Pháp luật về công bố thông tin trên thị trường chứng khoán việt nam - Pdf 10

Pháp luật về công bố thông tin trên thị trƣờng
chứng khoán Việt Nam

Viên Thế Giang

Khoa Luật
Luận văn Thạc sĩ ngành: Luật kinh tế; Mã số: 60 28 35
Ngƣời hƣớng dẫn: TS. Phạm Thị Giang Thu
Năm bảo vệ: 2008

Abstract: Trình bày những vấn đề lý luận về công bố thông tin và pháp luật về công
bố thông tin trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam, những vấn đề cơ bản của pháp
luật về công bố thông tin trên thị trƣờng chứng khoán. Khái quát quá trình phát triển
pháp luật về công bố thông tin trên thị trƣờng chứng khoán nƣớc ta. Phân tích thực
trạng pháp luật về công bố thông tin trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam, những kết
quả đạt đƣợc, một số mặt còn hạn chế của pháp luật về công bố thông tin trên thị
trƣờng chứng khoán. Từ đó đƣa ra một số ý kiến nhằm hoàn thiện pháp luật về công
bố thông tin trên trị trƣờng chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn hiện nay trên các
phƣơng diện lập pháp, kiện toàn các quy định về xử lý vi phạm pháp luật và một số
các giải pháp khác.

Keywords: Luật kinh tế; Luật thƣơng mại; Thị trƣờng chứng khoán; Việt Nam

Content
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Công bố thông tin là một yêu cầu không thể thiếu để đảm bảo lòng tin và sự công bằng
cho các nhà đầu tƣ trên thị trƣờng chứng khoán (TTCK). Các tổ chức phát hành, niêm yết
phải thực hiện chế độ công bố thông tin kịp thời, chính xác và theo đúng quy định của pháp
luật. Công bố thông tin là nguyên tắc công khai, đƣợc coi là nguyên tắc hoạt động cơ bản nhất
của TTCK. Việc thực hiện pháp luật về công bố thông tin và giám sát quá trình công bố thông

quyền, hoặc của các chuyên gia tài chính, nhƣ GS.,TSKH Nguyễn Duy Gia đề cập đến việc
minh bạch và công khai đối với TTCK trong cuốn “Một số vấn đề cần biết về TTCK Việt
Nam”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà nội 2003; Chƣơng 8 Hệ thống thông tin trên TTCK Giáo
trình TTCK, trƣờng Đại học Kinh tế quốc dân, Nxb Tài chính Hà Nội, 2002; Chƣơng 8 Hệ
thống thông tin thị trƣờng, Giáo trình TTCK, Học viện Ngân hàng, Nxb Thống Kê, Hà Nội
2002; TS Nguyễn Minh Phong (2007) Nhận diện những rủi ro trong đầu tƣ chứng khoán, Tạp
chí Tài chính số tháng 5, tr 43-45; PGS.,TS Lê Hoàng Nga (2007) Cách thức đầu tƣ và phòng
chống rủi ro chứng khoán đối với nhà đầu tƣ cá nhân tham gia TTCK, Tạp chí Chứng khoán
Việt Nam, số 103, tháng 5/2007, tr 8-11, Viên Thế Giang (2007), Thông tin trên thị trƣờng
chứng khoán những vấn đề cần lƣu ý, Tạp chí Công nghệ Ngân hàng số 12/2007., Viên Thế
Giang (2008), Hoạt động công bố thông tin trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam, Tạp chí
Khoa học và Đào tạo Ngân hàng số 1+2/2008, Viên Thế Giang (2008), Vai trò của cơ quan
nhà nƣớc có thẩm quyền trong việc giám sát hoạt động công bố thông tin trên thị trƣờng
chứng khoán Việt Nam, Tạp chí Khoa học và Đào tạo Ngân hàng số 6/2008, Viên Thế Giang
(2008), Minh bạch thông tin trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam, Tạp chí Ngân hàng số 13
tháng 7/2008 Những nghiên cứu mang tính tổng thể đánh giá về các tác động của thông tin,

3
công bố thông tin và pháp luật về CBTT trên TTCK đến hoạt động đầu tƣ chứng khoán lại
chƣa có nhiều. Chính vì vậy, việc lựa chọn đề tài “Pháp luật về công bố thông tin trên thị
trường chứng khoán Việt Nam” làm luận văn tốt nghiệp cao học luật là một đề tài có ý nghĩa
lý luận và thực tiễn sâu sắc.
3. Phạm vi và giới hạn nghiên cứu
Là luận văn chuyên ngành luật học, Luận văn phân tích, đánh giá, bình luận về các quy
định pháp luật hiện hành về công bố thông tin trên TTCK trong mối tƣơng quan với quá trình
xây dựng và hoàn thiện TTCK trong điều kiện hội nhập quốc tế, nhất là các cam kết về mở
cửa thị trƣờng dịch vụ chứng khoán, thì các quy định pháp luật hiện hành về CBTT cần phải
hoàn thiện nhƣ thế nào. Để làm đƣợc điều này, luận văn tập trung nghiên cứu, xây dựng hệ
thống các vấn đề lý luận về thông tin trên TTCK trên cơ sở đó phân tích các nhân tố tác động
đến chất lƣợng thông tin, hoạt động CBTT trên TTCK; các yêu cầu đối với thông tin trên

tin trên TTCK Việt Nam. Chỉ ra những nhân tố tác động đến hoạt động CBTT và xây dựng
đƣợc hệ thống các tiêu chí đánh giá chất lƣợng thông tin trên TTCK Việt Nam. Luận văn chỉ
ra sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động CBTT trên TTCK, đặc trƣng
và các yêu cầu của pháp luật về CBTT trên TTCK Việt Nam;
- Luận văn đã khái quát đƣợc quá trình hình thành và phát triển pháp luật về CBTT trên
TTCK Việt Nam, phân tích những kết quả đạt đƣợc và những hạn chế, bất cập trong việc thực
hiện pháp luật về CBTT trên TTCK Việt Nam, trên cơ sở đó, Luận văn xây dựng đƣợc hệ
thống quan điểm lý luận và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về CBTT trên TTCK
Việt Nam.
6.2. Những đóng góp về thực tiễn
Thông qua các tiêu chí đánh giá chất lƣợng thông tin trên TTCK, cơ quan quản lý thị
trƣờng, nhà đầu tƣ và tổ chức phát hành có đƣợc cơ sở lý luận nhằm từng bƣớc nâng cao chất
lƣợng thông tin trên TTCK, để thông tin trở thành một trong những yếu tố quan trọng nhất
giúp giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh chứng khoán. Những quan điểm, đề xuất trong luận
văn cũng sẽ giúp ích cho cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền trong việc sửa đổi, bổ sung các
quy định hiện hành về CBTT trên TTCK Việt Nam.
7. Kết cầu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cầu làm
ba chƣơng.
CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN VÀ
PHÁP LUẬT VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÊN THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN
Với quan điểm “Biết địch biết ta trăm trận trăm thắng”, rủi ro thông tin đƣợc coi là rủi
ro lớn nhất và cũng là nguồn cội của mọi rủi ro trong đầu tư chứng khoán đó chính là rủi ro
từ sự dại dột và những sai lầm do thiếu hiểu biết, thiếu kỹ năng tổng hợp, phân tích và phản
ứng thị trường nhạy bén, chính xác của nhà đầu tư, do đó, khả năng lắng nghe, phân tích các
“chiêu thức” và cả nghệ thuật “tung tin đồn”, gây nhiễu thông tin của các “đại gia” hoặc đại
bợm kinh doanh chứng khoán, hay bản thân các công ty, tổ chức phát hành chứng khoán sẽ là
bùa hộ mệnh để nhà đầu tƣ bảo vệ mình tránh đƣợc những cạm bẫy và gắn với thế giới thông
tin thƣờng luôn mờ ảo trên thị trƣờng đặc thù này, luận văn phân tích những vấn đề lý luận
chung về thông tin, công bố thông tin và pháp luật về CBTT trên TTCK.

xem xét quyết định cho phép tổ chức phát hành đƣợc chào bán cổ phiếu ra công chúng để huy
động vốn. Pháp luật về CBTT cũng quy định rõ điều kiện, đối tƣợng, hình thức, phƣơng tiện
CBTT đối với các chủ thể tham gia thị trƣờng.
b) Đặc điểm của thông tin trên thị trường chứng khoán
Thứ nhất, thông tin trên thị trƣờng chứng khoán là hệ thống các dữ kiện liên quan đến
hoạt động của các chủ thể tham gia trên thị trƣờng chứng khoán.
Thứ hai, thông tin trên TTCK là một bộ phận cấu thành nên thị trƣờng. Thông qua kênh
thông tin, nhà đầu tƣ, cơ quan quản lý nhà nƣớc có thẩm quyền, các chuyên gia tài chính ngân

6
hàng có thể nhận biết đƣợc xu hƣớng phát triển của thị trƣờng từ đó đƣa ra đƣợc những cảnh
báo hoặc định hƣớng phát triển.
Thứ ba, thông tin trên TTCK là cơ sở để các nhà đầu tƣ phân tích, đánh giá, thƣơng
lƣợng với nhau. Thông tin là thƣớc đo phản ánh giá trị của doanh nghiệp. Thông qua hệ thống
các chỉ số về vốn, về lợi nhuận, về chiến lƣợc kinh doanh… nhà đầu tƣ có thể thấy đƣợc tiềm
năng phát triển của tổ chức phát hành.
Thứ tƣ, thông tin trên TTCK là một trong những biểu hiện và làm gia tăng giá trị của
công ty niêm yết, song nó cũng có thể gây bất lợi cho công ty.
Thứ năm, thông tin trên TTCK có tác động rất lớn đối với thị trƣờng cũng nhƣ cơ quan
quản lý nhà nƣớc trong việc kiện toàn hoạt động của thị trƣờng và việc hoạt định chính sách
phát triển TTCK.
1.1.1.2. Hoạt động công bố thông tin trên thị trường chứng khoán
a) Khái niệm công bố trên thị trường chứng khoán
Từ các phân tích, luận văn rút ra khái niệm CBTT nhƣ sau: CBTT trên TTCK là hoạt
động của các chủ có thẩm quyền nhằm công bố các thông tin liên quan đến tổ chức và hoạt
động của tổ chức phát hành, của hoạt động quản lý các GDCK và hoạt động quản lý nhà
nước về TTCK.
b) Đặc điểm của hoạt động công bố thông tin trên thị trường chứng khoán
Một là, CBTT trên TTCK là hoạt động thƣờng xuyên của các chủ thể.
Hai là, hoạt động CBTT trên TTCK gắn liền với diễn biến của tổ chức phát hành và của

- Nhà đầu tƣ khó tiếp cận đƣợc ngay các thông tin;
- Dễ làm lộ bí mật kinh doanh của tổ chức niêm yết;
- Nhà quản trị thƣờng lạm dụng quyền của mình để cản trở việc CBTT ra các phƣơng tiện
thông tin đại chúng.
b) Thông tin từ tổ chức kinh doanh chứng khoán
Ƣu điểm của thông tin do tổ chức kinh doanh chứng khoán cung cấp là:
- Giúp cho những ngƣời có liên quan thấy đƣợc diễn biến trên TTCK qua các giai đoạn,
phục vụ tốt cho việc quản lý, phân tích đánh giá và đầu tƣ chứng khoán;
- Thông tin do các tổ chức này cung cấp có tính hệ thống, logic và có thể tiếp cận theo
từng nội dung mà mình quan tâm, và trong những trƣờng hợp cần thiết có thể đƣợc cung cấp
dịch vụ tƣ vấn theo yêu cầu;
- Thông qua hệ thống thông tin của các tổ chức kinh doanh chứng khoán, chúng ta có thể
thấy đƣợc số lƣợng nhà đầu tƣ tham gia kinh doanh chứng khoán và tình hình thực hiện các
GDCK. Điều này có ý nghĩa rất quan trọng đối với các nhà quản lý nhằm kiểm soát các giao
dịch của các chủ thể tham gia TTCK.
Mặc dù vậy, thông tin của tổ chức kinh doanh chứng khoán có hạn chế là:
- Việc cung cấp thông tin bị chi phối bởi yếu tố lợi ích là rất lớn. Nếu cung cấp thông tin
đầy đủ thì có nguy cơ xâm phạm đến quyền lợi của nhà đầu tƣ và quyền lợi khách hàng;
- Yêu cầu giữ bí mật về các thông tin liên đến nhà đầu tƣ (trừ các thông tin phải công bố
theo yêu cầu của các cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền) nên các tổ chức này thƣờng rất thận
trọng trong việc CBTT, nhất là các thông tin về khối lƣợng giao dịch của khách hàng.
c) Thông tin từ thực tiễn giao dịch trên thị trường
Các thông tin này theo sát diễn biến hoạt động của thị trƣờng, đây là nguồn đáng tin cậy
cho các nhà đầu tƣ chứng khoán.Các công ty niêm yết trƣớc khi đƣợc niêm yết trên Trung

8
tâm/Sở GDCK phải đáp ứng các điều kiện về minh bạch thông tin và nhƣ vậy, Trung tâm/Sở
GDCK có thể phát hiện, ngăn chặn các hành vi vi phạm chế độ CBTT của các công ty niêm
yết trên TTCK.
d) Thông tin từ cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán

của cổ đông phải tuyệt đối đƣợc tôn trọng.
d) Thông tin công bố phải kịp thời

9
Tính kịp thời của thông tin có ý nghĩa rất quan trọng. Tính kịp thời của thông tin đƣợc
hiểu là, thông qua kênh thông tin, diễn biến hoạt động của công ty đƣợc phản ánh đầy đủ,
thông tin thƣờng xuyên đƣợc cập nhất, tìm kiếm. Khi có những dấu hiệu bất lợi cho công ty
thì phải thông báo kịp thời để cổ đông biết và tìm cách tháo gỡ những khó khăn…Nếu tiêu chí
này đƣợc bảo đảm sẽ hạn chế đƣợc tình trạng cố tình che giấu hoặc không cung cấp thông tin
và hạn chế đƣợc tình trạng thông tin bất cân xứng trên thị trƣờng chứng khoán.
1.1.2.4. Các nhân tố tác động đến hoạt động công bố thông tin trên thị trường chứng
khoán
Cùng với việc phân tích các tiêu chí đánh giá chất lƣợng thông tin trên TTCK, việc nhìn
nhận và đánh giá các nhân tố tác động đến hoạt động CBTT trên TTCK sẽ có tác dụng làm
nổi bật lên vị trí vai trò của thông tin trong hoạt động đầu tƣ chứng khoán. Theo tôi những
nhân tố sau đây sẽ tác động đến việc CBTT trên TTCK:
a) Mức độ phát triển và hoàn thiện của TTCK;
b) Môi trƣờng pháp lý;
c) Thực tiễn hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty;
d) Hoạt động quản lý nguồn thông tin của Sở/Trung tâm GDCK; đ) Nhà quản trị công
ty;
e) Hạ tầng kỹ thuật phục vụ cho hoạt động CBTT.
1.2. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÊN
THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN
1.2.1. Sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động công bố thông
tin trên thị trƣờng chứng khoán
Một là, giá trị của thông tin trong hoạt động đầu tƣ chứng khoán.
Hai là, nguy cơ lạm quyền của ngƣời quản trị công ty.
Ba là, bảo vệ quyền lợi cho cổ đông công ty.
Bốn là, tạo điều kiện cho việc giám sát hoạt động của công ty có hiệu quả hơn.

nghĩa vụ CBTT theo quy định của pháp luật, nâng cao nhận thức của các công ty trong việc
thực hiện nghĩa vụ này; đồng thời cũng góp phần vào việc phát hiện, ngăn chặn các hành vi vi
phạm pháp luật về CBTT, thiết lập trật tự thị trƣờng, bảo đảm thị trƣờng phát triển minh bạch
và bền vững.
LCK ra đời góp phần hoàn chỉnh thể chế về kinh tế thị trƣờng ở nƣớc ta, quán triệt tinh
thần đổi mới của Đảng và Nhà nƣớc thể hiện trong Nghị quyết Đại hội Đảng Cộng sản Việt
Nam lần thứ IX và lần thứ X; khắc phục những khiếm khuyết, bất cập trong khuôn khổ pháp
luật chứng khoán và thị trƣờng chứng khoán (Nghị định 144/2003/NĐ-CP.
Nhƣ vậy, các quy định đã pháp luật về CBTT trên TTCK đƣợc cụ thể ở nhiều cấp độ
văn bản pháp luật khác nhau: LCK 2006, Nghị định 14/2007/NĐ-CP ngày 19/01/2007 của
Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật chứng khoán, Nghị định
36/2007/NĐ-CP ngày 08/03/2007 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực chứng khoán và thị trƣờng chứng khoán, Thông tƣ số 38/2007/TT-BTC hƣớng dẫn về
việc CBTT trên thị trƣờng chứng khoán của Bộ Tài chính Đây là những công cụ pháp lý cần
thiết và hữu hiệu để nhà đầu tƣ đầu tƣ có hiệu quả hơn, góp phần vào ngăn chặn các rủi ro về
thông tin trong đầu tƣ chứng khoán; góp phần vào việc phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi
vi phạm pháp luật về CBTT trên TTCK. Các quy định pháp luật về công bố thông trên TTCK
sẽ trở thành các công cụ hữu hiệu để nhà nƣớc quản lý tốt hơn đối với các chủ thể tham gia thị

11
trƣờng; tạo lập niềm tin của công chúng đầu tƣ vào TTCK và giúp cho thị trƣờng ngày càng
minh bạch hơn.
Từ những phân tích trên, chúng ta có thể rút ra những đặc điểm phát triển pháp luật về
CBTT trên TTCK Việt Nam nhƣ sau:
Một là, các quy định pháp luật về CBTT trên TTCK Việt Nam đã phản ánh đƣợc mức
độ phát triển, các yêu cầu về CBTT trong các giai đoạn phát triển khác nhau của TTCK. Các
quy định pháp luật về CBTT đã đồng hành cùng những biến động, những thăng trầm của
TTCK, nhƣng chính pháp luật về CBTT đã góp phần rất lớn vào việc nâng cao tính minh bạch
trên thị trƣờng, đặc biệt là việc hoàn thiện các thông tin mà các chủ thể tham gia thị trƣờng
phải thực hiện. Đây là cơ sở quan trọng để tạo lập kỷ luật của TTCK nƣớc ta trong những giai

triển TTCK ở hiện tại và tƣơng lai. Hệ thống pháp luật về CBTT cần phải phù hợp với thực
tiễn phát triển thị trƣờng của từng nƣớc tƣơng ứng với mỗi giai đoạn phát triển nhất định.
Luật pháp các nƣớc có những yêu cầu riêng đối với pháp luật về CBTT trên TTCK,
song tất cả chúng đều có một điểm chung là thiết lập trật tự thị trƣờng minh bạch, an toàn và
hiệu quả, bảo đảm TTCK là kênh hữu hiệu nhất để thu hút các nguồn lực trong và ngoài nƣớc
phục vụ cho các mục tiêu phát triển đất nƣớc trong mỗi giai đoạn nhất định.
Những nội dung lý luận đã đƣợc trình bày trong nội dung Chƣơng 1 đƣợc coi nhƣ là hệ
thống lý luận luận giải thực trạng pháp luật về CBTT ở nƣớc ta ở Chƣơng 2 và đề xuất các
quan điểm hoàn thiện pháp luật về CBTT trong giai đoạn hiện nay ở Chƣơng 3.
CHƢƠNG 2
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN
TRÊN THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Cũng giống nhƣ những thị trƣờng mới nổi khác, TTCK Việt Nam cũng chịu tác động rất
lớn của tình trạng thông tin bất cân xứng (thông tin không đầy đủ, khó tiếp cận thông tin, rò rỉ
thông tin, mua bán thông tin nội gián ). Những thăng trầm, biến đổi của TTCK Việt Nam có
một phần “đóng góp” không nhỏ của thông tin trên TTCK. Nhận thức đƣợc điều đó, các nhà
lập pháp nƣớc ta cũng đã quan tâm đến việc xây dựng một hành lang pháp lý thống nhất cho
hoạt động CBTT trên TTCK để bảo đảm cho TTCK phát triển minh bạch, an toàn và phát
triển bền vững. Trong chƣơng này, Luận văn khái quát những kết quả đã đạt đƣợc trong quá
trình thực thi phpá luật về CBTT trên TTCK Việt Nam.
2.1. NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƢỢC
2.1.1. Pháp luật tạo cơ sở pháp lý thống nhất cho hoạt động công bố thông tin của
các chủ thể tham gia thị trƣờng
Luận văn phân tích những quy định về CBTT trong Nghị định 48/1998/NĐ-CP ngày 11
tháng 7 năm 1998 về chứng khoán và TTCK, Quyết định số 04/1999/QĐ-UBCK1 ngày 27
tháng 3 năm 1999 về việc ban hành Quy chế Thành viên, niêm yết, CBTT và GDCK, Nghị
định 144/2003/NĐ-CP về chứng khoán và TTCK và Thông tƣ số 57/2004/TT – BTC ngày
17/06/2004 hƣớng dẫn việc CBTT trên TTCK (sau đây gọi chung là Thông tƣ số 57/2004/TT
– BTC) với nhiều quy định cụ thể, tạo điều kiện cho các tổ chức tham gia thị trƣờng thực hiện
tốt nghĩa vụ CBTT của mình, đồng thời cũng tạo thuận lợi cho việc giám sát hoạt động CBTT

chúng; công ty quản lý quỹ có quản lý quỹ đại chúng/công ty đầu tƣ chứng khoán đại chúng
khi thực hiện CBTT phải đồng thời báo cáo UBCKNN, Sở GDCK hoặc Trung tâm GDCK .
- Việc CBTT phải đƣợc thực hiện đồng thời trên các phƣơng tiện thông tin đại chúng.
Sở GDCK hoặc Trung tâm GDCK cung cấp thông tin về tổ chức niêm yết, công ty quản lý
quỹ có quản lý quỹ đại chúng/công ty đầu tƣ chứng khoán đại chúng; quỹ đại chúng, công ty
đầu tƣ chứng khoán đại chúng cho các công ty chứng khoán thành viên. Các công ty chứng
khoán thành viên có trách nhiệm cung cấp ngay các thông tin trên một cách đầy đủ cho nhà
đầu tƣ.

14
Các quy định về yêu cầu của việc CBTT trên TTCK nêu trên phù hợp với thông lệ quốc
tế cũng nhƣ luật pháp các nƣớc. Các yêu cầu CBTT đã đa dạng hoá các kênh thông tin giúp
cho nhà đầu tƣ dễ dang tiếp cận thông tin, phân tích, đối chiếu thông tin. Trƣờng hợp nhà đầu
tƣ, cơ quan quản lý nhà nƣớc phát hiện ra những bất đồng, mâu thuẫn trong hệ thống thông tin
công bố thi có thể yêu cầu tổ chức phát hành giải trình những mâu thuẫn, những bất đồng đó.
Bên cạnh đó, các phƣơng tiện thông tin đại chúng cũng dễ dàng tiếp cận đƣợc thông tin về
doanh nghiệp, thông tin về thị trƣờng để phân tích, đánh giá, nhận định. Đây là những kết
luận có ý nghĩa rất lớn cho nhà đầu tƣ.
Về đối tƣợng công bố thông tin
Trên cơ sở các quy định của Quyết định số 04/1999/QĐ-UBCK1 ngày 27 tháng 03 năm
1999, Thông tƣ 57/2004/TT-BTC, LCK2006 và Thông tƣ 38/2007/TT – BTC, các đối tƣợng
phải CBTT là:
- Tổ chức phát hành, tổ chức niêm yết, công ty đại chúng, công ty chứng khoán, công ty
quản lý quỹ, công ty đầu tƣ chứng khoán;
- Sở GDCK, Trung tâm GDCK có nghĩa vụ CBTT đầy đủ, chính xác, kịp thời theo quy
định của Luật chứng khoán.
- Các cá nhân liên quan.
Về phƣơng tiện và hình thức công bố thông tin
LCK quy định: hoạt động CBTT đƣợc thực hiện thông qua các phƣơng tiện thông tin
đại chúng, ấn phẩm của tổ chức, công ty và các phƣơng tiện thông tin của Sở GDCK, Trung

Thứ tư, các quy định về CBTT của tổ chức niêm yết; CBTT của công ty chứng khoán,
công ty quản lý quỹ; CBTT về Quỹ đại chúng đƣợc quy định chi tiết, cụ thể hơn.
Thứ năm, CBTT của Sở GDCK, Trung tâm GDCK. Thông tin về GDCK tại Sở GDCK,
Trung tâm GDCK
Thứ sáu, Thông tƣ 38/2007/TT-BTC đã bãi bỏ quy định về hoãn CBTT các chủ thể tham
gia thị trƣờng.
2.2. MỘT SỐ HẠN CHẾ CỦA PHÁP LUẬT VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÊN
THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Với những kết quả đã đạt đƣợc nhƣ đã phân tích ở trên, thực tiễn thi hành pháp luật về
CBTT trên TTCK cũng nhƣ các yêu cầu về xây dựng và hoàn thiện pháp luật về chứng khoán
và TTCK, các quy định vê CBTT vẫn còn tồn tại những hạn chế. Cụ thể là:
Một là, pháp luật về CBTT chƣa làm rõ “các cá nhân khác liên quan” trong đối tƣợng
CBTT.
Hai là, pháp luật về CBTT chƣa quy định cụ thể các biện pháp xử lý khi các chủ thể
tham gia thị trƣờng không tuân thủ các quy định về phƣơng tiện và hình thức CBTT, biện
pháp xử lý hiện nay mới dừng lại ở việc nhắc nhở, khuyến cáo tổ chức phát hành; chƣa quy
định cụ thể nghĩa vụ cập nhật thông tin lên trang thông tin điện tử của các chủ thể tham gia thị
trƣờng.
Ba là, các quy định về xử lý vi phạm pháp luật về CBTT chƣa cụ thể rõ ràng
Bốn là, các quy định pháp luật về CBTT chƣa bảo đảm sự giám sát của cổ đông, cơ
quan quản lý nhà nƣớc đối với hoạt động CBTT
Năm là, pháp luật về CBTT của nƣớc ta mới chỉ quan tâm đến việc yêu cầu các chủ thể
có nghĩa vụ CBTT công bố những thông tin trong quá khứ (thông tin định kỳ, thông tin bất

16
thƣờng, thông tin theo yêu cầu của cơ quan quản lý ) mà chƣa quy định cụ thể việc CBTT
trong tƣơng lai.
Sáu là, quy định pháp luật về quyền đƣợc tiếp cận thông tin của cổ đông thiểu số, các
biện pháp chống lại các hành vi trục lợi từ tình trạng thông tin bất cân xứng của cổ đông lớn
chƣa đƣợc quy định cụ thể rõ ràng.


17
thƣờng xuyên cập nhật các thông tin lên Website của công ty mình đã gây không ít
khó khăn cho nhà đầu tƣ trên thị trƣờng. Những bất cập trong các quy định pháp luật
về CBTT cần đƣợc tuân thủ chặt chẽ để bảo đảm cho hệ thống thông tin trên thị trƣờng
minh bạch, thông suốt, giúp cho nhà đầu tƣ giảm thiểu đƣợc các rủi ro trong đầu tƣ
chứng khoán.
Củng cố niềm tin của nhà đầu tƣ vào TTCK cần có sự nỗ lực từ hai phía, nhà đầu
tƣ và Uỷ ban chứng khoán nhà nƣớc – cơ quan quản lý nhà nƣớc về chứng khoán và
TTCK. Nhà đầu tƣ cần trang bị cho mình những kỹ năng cơ bản khi đọc và phân tích
một báo cáo tài chính và khi phát hiện ra thông tin có vấn đề thì cần kiểm chứng kịp
thời nhƣ hỏi công ty, tham vấn ý kiến của chuyên gia UBCKNN cần phải có những giải
pháp để hoàn thiện pháp luật về CBTT trong tình hình mới.
CHƢƠNG 3
MỘT SỐ Ý KIẾN NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ
CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÊN THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN
VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
3.1. CƠ SỞ CỦA VIỆC HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN
TRÊN THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
- Xu hƣớng phát triển của thị trƣờng chứng khoán Việt Nam – yêu cầu phải có hệ thống
thông tin về thị trƣờng chứng khoán khách quan minh bạch, công khai, kịp thời
- Mối liên hệ của thị trƣờng chứng khoán Việt Nam với thị trƣờng chứng khoán của các
nƣớc trong khu vực và trên thế giới đặt ra yêu cầu phải thiết lập đƣợc hệ thống thông tin có
chất lƣợng
- Mục tiêu phát triển dài hạn của việc phát triển thị trƣờng vốn nƣớc ta, trong đó có thị
trƣờng chứng khoán
- Củng cố lòng tin của nhà đầu tƣ cũng nhƣ tăng cƣờng sự quản lý nhà nƣớc về chứng
khoán và thị trƣờng chứng khoán
- Xây dựng và hoàn thiện pháp luật về thị trƣờng chứng khoán Việt Nam trƣớc yêu cầu
hội nhập quốc tế và thực thi các cam kết quốc tế về mở cửa thị trƣờng dịch vụ chứng khoán

quan đến việc thực hiện nghĩa vụ CBTT khi tham gia thị trƣờng.
Thứ tư, đẩy mạnh việc phổ biến, tuyên truyền pháp luật về CBTT trên TTCK; thƣờng
xuyên tổ chức các buổi đối thoại giữa UBCKNN với các Sở/Trung tâm GDCK và các chủ thể
tham gia thị trƣờng để kịp thời phát hiện và xử lý kịp thời các điểm bất cập trong các quy định
về CBTT để kịp thời sửa đổi bổ sung. Bên cạnh đó thƣờng xuyên tổ chức các buổi hội thảo,
toạ đàm để tìm kiếm các giải pháp nâng cao hiệu quả pháp luật về CBTT trên TTCK.
3.2.2. Kiện toàn các quy định về xử lý vi phạm pháp luật về công bố thong tin trên thị
trường chứng khoán Việt Nam
Thứ nhất, nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát thị trƣờng, giám sát việc thực hiện các
nghĩa vụ của các chủ thể tham gia thị trƣờng.
Thứ hai, Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh xử phạt vi
phạm hành chính ngày 02/04/2008 (sau đây gọi chung là Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính
sửa đổi 2008) đã có nhiều quy định mới về mức phạt và thẩm quyền xử phạt vi phạm hành

19
chính trong đó có các quy định về chứng khoán và TTCK. Những điểm mới này cần phải sửa
đổi, bổ sung kịp thời.
Thứ ba, bổ sung các tội phạm về chứng khoán và TTCK vào Bộ luật hình sự 1999.
3.2.3. Một số giải pháp khác
Một là, Nâng cao hiệu quả của pháp luật về quản trị công ty.
Hai là, Nâng cao vai trò của ngƣời quản trị công ty trong hoạt động CBTT trên TTCK
Việt Nam.
Ba là, đối với các nhà đầu tƣ cần trang bị kỹ năng chọn lọc, phân tích thông tin trƣớc
khi đƣa ra quyết định đầu tƣ để giảm thiểu các rủi ro phát sinh.
Bốn là, Nâng cao vai trò của Hiệp hội kinh doanh chứng khoán trong việc bảo đảm tính
minh bạch trên thị trƣờng.
Năm là, Nâng cao hiệu quả hoạt động của báo giới, làm rõ vai trò của báo giới trong
hoạt động CBTT trên TTCK.
KẾT LUẬN
1. Pháp luật về CBTT trên TTCK Việt Nam là một bộ phận không thể thiếu của thị

nhân tố quan trọng nhất để giảm thiểu các rủi ro thông tin trong đầu tƣ chứng khoán.
2. Từ đầu năm 2008 đến nay, nhà đầu tƣ chứng khoán nƣớc ta đã buộc phải nhìn nhận
lại sự phát triển “quá nóng” và đang mỏi mắt mong chờ nó “quay đầu trở lại”. Điều này thật
dễ hiểu bởi nhà đầu tƣ đã đổ không ít tài sản, trí tuệ của mình trên TTCK. Đã không ít nhà
đầu tƣ “muốn bán” để quay sang đầu tƣ vào lĩnh vực khác nhƣ vàng, bất động sản, ngoại tệ
nhƣng thật khó, bởi trên bảng điển tử là “một dòng sông máu” - tức là nhà đầu tƣ đang đứng
trƣớc sự lựa chọn thua lỗ và chờ đợi thị trƣờng tăng điểm. Cả hai lựa chọn này đều không dễ
dàng đối với bất cứ nhà đầu tƣ nào. Bình tĩnh là một yêu cầu mang tính sống còn, nó thật sự
có ý nghĩa không chỉ trong các quan hệ ứng xử mà còn trong cả việc ra quyết định đầu tƣ.
Nhà đầu tƣ hãy khoan nghĩ tới những lợi nhuận mà mình có thể thu đƣợc từ quyết định đầu tƣ
mà hãy xem xét quyết định đầu tƣ đó dựa trên những thông tin nào. Để làm đƣợc điều này,
nhà đầu tƣ phải có đƣợc thông tn đầy đủ, chính xác, khách quan; hoạt động CBTT phải đƣợc
thực hiện nghiêm chỉnh.
Luận giải những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về CBTT trên TTCK Việt Nam,
Luận văn đã chỉ rõ đƣợc cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hoàn thiện, đồng thời chỉ ra đƣợc
một số giải pháp để hoàn thiện pháp luật về CBTT trên TTCK Việt Nam trong giai đoạn hiện
nay. Những luận giải trong Luận văn khó có thể đáp ứng đƣợc yêu cầu ngày càng cao của thị
trƣờng, của công chúng đầu tƣ và hoạt động quản lý nhà nƣớc về chứng khoán và TTCK,
nhƣng tác giả luận văn mong muốn những ý kiến, những đề xuất trong luận văn này góp một
vài ý kiến nhỏ vào quá trình hoàn thiện pháp luật về CBTT trên TTCK Việt Nam.
Tuy nhiên, sự phát triển của TTCK nƣớc ta đang chịu sự tác động của tiến trình toàn
cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế thì các quy định pháp luật về CBTT vẫn cần đƣợc tiếp tục
nghiên cứu và làm rõ hơn trong những giai đoạn tiếp theo.

References
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
I. SÁCH THAM KHẢO.
* Sách của tác giả nƣớc ngoài

21

nghiệm của Nhật Bản và liên hệ với Việt Nam”, Tạp chí Chứng khoán Việt Nam, số 3,
4/2005.

22
15. TS Đào Lê Minh (2006) “Nhu cầu và khả năng xây dựng Luật chứng khoán: Nhìn từ
kết quả của một cuộc điều tra”, Tạp chí Những vấn đề kinh tế thế giới số 4(120) 2006,
tr 49-56.
16. TS Đào Lê Minh, “Một số vấn đề chủ yếu về hoạt động của thị trƣờng chứng khoán
Việt Nam giai đoạn 2000-2006”, Tạp chí Những vấn đề kinh tế thế giới số 7(123)
2006, tr 48-56
17. Trần Đức Nam (2007), “Thông tin tài chính minh bạch - Hiểu sao cho đúng”, (Bài viết
www.saga.vn hợp tác báo Doanh nhân Sài Gòn cuối tuần, số 204 ra ngày 29/06/2007).
18. PGS.,TS Lê Hoàng Nga (2007) “Cách thức đầu tƣ và phòng chống rủi ro chứng khoán
đối với nhà đầu tƣ cá nhân tham gia TTCK”, Tạp chí Chứng khoán Việt Nam, số 103,
tháng 5/2007, tr 8-11.
19. TS Nguyễn Minh Phong (2007) “Nhận diện những rủi ro trong đầu tƣ chứng khoán”,
Tạp chí Tài chính số tháng 5, tr 43-45
20. Ths Dƣơng Thị Phƣợng (2007) “Mô hình giám sát thị trƣờng chứng khoán của Hàn
Quốc”, Tạp chí Chứng khoán Việt Nam số 104 tháng 6/2007, tr 41.
21. TS Vƣơng Hoàng Quân “Hạn chế của truyền thông tài chính ở Việt Nam”, Bài đăng
trên báo Đầu tư Chứng khoán Số 19 (387) ngày 05/03/2007
22. TS Nguyễn Thế Thọ (2006) “Nâng cao tính minh bạch trên TTCK Việt Nam thực
trạng và nhóm giải pháp”, Tạp chí chứng khoán Việt Nam số tháng 9, 10 năm 2006.
23. Bài phỏng vấn TS Đinh Thị Mỹ Loan, Cục trƣởng Cục Quản lý cạnh tranh Bộ Công
Thƣơng về “cạnh tranh và tính minh bạch” của Thanh Hằng trên Tạp chí Nhà quản lý
số 9/2007.
24. Ban phát triển thị trƣờng Uỷ Ban chứng khoán Nhà nƣớc (2007) “Giải pháp phát triển
bền vững thị trƣờng chứng khoán Việt Nam”, Tạp chí Chứng khoán Việt Nam số 105
tháng 7/2007, tr 11-15.
25. Ban pháp chế Uỷ ban Chứng khoán Nhà nƣớc (2007) “Xây dựng khuôn khổ pháp lý

2bc2e5/32981b7742dd58a74725742e00183126?OpenDocument “Giải trình biến
động giá: Hoà cả làng!”
38. “Kinh nghiệm phát triển thị
trường chứng khoán ở một số nước Châu Á”
39. lý
Thị trường chứng khoán Châu Á - Một số nhận định cơ bản về sự mở cửa TTCK khu
vực”
40. “Cách củng cố thị trƣờng chứng khoán
của ngƣời Trung Quốc” (Nhật Vy)
41. “Thị trường chứng khoán Trung
Quốc, hỗn độn bên trong vỏ đông cứng!” (Theo World trade newspaper).

24
42. “Thị trường chứng khoán Trung
Quốc: Lại lo nóng” (Thiện Nguyễn).
43. “Thị trường chứng
khoán Trung Quốc tăng cường quản lý và thúc đẩy phát triển”
44. “Trung Quốc:
Cảnh báo “bong bóng” chứng khoán”
45. />D/View/Dien-dan-
ACBF/Thi_truong_tai_chinh_chung_khoan_ASEAN_10_nam_sau_khung_hoang/?pri
nt=1201568804 “Thị trường tài chính, chứng khoán ASEAN: 10 năm sau khủng
hoảng” (Bài tham luận về: “Thị trƣờng tài chính, chứng khoán ASEAN: 10 năm sau
khủng hoảng” của Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển
nông thôn Việt Nam tại Diễn đàn doanh nghiệp thủ đô các nƣớc ASEAN.).
46. />bay-dan-va-ttck-vie.html, “Tài chính học hành vi, tâm lý bầy đàn và thị trường chứng
khoán Việt Nam”
47. “Nghiên cứu thông tin để đầu tư chứng
khoán”.
48. />3e , “Đầu tư chứng khoán: Sợ… rủi ro chính sách” (Minh Đức)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status