VTiểu Luận Tìm hiểu sự tác động của môi trường đến sự hình thành và phát triển nhân cách học sinh Trung học phổ - Pdf 26

TL: Giáo Dục Học 1
A. Phần mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Mổi con người sinh ra và lớn lên ai cũng cần một không gian nhất định để
phục vụ cho các hoạt động sống như sinh hoạt, vui chơi, nghỉ ngơi, sản xuất…
của mình. Không gian đó chính là môi trường xung quanh chúng ta_nơi chứa
đựng toàn bộ những yếu tố tự nhiên và yếu tố xã hội ảnh hưởng đến đời sống và
nhân cách con người.
Ở mổi giai đoạn phát triển của con người thì môi trường tác động đến nhân
cách thông qua những giá trị vật chất và giá trị tinh thần khác nhau. Lứa tuổi
chịu sự tác động mạnh mẽ nhất của môi trường đến nhân cách là lứa tuổi học
sinh Trung học phổ thông. Đây là giai đoạn mà các em đã phát triển tương đối
về mặt tâm lý, đang trong thời kỳ tích lũy kiến thức, tu dưỡng đạo đức để chuẩn
bị cho cuộc sống trưởng thành, phần lớn các em đã biết định hướng cho tương
lai của mình, biết làm chủ suy nghĩ và hành động của mình.
Môi trường xung quanh cho các em những điều kiện tốt nhất để phát triển,
để hòa nhập và chung sống với cộng đồng, với xã hội. Ngay từ khi còn bé đã
biết giao lưu với người lớn, với môi trường tự nhiên và xã hội dần dần nhân
cách các em được hoàn thiện. Việc quan tâm đến các em ở lứa tuổi Trung học
phổ thông là trách nhiệm không chỉ của gia đình, nhà trường mà còn của toàn xã
hội.
Trong sự phát triển nguồn nhân lực cho đất nước đang đổi mới hiện nay, rõ
ràng nổi lên yêu cầu cấp bách là nâng cao chất lượng người lao động, đào tạo
nhân tài, đào tạo con người có nhân cách phù hợp với xã hội mới. Các em là
những con người mới, con người của thời đại, là những chủ nhân tương lai của
đất nước… vì vậy chúng ta cần tạo cho các em một môi trường tốt nhất cho các
em phát triển. Tuy nhiên, trước sự phát triển của cuộc sống hiện đại, những tác
động tiêu cực của xã hội ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách của các em cũng
là một điều đáng lo ngại.
Xuất phát từ thực thực tế đó nên tôi chọn đề tài “Tìm hiểu sự tác động của
môi trường đến sự hình thành và phát triển nhân cách học sinh Trung học

sinh Trung học phổ thông
-Chương 3: Những đề xuất nhằm giúp học sinh Trung học phổ thông hoàn thiện
nhân cách
GVHD: T.S Nguyễn Thị Kim Liên SVTH: Ngô Thị Phương 2
TL: Giáo Dục Học 1
B. Nội dung
Chương 1: Cơ sở lý thuyết và lý luận
1.1. Nhân cách và sự phát triển nhân cách
1.1.1. Khái niệm nhân cách
-Nhân cách là toàn thể những thuộc tính đặc biệt mà một cá thể có được có
được trong hệ thống các quan hệ xã hội, trên cơ sở hoạt động và giao lưu nhằm
chiếm lĩnh các giá trị vật chất và tinh thần. Những thuộc tính đó bao hàm các
thuộc tính về trí tuệ, đạo đức, thẩm mỹ, thể chất…
-Nhân cách là tổ hợp các thái độ, những đặc điểm, những thuộc tính tâm lý
riêng trong quan hệ hành động của từng người với thế giới tự nhiên, thế giới đồ
vật do loài người sáng tạo, với xã hội và bản thân.
-Nhân cách là hệ thống những phẩm giá của một người được đánh giá từ
quan hệ qua lại của người đó với người khác, với tập thể, với xã hội và cả thế
giới xung quanh trong mọi cái nhìn xuyên suốt quá khứ, hiện tại, tương lai. Nó
là một thứ giá trị được xây dựng và hình thành trong toàn bộ thời gian con người
tồn tại trong xã hội, nó đặc trưng cho mổi con người, thể hiện những phẩm chất
bên trong con người nhưng lại mang tính xã hội sâu sắc. Nhà tâm lý học Xô
Viết, X.L.Rubinstein cho rằng: “Con người là cá tính do nó có những thuộc tính
đặc biệt không lập lại, con người là nhân cách do nó xác định được quan hệ của
mình với những người xung quanh một cách có ý thức”.
Theo Bách khoa Toàn thư Liên Xô, nhân cách được thể hiện ở hai mặt: thứ
nhất là con người với tư cách là chủ thể các mối quan hệ và hoạt động có ý thức,
thứ hai là một hệ thống giá trị có ý nghĩa xã hội đặc trưng cho cá thể trở thành
một nhân cách.
Do cấu trúc nhân cách rất phức hợp nên một số nhà nghiên cứu giáo dục

Sự phát triển cá nhân bao gồm các mặt phát triển sau:
-Sự phát triển về mặt thể chất: Đó là sự tăng trưởng về chiều cao, trọng
lượng, cơ bắp, sự hoàn thiện các chức năng giác quan, sự phối hợp các chức
năng vận động của cơ thể.
-Sự phát triển về mặt tâm lý: Thể hiện sự biến đổi cơ bản trong quá trình
nhận thức, xúc cảm, tình cảm, nhu cầu, ý chí…
-Sự phát triển về mặt xã hội: Thể hiện ở thái độ, hành vi ứng xử trong các
mối quan hệ với những người xung quanh, ở tính tích cực nhận thức tham gia
vào các hoạt động cải biến, phát triển xã hội.
Sự phát triển cá nhân là quá trình cải biến toàn bộ các sức mạnh thể chất và
tinh thần, các sức mạnh bản chất con người. Vì nhân cách là bộ mặt xã hội – tâm
lý của mổi người nên sự phát triển nhân cách phải được hiểu sự phát triển mặt
tâm lý xã hội của con người.
Trong các sách giáo dục học trước đây, một số tác giả có sự hiểu biết lẫn lộn
giữa sự phát triển nhân cách và sự phát triển cá nhân. Nếu quan niệm như vậy
thì có thể hiểu khái niệm cá nhân là khái niệm nhân cách. Nhưng thực tế, hai
khái niệm này không phải là một.
Sự phát triển nhân cách là quá trình biến đổi không chỉ về lượng mà cả
những biến đổi về chất trong mổi nhân cách. Đó là quá trình nãy sinh cái mới và
hủy diệt cái cũ.
1.1.2.3. Sự hình thành và phát triển nhân cách chịu ảnh hưởng của
nhiều nhân tố
GVHD: T.S Nguyễn Thị Kim Liên SVTH: Ngô Thị Phương 4
TL: Giáo Dục Học 1
Nhân cách hình thành và phát triển chịu sự tác động của nhiều yếu tố
nhưng giữ vai trò chủ đạo trong đó là yếu tố là yếu tố sinh thể, yếu tố môi
trường, giáo dục và hoạt động cá nhân.
Yếu tố sinh thể
Không thể có nhân cách trừu tượng ở bên ngoài một con người bằng
xương, bằng thịt mà là nhân cách của một con người cụ thể sống trong một xã

lớn lên trong trạng thái động vật, không thể trở thành một con người, một nhân
cách. Nhân cách đó là một sản phẩm của xã hội.
GVHD: T.S Nguyễn Thị Kim Liên SVTH: Ngô Thị Phương 5
TL: Giáo Dục Học 1
Yếu tố giáo dục
Giáo dục là những tác động tự giác (có hệ thống, có mục đích, có kế hoạch,
có sự chuẩn bị một lực lượng nhất định có năng lực, có phẩm chất ) của thế hệ
trước đến thế hệ sau, nhằm hình thành ở thế hệ sau những phẩm chất, những
năng lực,…theo yêu cầu của xã hội.
Giáo dục là hoạt động chuyên môn của xã hội nhằm hình thành và phát
triển nhân cách con người theo những yêu cầu của xã hội trong những giai đoạn
lịch sử nhất định.
Vai trò: Giáo dục vạch ra phương hướng cho sự hình thành và phát triển
nhân cách, thông qua giáo dục, thế hệ trước truyền lại cho thế hệ sau những
kinh nghiệm xã hội - lịch sử đã được kết tinh trong các sản phẩm văn hóa vật
chất và tinh thần của nhân loại. Giáo dục có thể đem lại cho con người những
cái mà các yếu tố bẩm sinh – di truyền hay môi trường tự nhiên không thể đem
lại được và nó có thể phát huy tối đa các mặt mạnh của các yếu tố khác chi phối
sự hình thành và phát triển nhân cách như các yếu tố sinh thể (bẩm sinh di
truyển), yếu tố hoàn cảnh sống, yếu tố xã hội. Giáo dục có thể bù đắp cho những
thiếu hụt, hạn chế do các yếu tố bẩm sinh – di truyền không bình thường, hoàn
cảnh bị tai nạn hay chiến tranh gây nên, giáo dục uốn nắn những sai lệch của
nhân cách về một mặt nào đó so với các chuẩn mực, do tác động tự phát của môi
trường gây nên và làm cho nó phát triển theo hướng mong muốn của xã
hội. giáo dục có thể đi trước, đón đầu sự phát triển, giáo dục có thể “hoạch định
nhân cách trong tương lai” để tác động hình thành và phát triển phù hợp với sự
phát triển của xã hội.
Yếu tố hoạt động cá nhân
Hoạt động là phương thức tồn tại của con người. Hoạt động của con người
là hoạt động có mục đích, mang tính xã hội, mang tính cộng đồng và được thực

Sự tự ý thức của học sinh THPT được biểu hiện ở nhu cầu tìm hiểu và
tự đánh giá những đặc điểm tâm lý của mình theo các chuẩn mực đạo đức
của xã hội, theo quan điểm về mục đích cuộc sống. Điều này khiến học
sinh quan tâm sâu sắc tới đời sống tâm lý, những phẩm chất nhân cách và
năng lực riêng, cũng như tự đánh giá khả năng của mình.
Giai đoạn này, học sinh không chỉ tự ý thức về cái tôi của mình mà
còn nhận thức vị trí của mình trong tương lai. Xuất hiện khuynh hướng
phân tích và tự đánh giá bản thân mình một cách độc lập. Học sinh THPT
có nguyện vọng thể hiện cá tính của mình trước mọi người một cách độc
đáo, tìm cách đề người khác quan tâm đến mình hoặc làm điều gì đó nổi
bật.
1.1.3.2. Sự hình thành thế giới quan
Sự hình thành thế giới quan là nét chủ yếu trong tâm lý học sinh Trung học
phổ thông vì các em đang có nhu cầu khám phá, tìm hiểu về thế giới. Việc hình
thành thế giới quan dựa trên cơ sở những tri thức mà học sinh được học ở trường
về
những thói quen đạo đức, thấy được cái đẹp, cái tốt, xấu…dần dần ý thức
và quy vào các hình thức, tiêu chuẩn nguyên tắc hành vi xác định theo
một hệ thống hoàn chỉnh.
Học sinh THPT đã có ý thức xây dựng lý tưởng sống cho mình, biết
xây dựng hình ảnh con người lý tưởng gần với thực tế sinh hoạt hàng
ngày.
GVHD: T.S Nguyễn Thị Kim Liên SVTH: Ngô Thị Phương 7
TL: Giáo Dục Học 1
Những thay đổi trong vị thế xã hội, trình độ phát triển của tư duy lý luận và
hơn nữa một khối lượng tri thức lớn mang tính phương pháp luận về các quy
luật của tự nhiên và xã hội mà các em tiếp thu trong nhà trường đã giúp các em
thấy được mối liên hệ giữa các tri thức khác nhau, giữa các thành phần của thế
giới. Nhờ đó các em bắt đầu biết liên kết các tri thức riêng lẽ lại với nhau để tạo
nên một biểu tượng chung về thế giới cho mình. Đối với các em, biểu tượng

lứa tuổi này. Tuy nhiên tình cảm này chỉ mới dùng ở mức yêu đương bạn
GVHD: T.S Nguyễn Thị Kim Liên SVTH: Ngô Thị Phương 8
TL: Giáo Dục Học 1
bè, do lứa tuổi này ít bộc lộ tình cảm của mình. Nhìn chung đây là một
vấn đề phức tạp nó đòi hỏi sự nghiên cứu từ nhiều phía.
-Đời sống tình cảm của học sinh THPT:
Đời sống tính cảm của lứa tuổi này rất đa dạng phong phú, mang tính
sâu sắc. Nó gắn liền với thế giới quan, lý tưởng, nghề nghiệp…Thời kỳ
này, các nhà tâm lý đã phân chia các loại người theo đặc điểm cảm xúc
của họ như: loại người đa cảm, loại người lạnh lùng, loại người dề gần… chúng
dần được hình thành bởi nhiều yếu tố bản thân và xã hội.
1.1.3.5. Sự hình thành cái tôi cá nhân
Vị thế xã hội của lứa tuổi thanh niên nói chung và lứa tuổi Trung học phổ
thông nói riêng có nhiều thay đổi so với lứa tuổi trước đó. Một mặt các quan hệ
xã hội của các em được mở rộng. Trong các quan hệ đó người lớn kể cả thầy cô
giáo và bố mẹ đều nhìn nhận các em như những người “chuẩn bị thành người
lớn” và đòi hỏi các em có các cách ứng xử phù hợp với vị thế của mình. Mặt
khác, khác với học sinh lớp dưới học sinh trung học phổ thông đứng trước một
thách thức quan trọng của cuộc sống: phải chuẩn bị lựa chọn cho mình một
hướng đi sau khi tốt nghiệp phổ thông, phải xây dựng cho mình một cuộc sống
độc lập trong xã hội… Những thay đổi trong vị thế xã hội, sự thách thức khách
quan của cuộc sống dẫn đến làm xuất hiện ở lứa tuổi này những nhu cầu về hiểu
biết thế giới, hiểu biết xã hội và các chuẩn mực người với người, hiểu mình và
tự khẳng định mình trong xã hội…
Bước sang giai đoạn này các chức năng tâm lý của con người cũng có
nhiều thay đổi, đặc biệt là trong lĩnh vực phát triển trí tuệ, khả năng tư duy. Các
nghiên cứu các tâm lý học cho rằng hoạt động tư duy của thanh niên trong giai
đoạn này rất tích cực và có tính độc lập, tư duy lý luận phát triển mạnh. Các em
có khả năng và rất ưa thích khái quát các vấn đề. Sự phát triển mạnh của tư duy
lí luận liện quan chặt chẽ với khả năng sáng tạo. Nhờ khả năng khái quát, các

tạo nên một hình ảnh “cái tôi” có chiều sâu, có hệ thống, chính xác và sống động
hơn.
Ý thức về cái tôi rõ ràng và đầy đủ hơn đã làm cho các em có khả năng lựa
chọn con đường tiếp theo, đặt ra vấn đề tự khẳng định và tìm kiếm vị trí cho
riêng mình trong cuộc sống chung.
1.2. Môi trường tác động đến sự hình thành và phát triển nhân cách học sinh
Trung học phổ thông
1.2.1. Khái niệm môi trường
Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan
hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản
xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên.
-Môi trường tự nhiên: bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hoá học,
sinh học, tồn tại ngoài ý muốn của con người, nhưng cũng ít nhiều chịu tác động
của con người. Đó là ánh sáng mặt trời, núi sông, biển cả, không khí, động, thực
vật, đất, nước Môi trường tự nhiên cho ta không khí để thở, đất để xây dựng
nhà cửa, trồng cấy, chăn nuôi, cung cấp cho con người các loại tài nguyên
khoáng sản cần cho sản xuất, tiêu thụ và là nơi chứa đựng, đồng hoá các chất
thải, cung cấp cho ta cảnh đẹp để giải trí, làm cho cuộc sống con người thêm
phong phú.
-Môi trường xã hội: là tổng thể các quan hệ giữa người với người. Đó là
những luật lệ, thể chế, cam kết, quy định, ước định ở các cấp khác nhau như:
Liên Hợp Quốc, Hiệp hội các nước, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ quan, làng xã, họ
tộc, gia đình, tổ nhóm, các tổ chức tôn giáo, tổ chức đoàn thể, Môi trường xã
GVHD: T.S Nguyễn Thị Kim Liên SVTH: Ngô Thị Phương 10
TL: Giáo Dục Học 1
hội định hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên
sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sống của con người
khác với các sinh vật khác.
Ngoài ra, người ta còn phân biệt khái niệm môi trường nhân tạo, bao gồm
tất cả các nhân tố do con người tạo nên, làm thành những tiện nghi trong cuộc

GVHD: T.S Nguyễn Thị Kim Liên SVTH: Ngô Thị Phương 11
TL: Giáo Dục Học 1
nhiều gia đình tốt cộng lại thì làm cho xã hội tốt hơn”. Trong gia đình ngoài mối
quan hệ của cha mẹ với con cái còn có quan hệ giữa ông bà với con cháu và
quan hệ anh chị em.
Gia đình là môi trường có tác động rất mạnh đến sự hình thành và phát
triển nhân cách của học sinh bởi nhiều lý do: quá trình hình thành và phát triển
nhân cách của học sinh THPT diễn ra phần lớn trong môi trường này, người lớn
trong gia đình là mẫu hình nhân cách mà học sinh bắt chước theo ngay từ khi
còn nhỏ và ngay cả khi học THPT, sự hình thành nhân cách chịu tác động mạnh
với những tình cảm con người cụ thể, thời gian hoạt động ở gia đình của học
sinh THPT dài gấp nhiều lần ở các môi trường khác vv.
Trong quan hệ gia đình (ông bà, bố mẹ, anh chị em v.v ), học sinh THPT
luôn mong muốn khẳng định cái Tôi của mình, khẳng định vai trò và vị thế của
mình trong gia đình. Yếu tố tình cảm gia đình có ý nghĩa đối với học sinh giai
đoạn này, đó là quan hệ giữa cha mẹ, anh chị em, ông bà, họ hàng… và cách đối
xử của các thành viên trong gia đình với nhau.
Trong gia đình, lứa tuổi THPT đã có nhiều quyền lợi và trách nhiệm
như người lớn. Cha mẹ bắt đầu trao đổi với con cái ở lứa tuổi này về một
số vấn đề quan trọng trong gia đình. Học sinh lứa tuổi này bắt đầu quan
tâm đến nề nếp, lối sống, sinh hoạt và điều kiện kinh tế của gia đình. Đây
là lứa tuổi vừa học tập vừa lao động.
2.1.1.1. Tác động tích cực
-Ở gia đình các em được chăm sóc trên cả 2 mặt vật chất và tinh thần. Gia
đình với khả năng cao nhất của mình là cung cấp những điều kiện tốt nhất cho
thể chất và trí tuệ, tạo điều kiện học tập và phát triển theo khả năng của các em.
Có gia đình các em giai đoạn này sẽ phát triển ổn định về nhân cách. Nếu các
em được sống trong một gia đình có điều kiện phát triển về kinh tế, cha mẹ có
điều kiện và thời gian chăm sóc, yêu thương và quan tâm đến việc nuôi dạy con
cái thì trẻ sẽ có phẩm chất đạo đức tốt. Bên cạnh điều kiện sống của gia đình,

khen thưởng; nhắc nhở, phê bình đúng mực khi các em mắc khuyết điểm; cho
các em tự quyết định và làm một số công việc tự phục vụ nhu cầu của bản thân
và tăng tính tự lập cho cuộc sống sau này. Được tâm sự, chia sẻ với bố mẹ như
một người bạn, được hướng dẫn tự phục vụ và chăm sóc bản thân thân mình các
em sẽ ý thức được trách nhiệm trong gia đình mình.
-Khi các em gặp những điều khó khăn, những vấp ngã trong cuộc sống thì
đã có cha mẹ đứng sau để dìu dắt, ủng hộ những bước đi tiếp theo của các em, tư
vấn cho các em những điều hay lẽ phải, những việc nên làm và không nên làm,
nhắc nhở các em cách chọn bạn mà chơi, mà học tập, không đòi đòi theo những
thói hư tật xấu của các bạn, định hướng nghề nghiệp theo khả năng và sở thích
của các em…
-Có thể nói tự khẳng định bản thân trong quan hệ gia đình là một nhu cầu
tích cực của học sinh THPT, thể hiện mong muốn khẳng định cái Tôi của bản
thân theo hướng thay đổi vai trò và mối quan hệ trong gia đình, các em mong
muốn được tự khẳng định bản thân mình theo hướng tự quyết định, tự chịu trách
nhiệm cho những việc làm của mình. Do đó, cha mẹ và những người lớn trong
gia đình nên hiểu được đặc điểm tâm lý đặc trưng của lứa tuổi này. Cảm giác
người lớn khiến cho lứa tuổi học sinh THPT muốn được khẳng định bản thân,
muốn được độc lập và không bị phụ thuộc ở một mức độ nhất định vào cha mẹ
và những người thân trong gia đình. Do đó, cha mẹ và những người lớn trong
gia đình cần thay đổi những quy định về sự đỡ đầu vụn vặt, sự kiểm tra quá
đáng, sự chăm sóc quá tỷ mỉ, sự hướng dẫn quá mức chi tiết về mọi lĩnh vực
GVHD: T.S Nguyễn Thị Kim Liên SVTH: Ngô Thị Phương 13
TL: Giáo Dục Học 1
trong cuộc sống của các em nhằm tránh những xung đột, mâu thuẫn đáng tiếc
xảy ra trong ra đình ảnh hưởng đến mối quan hệ thân thiết của cha mẹ và con
trong gia đình.
Để tạo môi trường chăm sóc thuận lợi, cha mẹ cần tạo một bầu không khí
yêu thương, đoàn kết, gắn bó, quan tâm giữa các thành viên trong gia đình. Cho
dù cuộc sống còn nhiều vất vả, khó khăn nhưng các bậc cha mẹ không nên bắt

- Hoặc một số gia đình có cuộc sống kinh tế đầy đủ nhưng con cái lại có
những biểu hiện sai lệch chuẩn mực đạo đức do phụ huynh chỉ cung cấp tiền
nhưng lại không quan tâm tới việc học tập, đời sống tinh thần, giao tiếp xã hội
GVHD: T.S Nguyễn Thị Kim Liên SVTH: Ngô Thị Phương 14
TL: Giáo Dục Học 1
của con và việc giáo dục gần như phó mặt cho nhà trường, dẫn đến tình trạng
nhiều học sinh không được trang bị những kỹ năng sống tối thiểu. Với thực
trạng hiện nay khi mà rất nhiều em học sinh THPT ở các thành phố lớn, thị xã
hoặc một số gia đình giàu có thiếu hụt những kỹ năng sống cơ bản và cần thiết,
các em không biết làm bất cứ một công việc nào cho dù là những công việc tự
phục vụ nhu cầu của bản thân hay những công việc nhà đơn giản mà đáng lẽ ra ở
lứa tuổi này các em bắt buộc phải biết làm để chuẩn bị cho bản thân những kỹ
năng sống cần thiết khi các em bước chân ra khỏi cổng trường THPT bước vào
một cuộc sống độc lập của những người trưởng thành. Điều này có ảnh hưởng
rất nhiều đến sự khẳng định cái Tôi độc lập của các em, đến sự hình thành và
phát triển nhân cách.
-Hơn nữa, cuộc sống hôn nhân của cha mẹ cũng quyết định quá trình hình
thành nhân cách học sinh THPT. Cha mẹ có cuộc sống hôn nhân hạnh phúc,
quan tâm, thương yêu giúp đỡ và chia sẽ lẫn nhau những khó khăn trong cuộc
sống luôn tạo ra một niềm tin và định hướng cho con cái phát triển. Ngược lại,
cuộc sống hôn nhân của cha mẹ không hạnh phúc, đỗ vỡ sẽ tạo ra một áp lực lớn
về tinh thần cho các em, làm cho các em chán nản, bi quan trong cuộc sống, dễ
rơi vào tệ nạn xã hội, đạo đức bị suy thoái.
-Phần lớn các gia đình ở thành phố sống khép kín, ngày càng ít có sự giao
tiếp giữa các gia đình trong khu dân cư. Nên không tạo được sự giao tiếp với
mọi người xung quanh, đặc biệt là các em ít có cơ hội giao lưu với người lớn,
các bạn cùng trang lứa nên tỉ lệ sống tự kỉ thanh niên giai đoạn này ở thành phố
là khá cao.
2.1.2. Nhà trường tác động đến sự hình thành và phát triển nhân
cách hoc sinh Trung học phổ thông.

hướng dẫn các em bước đi đúng con đường tương lai, giáo viên chủ nhiệm còn
đóng vai trò như một người mẹ, người cha tư vấn những tâm tư, tình cảm,
nguyện vọng… của các em.
2.1.2.2. Tác động tiêu cực
Một số cán bộ quản lý, giáo viên và bạn bè thường có những định kiến,
thiếu thiện cảm; sử dụng các biện pháp hành chính thái quá; sự lạm dụng quyền
lực của các thầy cô giáo, nhà quản lý; sự thiếu gương mẫu trong mô phạm giáo
dục; việc đánh giá kết quả, khen thưởng, kỷ luật thiếu khách quan và không
công bằng; sự phối hợp không đồng bộ giữa các lực lượng giáo dục đều có ảnh
hưởng rất lớn đến quá trình giáo dục đạo đức của các em.
Trước hết cần kể đến cách dạy học của một số thầy cô giáo, trong quá trình
dạy học có một số người thường to tiếng với học sinh khi có một số thành viên
trong lớp làm không đúng ý, hoặc chậm hiểu hơn so với các bạn khác. Đứng
trong khu vực sân trường ta sẽ cảm nhận thấy điều này không phải là hiếm gặp.
Hiện tượng này tác động chậm rãi nhưng đều đặn, liên tục làm cho học sinh trở
nên nóng tính, dễ bùng nổ bạo lực khi không vừa ý điều gì đó với bạn bè hoặc
những người xung quanh. Quá trình dân chủ hóa trường học, với những quy
định về việc tôn trọng nhân cách người học làm cho một số giáo viên chuyển từ
thái cực này sang thái cực khác, trở nên vô cảm đối với những vi phạm nhỏ của
học sinh; bởi lo sợ vi phạm luật hoặc sự phản ứng tiêu cực. Sự vô cảm đó làm
cho những vi phạm của học sinh ngày càng leo thang, "cái sảy nảy cái ung" cũng
bắt nguồn từ đó. Việc giáo dục đạo đức cho học sinh là một vấn đề rất khó, phần
lớn là giáo dục thông qua tích hợp với các hoạt động khác; sự tích hợp làm cho
công tác này trở thành thứ yếu trong hoạt động của các nhà trường. Giáo dục
GVHD: T.S Nguyễn Thị Kim Liên SVTH: Ngô Thị Phương 16
TL: Giáo Dục Học 1
đạo đức cho học sinh được thực hiện thông qua nhiều hoạt động, qua giảng dạy
các môn học. Môn học có khả năng giáo dục đạo đức cho học sinh có hiệu quả
nhất là môn giáo dục công dân thì gần như bị vô hiệu hóa, lý do chính do môn
học này không phải là môn thi tốt nghiệp, không phải là môn thi đại học. Trong

-Tỷ lệ học sinh bỏ học, tỷ lệ học sinh yếu, kém ở mức cao. Do sự thiếu
quan tâm đúng mức của các bậc cha mẹ và đặc biệt là các thầy cô giáo dạy các
em, không tìm hiểu nguyên nhân và không có những biện pháp xử lý kịp thời
khi các em bỏ học dẫn đến tình trạng bỏ học kéo dài ảnh hưởng đến kết quả học
tập và đạo đức của các em.
GVHD: T.S Nguyễn Thị Kim Liên SVTH: Ngô Thị Phương 17
TL: Giáo Dục Học 1
-Nhiều trường học còn sơ sài trong việc phổ biến các nội quy và chấp hành
nội quy, chưa có biện pháp xử lý thỏa đáng khi các em vi phạm… nên dẫn đến
tình trạng học sinh vi phạm nội qui của nhà trường vẫn còn, tỷ lệ học sinh có
hạnh kiểm trung bình và yếu vẫn còn cao.
-Một bộ phận học sinh rơi vào những tệ nạn xã hội như đánh nhau, cờ bạc,
bạo lực học đường; không kính trọng thầy cô, xem thường bạn bè, mọi người
xung quanh; không hiếu thảo với ông bà cha mẹ; thiếu tính nhân đạo; các em mê
games bỏ học hoặc tự tử vì games; …do đoi đòi theo các bạn xấu trong trường
và xã hội.
-Đáng báo động hơn nữa hiện tượng học sinh đánh giáo viên cũng gia tăng.
Bên cạnh đó, tình trạng sống thử và quan hệ tình dục trước hôn nhân ngày càng
tăng cao. Điều này ảnh hưởng của do lối sống quá dễ dãi, đánh mất truyền thống
tốt đẹp của người Á Đông, đó là: tôn trọng lễ nghĩa gia phong, công dung ngôn
hạnh, hiếu tiết lễ nghĩa,
2.1.3. Xã hội tác động đến sự hình thành và phát triển nhân cách
học sinh Trung học phổ thông
Sự phát triển con người nói chung, nhân cách nói riêng chỉ có thể phát triển
đúng quy luật khi mổi cá nhân tự nhận thức đúng đắn, giải quyết hài hòa mối
quan hẹ cá nhân-xã hội xét trên phương diện lợi ích. C.Mác và Ph.Ăngghen đã
chỉ rõ: “Chừng nào con người còn ở trong xã hội hình thành một cách tự nhiên,
do đó chừng nào còn có sự chia cắt lợi ích riêng và lợi ích chung… thì chừng đó
bản thân con người sẽ trở thành một lượng xa lạ, đối lập với con người và nô
dịch con người chứ không phải là bị xã hội thống trị”.

một thế giới quan tốt cho sự hoàn thiên nhân cách.
2.1.3.2. Tác động tiêu cực
Trong quá trình hội nhập và phát triển hiện nay, cùng với sự phát triển như
vũ bão của khoa học công nghệ đã làm cho những giá trị đạo đức của con người
đang đứng trước nguy cơ suy thoái trầm trọng. Việc giao lưu văn hóa ngoại ảnh
hưởng trực tiếp đến giá trị đạo đức của học sinh. Đa số học sinh hiện nay chạy
theo xu hướng Hàn Quốc, ăn mặc, kiểu tóc, hình thức bề ngoài… đua đòi ăn
chơi mà quên đi những bản sắc văn hóa tốt đẹp của đất nước mình. Các em
hướng hoạt động của mình vào việc vui chơi mang tính hưởng thụ, nhiều khi vô
bổ, ít chú ý đến việc mở mang kiến thức và hoàn thiện nhân cách. “Tớ chỉ thích
điện thoại nào đời mới ”, “Phim Hàn Quốc đang chiếu tới tập ”, “Hàng hiệu
hợp thời ở chỗ ”.
Khoa học công nghệ phát triển, học sinh tiếp xúc với internet và học rất
nhiều điều hữu ích từ nó. Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực, internet có nhiều
điểm tiêu cực như có những hình ảnh, phim ảnh không phù hợp với những giá
trị đạo đức của con người Việt Nam. Học sinh xem nhưng thiếu người định
hướng và giáo dục nên sẽ dễ nhận thức sai lầm kéo theo hành vi sai và phạm tội.
Hơn nữa, việc thường xuyên chơi game online và sống trong ảo giác sẽ gây ra
những hành vi dần ảnh hưởng đến đạo đức, làm tha hóa nhân cách, lệch lạc về
nhận thức, từ đó dẫn đến những hành vi tiêu cực, có thể hủy hoại tương lai của
giới trẻ.
Tốc độ lan truyền thông tin trên Intenet nhanh chóng là một tiện ích, các
trang mạng xã hội như Facebook, Twiter… lại được các em sử dụng rất nhiều,
nhưng nó mang lại hệ quả khó lường. Tuổi trẻ luôn được xem là nhanh nhạy
trong việc nắm bắt các thành tựu kỹ thuật mới, các bạn trẻ rất am hiểu việc sử
GVHD: T.S Nguyễn Thị Kim Liên SVTH: Ngô Thị Phương 19
TL: Giáo Dục Học 1
dụng các công cũ kỹ thuật như điện thoại di động có quay phim chụp ảnh,
chuyển tải dữ liệu lên mạng … Thế nhưng, tuổi trẻ cũng lại rất chậm để cảm
nhận được hậu quả của những đoạn phim, bức ảnh được gửi lên mạng. Ngày

nữa là chơi ăn tiền.
-Các em thường tụ tập lại ăn chơi, nếu không có tiền ăn chơi thì nãy sinh
trộm cắp, cướp giật, về nhà trộm của của cha mẹ, hoặc là hàng xóm “bần cùng
sinh đạo tặc”
GVHD: T.S Nguyễn Thị Kim Liên SVTH: Ngô Thị Phương 20
TL: Giáo Dục Học 1
-Chít hút ma túy, tham gia đua xe, gây mất trật tự, phá làng phá xóm, chơi
game cũng được xem là vấn nạn ngày càng phổ biến.
Ngoài ra còn một bộ phận không nhỏ học sinh giai đoạn này không có lý
tưởng sống, mờ nhạt mục đích học tập, thực dụng hay có những suy nghĩ lệch
lạc ảnh hưởng xấu đến động cơ, ước mơ, hoài bão vươn lên.
Những hiện tượng đó, trước hết là nguy cơ đe dọa tương lai của chính bản
thân họ, gia đình học, đồng thời cản trở sự phát triển theo hướng lành mạnh, tiến
bộ và văn minh của xã hội ta hiện nay. Mặt khác, cũng cần nói rằng, các thế lực
thù địch đang “chờ đợi” và sẽ ra sức khai thác, lợi dụng những hiện tượng đó để
tiến hành chiến lược “diễn biến hòa bình” hòng chống phá và ngăn chặn sự phát
triển của cách mạng Việt Nam.
2.2. Giải pháp
Để giúp học sinh xây dựng được mối quan hệ bạn bè tốt đẹp, lành mạnh,
bền vững rất cần sự kết hợp từ ba phía: gia đình, nhà trường và xã hội.
Gia đình:
Việc các em mong muốn khẳng định mình trong gia đình, trong quan hệ
với bạn bè và người khác, cũng như sự phát triển tự ý thức và nhu cầu độc lập
của các em là vấn đề cần được chú ý, quan tâm trong hoạt động giáo dục đối với
lứa tuổi học sinh THPT hiện nay ở cả phạm vi gia đình. Chúng ta cần tôn trọng
những quan điểm, nhu cầu và mong muốn chính đáng của các em, sẽ là sai lầm
nếu chúng ta chỉ nhìn các em như là những đứa trẻ còn non nớt.
Các hình thức giáo dục con cái trong gia đình cần được bố mẹ và các thành
viên trong gia đình chú ý đặc biệt, tránh sử dụng các hình thức giáo dục thiếu
tích cực và đặc biệt là các hình thức giáo dục roi vọt, xâm phạm thể chất và tinh

điều kiện thuận lợi nhất để giáo dục cho các em hoàn thiên nhân cách.
* Gia đình cần kết hợp với nhà trường, xã hội trong việc giáo dục
giá trị cho các em, không nên phó mặc trách nhiệm giáo dục giá trị con em
mình cho nhà trường và xã hội.
Thứ nhất, phải thiết lập được mối quan hệ bền vững giữa gia đình – nhà
trường – xã hội. Trong cuộc sống chúng ta luôn có những khó khăn vì nhiều lí
do khác nhau. Cha mẹ phải chăm lo cuộc sống vật chất và tinh thần cho gia đình
nên đôi lúc không thể có được thời gian theo sát con cái để có những biện pháp
giáo dục thích hợp hướng con mình theo cái tốt, cái thiện. Do vậy, cha mẹ muốn
con trở thành công dân tốt phải tạo sự gắn kết với nhà trường (đặc biệt là thường
xuyên liên lạc với giáo viên chủ nhiệm) và xã hội. Với nhà trường thì phải
không ngừng liên lạc với phụ huynh (nhất là những học sinh yếu kém, thường vi
phạm nội qui, nề nếp…) để hiểu nhiều hơn về học sinh và có giải pháp khắc
phục hữu hiệu. Đồng thời cả gia đình, nhà trường và xã hội phải có sự kết nối và
thống nhất trong các hoạt động vui chơi giải trí và biện pháp giáo dục trẻ. Nhà
nước phải can thiệp và quản lý những hoạt động văn hóa - xã hội, đảm bảo tạo
môi trường sống lành mạnh cho trẻ. Chính vì thế, chúng ta phải đặt quan hệ giữa
gia đình, nhà - trường - xã hội trong mối quan hệ biện chứng không thể tách rời
nhau. Đây là giải pháp cơ bản nhất để hoàn thiện việc giáo dục đạo đức cho thế
hệ trẻ hiện nay.
Thứ hai, phải tạo một môi trường sống, môi trường giao tiếp và học tập
tốt ở gia đình, nhà trường và xã hội.
Đây là một trong những yếu tố cần thiết cho sự phát triển nhân cách ở trẻ.
Có môi trường sống, làm việc và học tập tốt, học sinh sẽ ít có cơ hội trở thành
GVHD: T.S Nguyễn Thị Kim Liên SVTH: Ngô Thị Phương 22
TL: Giáo Dục Học 1
người xấu, không thể phạm tội. Hiện nay, môi trường sống xung quanh rất phức
tạp, luôn diễn ra những tệ nạn xã hội ảnh hưởng không tốt đến việc hình thành
tư tưởng, đạo đức lối sống của học sinh. Do vậy, bản thân của các bậc phụ
huynh, giáo viên phải nắm được những hoạt động văn hóa, thương mại, các trò

chúng ta phải dạy cho học sinh cách tiếp cận và thu nhận thông tin từ thực tiễn
cuộc sống và vận dụng nó một cách đúng đắn vào cuộc sống. Đối với học sinh
Trung học phổ thông, đây là giai đoạn các em phát triển khá hoàn thiện về mọi
mặt, nhận thức đã sâu sắc và chín chắn hơn, tuy nhiên các em vẫn còn những
suy nghĩ bồng bột, nông cạn nên dễ rơi vào những cám dỗ trong cuộc sống, sa
GVHD: T.S Nguyễn Thị Kim Liên SVTH: Ngô Thị Phương 23
TL: Giáo Dục Học 1
vào cạm bẫy xã hội và trở thành tội phạm mà bản thân các em không hay biết,
hoặc biết nhưng vẫn làm do không hiểu mức độ nặng nhẹ của sự việc, hoặc do
không biết làm như thế là phạm pháp. Do vậy việc dạy chữ và dạy người cho
học sinh phải xuyên suốt từ cấp thấp đến cấp cao, không gián đoạn.
Chương 3: Những đề xuất nhằm giúp học sinh Trung học phổ thông
hoàn thiện nhân cách
Hơn lúc nào hết, hiện nay việc đẩy mạnh giáo dục đạo đức, giáo dục giá trị
sống, kỹ năng sống cho học sinh, lý tưởng sống, giáo dục lòng yêu nước cho học
sinh là rất quan trọng và cấp thiết. Nó góp phần xây dựng thành công con người
mới xã hội chủ nghĩa để phát triển đất nước trong thời kỳ mới.
3.1. Bồi dưỡng về đạo đức, chính trị, pháp luật, lối sống, bồi dưỡng lý
tưởng cách mạng
-Ngày nay giáo dục đạo đức cho học sinh là giáo dục lòng trung thành với
Đảng, hiếu với dân, yêu quê hương đất nước, có lòng vị tha nhân ái, cần cù liêm
khiết và chính trực. Đó là đạo đức Xã hôi Chủ nghĩa, là đạo đức Xã hội Chủ
Nghĩa là đạo đức của cá nhân , tập thể và chủ nghĩa nhân đạo mang tính chân
thực, tích cực, khác với đạo đức vị kỉ cá nhân. Giáo dục đạo đức học sinh gắn
chặt với giáo dục tư tưởng- chính trị, giáo dục truyền thống và giáo dục bản sắc
văn hóa dân tộc, giáo dục pháp luật nhà nước XHCN, cung cấp cho học sinh
những phương thức ứng xử đúng đắn trước các vấn đề của xã hội, bồi dưỡng lý
tưởng cách mạng… giúp các em có khả năng tự kiểm soát được hành vi của bản
thân một cách tự giác, có khả năng chống lại những biểu hiện lệch lạc về lối
sống.

-Tổ chức tuyên truyền, nâng cao nhận thức đối với các lực lượng tham gia
giáo dục đạo đức đạo đức, chính trị, pháp luật, lối sống, bồi dưỡng lý tưởng cách
mạng cho học sinh:
Giáo dục đạo đức, chính trị, pháp luật, lối sống, bồi dưỡng lý tưởng cách
mạng thông qua các hoạt động ngoại khóa, các hoạt động Đoàn, các hoạt động
xã hội như bảo vệ môi trường, bảo vệ khu dân cư, tham gia các phong trào tình
nguyện, các quỹ đền ơn đáp nghĩa, quỹ giúp bạn học tốt…
Lồng ghép, đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí
Minh và các cuộc vận động lớn: Dân chủ- kỉ cương- tình thương- trách nhiệm”,
“mổi thầy cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo”, các phong
trào thi đua “Dạy tốt, học tốt”, Xây dựng “ Trường học thân thiện, học sinh tích
cực”, “Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh trong trường học”.
-Tổ chức chỉ đạo, thực hiện tốt công tác giáo dục đạo đức đạo đức, chính
trị, pháp luật, lối sống, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng cho học sinh.
Đối với giáo viên chủ nhiệm nên có một phương pháp chủ nhiệm tốt với
một kế hoạch toàn diện, hợp lý. Từ việc tìm hiểu, nắm bắt hoàn cảnh gia đình,
năng lực tùng học sinh, học sinh có hoàn cảnh khó khăn… đến việc xử lý tình
huống. Đòi hỏi cần phải có sự nghiêm khắc của người thầy, đồng thời phải có
tấm lòng yêu thương, thể hiện trách nhiệm lòng vị tha như một người cha đối
với con cái; thông cảm chia sẽ niềm vui, nổi buồn, giúp đỡ các em vượt qua khó
khăn, khuyên bảo chân tình, tạo động lực cho các em phấn đấu hoàn thiện nhân
cách…
Đối với giáo viên bộ môn: Phấn đấu dạy tốt môn học của mình, tạo điều
kiện thuận lợi nhất cho các em tiếp thu kiến thức, trong quá trình dạy nên lồng
ghép các vấn đề về đạo đức, chính trị, pháp luật, lối sống, bồi dưỡng lý tưởng
cách mạng cho học sinh.
GVHD: T.S Nguyễn Thị Kim Liên SVTH: Ngô Thị Phương 25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status