Nghiên cứu quy trình phân tích hàm lượng pb, cd, zn trong mẫu nước sông bằng phương pháp von ampe hòa tan sử dụng điện cực glassic cacbon phủ màng bitmut - Pdf 26

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI KHOA CÔNG NGHỆ HÓA
LỜI CẢM ƠN
Bài khóa luận này được hoàn thành tại phòng thí nghiệm– Khoa Công
nghệ hóa – Trường đại học Công Nghiệp Hà Nội.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong khoa công nghệ Hóa -
Trường Đại học Công Nghiệp Hà Nội đã dạy dỗ, chỉ bảo cho em trong suốt
thời gian học tập tại Trường.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo Th.s Nguyễn Thị Thu
Phương, trong suốt thời gian làm khóa luận cô là người đã hướng dẫn và chỉ
bảo em tận tình.
Để hoàn thành bài khóa luận này cùng với sự cố gắng của bản thân
mình em còn nhận được sự động viên, ủng hộ từ gia đình, bạn bè.
Mặc dù có nhiều cố gắng, song do hạn chế về tài liệu, kiến thức, thời
gian cũng như kinh nghiệm thực tế, nên sẽ không tránh khỏi những thiếu sót
trong quá trình thực hiện, nghiên cứu. Em rất mong nhận được ý kiến đóng
góp của các thầy cô để bản báo cáo được đầy đủ hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 6 năm 2012
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP 1 SV: DƯƠNG HUY CƯỜNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI KHOA CÔNG NGHỆ HÓA
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC HÌNH VẼ
MỞ ĐẦU
Ô nhiễm môi trường từ lâu đã là vấn đề được nhiều nước trên thế giới
quan tâm, bởi những ảnh hưởng rất lớn của nó đến sự tồn tại và phát triển của
giới sinh vật đặc biệt là con người trên trái đất. Sự ô nhiễm môi trường làm
mất cân bằng sinh thái, đa dạng sinh học, tác động xấu đến con người và hậu
quả của nó không thể lường trước được. Hội nhập với sự phát triển của toàn
cầu, ở Việt Nam trong những năm gần đây đã có những chuyển biến lớn về

pháp hiện đại và cho kết quả rất tốt. Tuy nhiên, lại chưa có nhiều đề tài đi sâu
nghiên cứu xác định hàm lượng kim loại nặng trong nguồn nước sông.
Với mong muốn nghiên cứu quy trình phân tích hàm lượng Pb, Cd, Zn
bằng phương pháp Von-ampe hòa tan sử dụng điện cực glassic cacbon phủ
màng bitmut và ứng dụng để phân tích hàm lượng của các ion này trong mẫu
nước sông nên em chọn đề tài “Nghiên cứu quy trình phân tích hàm lượng Pb,
Cd, Zn trong mẫu nước sông bằng phương pháp Von-ampe hòa tan sử dụng
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP 3 SV: DƯƠNG HUY CƯỜNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI KHOA CÔNG NGHỆ HÓA
điện cực glassic cacbon phủ màng bitmut”. Trong đề tài này em đã thực hiện
các công việc sau:
- Khảo sát các thông số tối ưu của máy để tiến hành xác định các ion
cần phân tích bằng phương pháp von-ampe hòa tan xung vi phân
- Nghiên cứu xây dựng đường chuẩn thể hiện sự phụ thuộc chiều cao
pic hòa tan vào nồng độ ion kim loại
- Áp dụng các điều kiện tối ưu và phương pháp phân tích xác định hàm
lượng Cd
2+
, Pb
2+
, Zn
2+
trong một số mẫu nước sông trên địa bàn thành phố Hà
Nội
- Kết luận về tình hình ô nhiễm kim loại nặng trong một số mẫu sông
phân tích
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN
I.1 TỔNG QUAN VỀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
I.1.1. Nước sông [4,13]

con người gần vùng sông đó.
Ngày nay, tình trạng ô nhiễm và suy thoái nước sông đang phổ biến ở
các khu vực đô thị cũng như là các khu công nghiệp lớn trên thế giới. Để hạn
chế tác động các yếu tố ô nhiễm và suy thoái nước sông cần tiến hành đông
bộ các công tác điều tra thăm dò trữ lượng và chất lượng nguồn nước sông, xử
lý nước thải và chống ô nhiễm các nguồn nước mặt, quan trắc thường xuyên
trữ lượng và chất lượng nước sông.
I.1.2. Nước sông bị ô nhiễm kim loại nặng [13,20]
Kim loại nặng có Hg, Cd, Pb, As, Sb, Cr, Cu, Zn, Mn, v.v…thường
không tham gia hoặc ít tham gia vào quá trình sinh hóa của các thể sinh vật
mà thường tích lũy trong cơ thể chúng. Vì vậy, chúng là các nguyên tố độc
hại với sinh vật và con người. Hiện tượng nước bị ô nhiễm kim loại nặng
thường gặp trong các lưu vực nước gần các khu công nghiệp, các thành phố
lớn, khu vực khai khoáng và khu vực có lượng thuốc trừ sâu thải ra lớn. Ô
nhiễm kim loại nặng biểu hiện ở nồng độ cao của các kim loại nặng trong
nước. Trong một số trường hợp, xuất hiện hiện tượng cá và thủy vật chết hàng
loạt.
Nguyên nhân chủ yếu gây ô nhiễm kim loại nặng là quá trình đổ vào
môi trường nước thải công nghiệp và nước thải độc hại không qua xử lý hoặc
xử lý không đạt yêu cầu. Ô nhiễm nước bởi kim loại nặng có tác động tiêu
cực tới môi trường sống của sinh vật và con người. Kim loại nặng tích lũy
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP 5 SV: DƯƠNG HUY CƯỜNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI KHOA CÔNG NGHỆ HÓA
theo chuỗi thức ăn thâm nhập vào cơ thể người. Nước mặt bị ô nhiễm sẽ lan
truyền các chất ô nhiềm vào nước ngầm, vào đất và các thành phần môi
trường liên quan khác. Để hạn chế ô nhiễm nước cần phải tăng cường biện
pháp xử lý nước công nghiệp, quản lý tốt vật nuôi trong môi trường có nguy
cơ bị ô nhiễm như nuôi cá, trồng rau bằng nguồn nước thải.
I.2. KIM LỌA NẶNG VÀ ĐỘC TÍNH CỦA CHÚNG [4,13,22]

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI KHOA CÔNG NGHỆ HÓA
- Nhóm các phương pháp phân tích hóa học
- Nhóm các phương pháp phân tích công cụ
I.3.1.Các phương pháp cực phổ
• Nguyên tắc của phương pháp
Nhóm các phương pháp phân tích cực phổ là những phương pháp quan
trọng nhất trong số các phương pháp phân tích điện hóa. Các phương pháp
này đều dựa trên lý thuyết về quá trình điện cực, phụ thuộc chủ yếu vào việc
đưa chất điện hoạt từ trong lòng dung dịch đến bề mặt điện cực làm việc và
ghi đường von-ampe (đường biểu diễn sự phụ thuộc cường độ dòng Faraday
vào giá trị thế của điện cực làm việc so với điện cực so sánh)
I.3.2 Phương pháp trắc quang
• Nguyên tắc của phương pháp
Phương pháp xác định dựa trên việc đo độ hấp thụ ánh sáng của một dung
dịch phức tạo thành giữa ion cần xác định với một thuốc thử vô cơ hay hữu cơ
trong môi trường thích hợp khi được chiếu bởi chùm sáng. Phương pháp định
lượng phép đo:
A = K.C
Trong đó: A: độ hấp thụ quang
K: hằng số thực nghiệm
C: nồng độ nguyên tố phân tích
I.4. CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA PHƯƠNG PHÁP VON-AMPE HÒA
TAN
Phương pháp vôn-ampe hòa tan là phân nhóm điện hóa hòa tan. Trong
điện hóa, điện phân là phương pháp làm giàu rất tốt, bằng cách này có thể tập
trung một lượng lớn lên bề mặt điện cực. Với các dung dịch loãng, nồng độ
kim loại được kết tủa trên bề mặt điện cực lớn hơn rất nhiều lần nồng độ ion
kim loại đó trong dung dịch. Sự kết hợp giữa cực phổ, điện phân làm giàu và
quá trình hòa tan kết tủa là nguyên tắc nguyên tắc cơ bản của phương pháp
von-ampe hòa tan.

+ Hg + ne M(Hg) (1.1)
Hoặc : M
n+
+ ne M
0
( trên bề mặt điện cực trơ)
- Giai đoạn hòa tan: Quét thế anot
M(Hg) – ne M
n+
+ Hg
Hoặc : M
0
– ne M
n+
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP 8 SV: DƯƠNG HUY CƯỜNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI KHOA CÔNG NGHỆ HÓA
Trong trường hợp von-ampe hòa tan anot để chọn thế điện phân làm
giàu (E
dp
), người ta dựa vào phương trình Nernst hoặc một cách gần đúng dựa
vào giá trị thế bán sóng (E
1/2
) trên sóng cực phổ của chất cần phân tích. Ở đây
E
dp
được chọn phải âm hơn sơ với thế E
1/2
. Hoặc người ta dùng phương trình
đường cong cực phổ dòng một chiều và thế bán sóng của mỗi nguyên tố để

– (1.4)
Từ phương trình (1.4), ta thấy chỉ cần thế điện phân âm hơn thế bán
sóng một giá trị là (V) thì các giá trị của dòng đã đạt được giá trị cường độ
dòng khuếch tan giới han. Mặt khác, khi số electron tham gia phản ứng kết
tủa càng lớn thì sự chênh lệch giữa E
dp
và E
1/2
càng nhỏ.
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP 9 SV: DƯƠNG HUY CƯỜNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI KHOA CÔNG NGHỆ HÓA
Tuy nhiên, trong thực tế thế điện phân không phải lúc nào cũng được
xác định theo phương trình trên mà còn phụ thuộc vào sự có mặt của các ion
khác hoặc bản chất của dung dịch nền.
Làm giàu chất phân tích lên bề mặt điện cực dưới dạng hợp chất khó
tan hoặc hợp chất với các ion kim loại dùng làm điện cực hay một ion nào đó
có trong dung dịch. Phương pháp này áp dụng cho cả anion và cation. Trong
phương pháp này, E
dp
được chọn dương hơn so với E
1/2
và nếu phân tích kim
loại mà hợp chất của nó với một thuốc thử nào đó có thể kết tủa trên bề mặt
điện cực làm việc, chẳng hạn như điện cực rắn trơ thì các phản ứng xảy ra
như sau:
Giai đoạn làm giàu: giữ E
dp
không đổi.
M

4
2-
,
VO
3
2-
, PO
4
3-
….)
Làm giàu chất phân tích lên bề mặt điện cực dưới dạng hợp chất phức
hấp phụ: Theo hai phương pháp này chất cần phân tích tạo phức với một phối
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP 10 SV: DƯƠNG HUY CƯỜNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI KHOA CÔNG NGHỆ HÓA
tử nào đó trng dung dịch và được hấp phụ lên bề mặt điện cực. Phản ứng có
thể tóm tắt như sau:
Giai đoạn làm giàu: giữ E
dp
không đổi
Trong trường hợp đơn giản nhất, Me
n+
phản ứng với L theo phương
trình (1.9). Phản ứng này xảy ra trong dung dịch và đây là giai đoạn hóa học
của quá trình:
M
n+
+ nL → ML
n
n+

hòa tan I
p
phụ thuộc vào các yếu tố như: nền điện ly, pH, chất tạo phức, bản
chất điện cực làm việc, kỹ thuật ghi đường von-ampe hòa tan, Lund và
Onshus đã thiết lập được phương trình của I
p
và E
p
khi hòa tan các hợp chất
trên điện cực giọt thủy ngân treo (HMDE) sử dụng kĩ thuật xung vi phân:
I
p
= k.n
2
.r.ΔE.V
1/2
.t.c
Trong đó:
k: hằng số
n: số electron trao đổi
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP 11 SV: DƯƠNG HUY CƯỜNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI KHOA CÔNG NGHỆ HÓA
r: bán kính giọt thủy ngân
ΔE: biên độ xung
V: tốc độ quét thế
t: thời gian điện phân
c: nồng độ chất phân tích
và E
p

phổ biến nhất đó là: thủy ngân, kim loại quý (vàng, platin). Trong đề tài này
chúng em sử dụng điện cực màng bitmut.
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP 12 SV: DƯƠNG HUY CƯỜNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI KHOA CÔNG NGHỆ HÓA
I.4.3.1. Giới thiệu về điện cực màng bitmut [19, 21, 22, 23]
Do những độc tính cao của thủy ngân ( khi sử dụng điện cực HMDE
hoặc màng thủy ngân – MFE ), nên trong vài thập niên qua , nhiều công trình
nghiên cứu đã tập trung tìm kiếm kim loại thay thế thủy ngân . Trong các kim
loại đó , bitmut là kim loại ưu dùng do bitmut là kim loại thân thiện với môi
trường . Điện cực màng bitmut (BiFE) được nghiên cứu và phát triển từ năm
2000 đến nay .
Tương tự như điện cực MFE , điện cực BiFE cũng được chế tạo theo
kiểu in situ hoặc ex situ . Các nghiên cứu tập trung vào hai phương pháp ASV
và AdSV.
Có 2 phương pháp để chế tạo màng bitmut :
Điện cực màng bitmut ex situ thường được tạo ra bằng cách điện phân
dung dịch Bi(III) có nồng độ từ 5 đến 200 ppm trong môi trường đệm axetat
(pH ~ 4,5) ở thế khoảng – 500 ÷ 1200 mV trong thời gian từ 1 đến 8 phút trên
điện cực đĩa than thủy tinh khi đó điện cực được quay với tốc độ không đổi .
Điện cực màng bitmut in situ được tạo ra bằng cách điện phân dung
dịch Bi(III) ( Bi(III) được thêm trực tiếp vào dung dịch phân tích ). Màng
bitmut in situ được tạo thành ngay trong quá trình điện phân làm giàu chất
phân tích .
So với điện cực kiểu ex situ, điện cực kiểu in situ có nhiều thuận lợi hơn :
- Cho phép giảm thời gian phân tích và đơn giản trong thao tác thí
nghiệm
- Hoạt tính điện hóa của màng kim loại giảm không đáng kể do không
phải di chuyển từ dung dịch này sang dung dịch khác
- Giảm khả năng nhiễm bẩn và luôn tạo ra một màng mới sau mỗi

trường điện phân bao gồm Bi(NO
3
)
3
0,2M, HCl 1M và LiBr 0,5M với thế điện
phân là – 280 mV trong dung dịch chuyển động
- Phương pháp tạo màng bitmut in situ:
Trong phương pháp này, ion Bi
III
được thêm trực tiếp vào dung dịch
mẫu thử và màng bitmut in situ được tạo thành trong quá trình phân tích. Khi
lựa chọn phương pháp này để tạo màng bitmut ,điều kiện điện phân tạo màng
phụ thuộc vào các điều kiện được sử dụng cho quy trình phân tích thực tế .
Màng bitmut in situ làm đơn giản hóa và rút ngắn thời gian phân tích vì
không đòi hỏi giai đoạn tạo màng bitmut riêng. Hạn chế của màng bitmut in
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP 14 SV: DƯƠNG HUY CƯỜNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI KHOA CÔNG NGHỆ HÓA
situ là chỉ được sử dụng trong một khoảng pH nhất định, do ion Bi
III
rất dễ bị
thủy phân trong môi trường kiềm và trung tính theo phản ứng :
Bi
3+
+ 3H
2
O → Bi(OH)
3
+ 3H
+


TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI KHOA CÔNG NGHỆ HÓA
I.4.4. Các kỹ thuật ghi đường von-ampe hòa tan [1,2, 18,21]
I.4.4.1. Kỹ thuật von-ampe hòa tan xung vi phân (DPSV)
Kỹ thuật DPSV là kỹ thuật được sử dụng phổ biến nhất hiện nay. Điện
cực được phân cực bởi một điện áp một chiều biến thiên tuyến tính, vào cuối
mỗi chu kỳ sẽ đạt thêm một xung vuông góc có biên độ không đổi. Tùy theo
từng thiết bị mà biên độ xung có thể thay đổi từ 10-100mV và bề rộng xung
không đổi trong khoảng 30-100 ms được đặt chồng lên mỗi bước thế. Dòng
được ghi hai lần: 17 ms trước khi nạp xung (I
1
) và 17 ms trước khi ngắt xung
(I
2
), khoảng thời gian ghi dòng thông thường là 10-30 ms. Dòng thu được là
hiệu của giá trị dòng đó (I=I
1
-I
2
) và được ghi là hàm của thế đặt lên điện cực
làm việc
Khi xung thế được áp vào, dòng tổng cộng trong hệ tăng lên do sự tăng
dòng Faraday (I
f
) và dòng tụ điện (I
c
). Dòng tụ điện giảm nhanh hơn nhiều so
với dòng Faraday vì:
I
c

nói chung là tương đương nhau.
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP 16 SV: DƯƠNG HUY CƯỜNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI KHOA CÔNG NGHỆ HÓA
I.4.5. Ưu điểm của phương pháp von-ampe hòa tan. Các hướng ứng
dụng, phát triển của phân tích điện hóa hòa tan [6]
I.4.5.1 Ưu điểm của phương pháp von-ampe hòa tan trong việc xác định
lượng vết kim loại.
Trong phân tích xác định hàm lượng các kim loại cỡ vết (cỡ ppm hay
<10
6
M) hay siêu vết (cỡ ppt hay 10
-9
), phương pháp von-ampe hòa tan là
phương pháp hay được lựa chọn, bởi vì một số các ưu điểm nổi bật của nó.
 Có độ nhạy, độ chọn lọc cao, có khả năng xác định đồng thời nhiều kim
loại. phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử có giới hạn phát hiện
(GHPH) tương đương song mỗi lần chỉ xác định được một nguyên tố, chi phí
thiết bị cao. Phương pháp quang phổ phát xạ plasma, khối phổ plasma và kích
hoạt notron tuy xác định được nhiều kim loại và có GHPH tương đương hoặc
thấp hơn nhưng chi phí thiết bị cao hơn nhiều.
 Thiết bị dùng trong phương pháp von-ampe hòa tan không đắt gọn tiết
kiệm điện năng. Đầu tư thiết bị tăng độ nhạy rẻ, dễ tiết kế tự động hóa, phân
tích trực tiếp tại hiện trường và nối ghép làm detecto cho các phương pháp
khác.
 Quy trình phân tích phương pháp đơn giản, phân tích nhiều đối tượng

không cần tách triết hay trao đổi ion. Việc lựa chọn đúng các điều kiện tối ưu
như thế điện phân, nền điện li, pH… còn giảm thiểu cản trở các nguyên tố
khác.

I.5. Tình hình sử dụng phương pháp Von-ampe hòa tan để phân tích
lượng vết kim loại nặng.
I.5.1 Nước ngoài.
Ở Thụy Sỹ phương pháp von-ampe hòa tan được công nhận là phương
pháp tiêu chuẩn để kiểm tra chất lượng nước.
Ở Mỹ, Hội hóa học đã thừa nhận đây là phương pháp hiệu quả để xác
định lượng vết kim loại nặng trong tất cả các đối tượng cần phân tích kiểm
tra.
I.5.2. Trong nước.
Nhiều tác giả Việt Nam đã sử dụng phương pháp von-ampe hòa tan để
xác định lượng vết kim loại nặng trong nước mặt ở các hồ như: Hồ Tây, Hồ
Trúc Bạch, Hồ Thành Công. Các kết quả đo cho thấy hàm lượng các kim loại
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP 18 SV: DƯƠNG HUY CƯỜNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI KHOA CÔNG NGHỆ HÓA
nặng vượt quá mức tiêu chuẩn cho phép theo TC-VN: 5942-1995. Ngoài ra
còn có một số công trình công bố kết quả xác định được hàm lượng các kim
loại nặng và một số ion NH
4
+
, NO
2
+
, NO
3
+
, PO
4
3-
trong nước mặt của sông Tô

z: Hệ số tuỳ thuộc vào độ tin cậy thống kê
z = 3 đạt được độ tin cậy thống kê là 99,9%
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP 19 SV: DƯƠNG HUY CƯỜNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI KHOA CÔNG NGHỆ HÓA
Nếu dùng đường chuẩn Ip = a.C + b thì có thể thay Ip
0
= b (khi đo mẫu trắng);

o
= t.s . Trong đó s: độ lệch chuẩn tính theo công thức:
y
DL
= b + t.s
Khi đo mẫu trắng Ip
0
= b = 0 thì Ip = a.C
DL
= z.σ
o
= t.s = 3.s, từ đó rút ra:

Trường hợp không phân tích mẫu trắng thì có thể xem như độ lệch chuẩn mẫu
trắng đúng bằng sai số của phương trình hồi quy, tức là s = s
y
. Khi đó
(với s
y
=
( )

C
DL
.3
=
a
s
C
y
DL
.3
=
a
s
C
y
Q
.10
=
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI KHOA CÔNG NGHỆ HÓA
CHƯƠNG II: DỤNG CỤ - HÓA CHẤT
II.1. THIẾT BỊ - DỤNG CỤ
Việc đo và ghi dòng cực phổ xung vi phân hòa tan được thực hiện trên
máy phân tích điện hóa CPA – HH3 do phòng ứng dụng tin học trong nghiên
cứu hóa học – Viện Hóa Học sản xuất
Hình 2.1.Máy đo điện thế đa năng
- Hệ điện cực gồm có 3 điện cực:
+ Điện cực làm việc (WE): Điện cực màng thủy ngân (MFE) là một
màng mỏng thủy ngân trên bề mặt điện cực than thủy tinh có đường kính (2÷4
mm). Trên bề mặt điện cực xảy ra quá trình hòa tan và làm giàu chất cần phân
tích.

Xuất kết quả đo ra máy in
Xử lý kết quả đoLưu trữ kết quả đo
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI KHOA CÔNG NGHỆ HÓA
Hình 2.2.Sơ đồ của phép đo von-ampe hòa tan trên máy đo điện hóa
đa năng
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP 23 SV: DƯƠNG HUY CƯỜNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI KHOA CÔNG NGHỆ HÓA
II.2. HÓA CHẤT
- Các loại hóa chất được dùng đều thuộc loại tinh khiết do hãng
Merck sản xuất
- Nước cất sử dụng để pha dung dịch là nước cất hai lần
- Muối KCl, axit HCl đặc, HF đặc, HNO
3
đặc, CH
3
COOH đặc,
CH
3
COONa, NaOH 1N đều do Merck sản xuất
- Dung dịch Cd
2+
25µg/l được pha từ dung dịch chuẩn có nồng độ
1000ppm do Merck sản xuất
- Dung dịch Pb
2+
25µg/l được pha từ dung dịch chuẩn có nồng độ
1000ppm do Merck sản xuất
- Dung dịch Zn
2+

y
m
ẫu
T D
MSô
ng

Lị
ch

Đ
oạ
n
ch
ảy
qu
a
NC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP 25 SV: DƯƠNG HUY CƯỜNG

Trích đoạn KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP 29 SV: DƯƠNG HUY CƯỜNG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP 34 SV: DƯƠNG HUY CƯỜNG 1,3503 Giá trị trung bình17,
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status