dev. 0.020088
Skewness 0.307531
80
100
-0.04 -0.02 -0.00 0.02 0.04
Series: SGH
Sample 7/31/2003 7/30/2004
Observations 250
Mean 0.000179
Median 0.000000
Maximum 0.048009
Minimum -0.050325
Std. Dev. 0.021593
Skewness 0.112088
Kurtosis 3.296377
Jarque-Bera 1.438485
Probability 0.487121
0
10
20
30
40
50
60
70
-0.050 -0.025 0.000 0.025 0.050
Series: PMS
Sample 7/31/2003 7/30/2004
Observations 183
Mean 0.000329
Median 0.000000
2
2
BBC 0.017894 2.842281 0.27246 5.9915
PMS -0.082069 3.571879 2.71788 5.9915
SHG 0.112088 3.296377 1.43849 5.9915
(Trích ba cổ phiếu có tỷ suất sinh lợi phân phối chuẩn)
Có ba cổ phiếu BBC, PMS, SGH có tỷ suất sinh lợi phân phối chuẩn.
Năm 5: /2004 – 7/2005
Có 26 cổ phiếu, 1 chứng chỉ quỹ
Đồ thị phân phối xác suất về tỷ suất sinh lợi một số cổ phiếu như sau: