ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
o0o
BÀI TIỂU LUẬN
Đề tài: Lý thuyết và
ứng dụng độ co giãn cung cầu trong thực tế
Giảng viên:
NGUYỄN THANH TUẤN
Nhóm sinh viên thực hiện:
Nhóm 1
Thị trường giá cả N02
Huế, tháng 11/2014
DANH SÁCH NHÓM
1. Nguyễn Thị Thu Hiền
2. Bùi Thị Anh Đào
3. Nguyễn Thị Vân Anh
4. Trần Thị Kiều Ngân
5. Lê Quý Minh Trang
6. Nguyễn Khoa Mạnh Hùng
7. Hồ Thị Tuyết Nga
8. Hà Khánh Linh
9. Huỳnh Thị Ngọc Loan
10. Võ Thị Hồng Phương
11. Võ Thị Hồng Phúc
12. Trần Chí Thanh
13. Trần Nhật Hoàng
Lý thuyết và ứng dụng của độ co giãn cung cầu trong thực tế
MỤC LỤC
Nhóm 1 – Thị trường giá cả GV: Nguyễn Thanh Tuấn
Lý thuyết và ứng dụng của độ co giãn cung cầu trong thực tế
LỜI MỞ ĐẦU
lường mức độ phản ứng của người mua và người bán trước những thay đổi của thị
trường. Giúp phân tích cung và cầu chính xác hơn.
CHƯƠNG 1: CẦU VÀ ĐỘ CO GIÃN CỦA CẦU
1.1. Cầu
Cầu là lượng hàng hóa mà người mua có khả năng và sẵn sàng mua ở mỗi mức
giá khác nhau trong một thời gian nhất định.
1.2. Độ co giãn của cầu
Độ co giãn của cầu về một hàng hóa tính theo một yếu tố nào đó (giá cả, thu
nhập, giá hàng hóa khác) là mức độ phản ứng trong lượng cầu về hàng hóa này khi yếu
tố nói trên thay đổi, còn các yếu tố liên quan khác vẫn giữ nguyên.
1.2.1. Độ co giãn của cầu theo giá
1.2.1.1. Khái niệm
Hệ số co giãn của cầu theo giá phản ánh mức độ phản ứng của cầu theo giá hay
theo sự thay đổi của giá, trong khi các yếu tố khác giữ nguyên.
1.2.1.2. Cách tính
Ta có công thức:
Trong đó: %∆Q là % thay đổi của lượng cầu về giá.
%∆P là % thay đổi của giá hàng hóa.
Nhóm 1 – Thị trường giá cả 5 GV: Nguyễn Thanh Tuấn
Lý thuyết và ứng dụng của độ co giãn cung cầu trong thực tế
Vì lượng cầu về một hàng hóa luôn nghịch biến với giá của hàng hóa đó nên độ
co giãn của cầu thường là số âm. Cho ta biết khi mức giá tăng lên (hay giảm xuống)
1% thì lượng cầu giảm (hay tăng) bao nhiêu phần trăm.
1.2.1.3. Những yếu tố quy định độ co giãn cầu về một loại hàng hóa (theo giá)
a. Tính sẵn có của những hàng hóa thay thế
Nếu một hàng hoá càng dễ được thay thế bởi hàng hóa khác trên thị trường, cầu
về hàng hóa đó càng co giãn. Cụ thể là, khi giá của hàng hoá đang phân tích tăng lên,
lượng cầu về hàng hoá này có xu hướng giảm mạnh, vì người tiêu dùng có thể dễ dàng
chuyển sang sử dụng các hàng hoá thay thế khác. Cầu về một loại hàng hoá trở nên
kém co giãn hơn, khi những mặt hàng có khả năng thay thế nó càng khan hiếm.
hành vi của mình. Vả lại, thời gian càng dài, những cải tiến công nghệ cũng như việc
phát minh những năng lượng mới, rẻ tiền hơn thay thế xăng dầu sẽ làm cho người tiêu
dùng có nhiều khả năng lựa chọn hơn. Cầu về xăng theo giá trong dài hạn rõ ràng co
giãn mạnh hơn so với trong ngắn hạn.
Tuy nhiên, không phải đối với mọi hàng hoá tình hình đều diễn ra theo chiều
hướng như vậy. Đối với một hàng hoá lâu bền như ô tô, tủ lạnh, khi giá cả của chúng
tăng cao, lượng cầu ngắn hạn về những hàng hoá này thường giảm mạnh. Những
người đang có ý định thay những chiếc ô tô cũ, những chiếc tủ lạnh đang dùng bằng
những chiếc ô tô, tủ lạnh mới thường sẽ tạm hoãn lại nhu cầu mua sắm của mình. Tuy
nhiên, nếu giá cả những hàng hoá này không có dấu hiệu giảm xuống, đến một lúc nào
đó, họ không thể kéo dài thời gian sử dụng những chiếc ô tô, tủ lạnh cũ hơn được nữa.
Họ vẫn phải mua sắm những chiếc ô tô, tủ lạnh mới. Điều đó cho thấy cầu về những
hàng hoá lâu bền trong ngắn hạn lại có xu hướng co giãn mạnh hơn theo giá so với
trong dài hạn.
d. Ngân sách của người tiêu dung
Nếu hàng hoá này chỉ chiếm một phần nhỏ trong ngân sách của người tiêu dùng,
một sự thay đổi giá của hàng hoá sẽ tác động ít với sức mua của mỗi cá nhân. Trong
trường hợp này, một sự thay đổi về giá sẽ có tác động tương đối nhỏ với lượng hàng
hoá được tiêu dùng. Chẳng hạn, giá muối cao gấp đôi sẽ không có nhiều tác động
lên ngân sách của một người tiêu dùng. Nhưng khi một hàng hoá chiếm một phần
tương đối lớn trong chi tiêu của cá nhân, một sự tăng giá có tác động lớn với sức mua
của họ. Hãy lấy một thí dụ cụ thể, giả sử một người chi dùng 50% thu nhập của anh ta
cho một hàng hoá và giá của hàng hoá tăng gấp đôi. Có vẻ cá nhân này sẽ liên tục
giảm chi tiêu của họ để phản ứng với mức giá cao hơn khi chi tiêu với hàng hoá này
chiếm phần lớn trong ngân sách của người tiêu dùng. Vì vậy, cầu sẽ có xu hướng co
giãn hơn với những hàng hoá chiếm một phần lớn trong ngân sách của một người tiêu
dùng điển hình.
e. Phạm vi thị trường
Trong thị trường có phạm vi hẹp, thì cầu co giãn hơn so với thị trường có phạm
vi rộng, vì người ta dễ dàng tìm được hang hóa thay thế trong thị trường có phạm vi
cầu lớn hơn tốc độ tăng của thu nhập. Những hàng hoá cao cấp như du lịch, xem ca
nhạc… là những hàng hoá như vậy. Càng giàu có, con người càng chi tiêu nhiều cho
Nhóm 1 – Thị trường giá cả 8 GV: Nguyễn Thanh Tuấn
Lý thuyết và ứng dụng của độ co giãn cung cầu trong thực tế
những hàng hoá loại này. Chúng được gọi là những hàng hoá xa xỉ. Đối với hàng hoá
xa xỉ, do % > %∆I khi thu nhập I tăng nên là một đại lượng lớn hơn.
Vì là thước đo mức độ thay đổi của nhu cầu khi thu nhập thay đổi nên độ co giăn
của cầu theo thu nhập có thể cho chúng ta những thông tin hữu ích về triển vọng kinh
doanh một loại hàng hoá trong tương lai. Trong một nền kinh tế tăng trưởng nhanh,
thu nhập của dân chúng tăng lên sẽ khiến cho họ thay đổi dần mô hình chi tiêu. Họ dần
dần ít chi tiêu hơn cho những hàng thứ cấp và tăng nhanh phần chi tiêu cho những
hàng hoá cao cấp hay “xa xỉ”. Những nghiên cứu thực nghiệm nhằm đo lường cụ thể
có thể giúp cho các nhà doanh nghiệp có những quyết định đầu tư hiệu quả.
1.2.3. Độ co giãn của cầu theo giá chéo
1.2.3.1. Khái niệm
Độ co giãn của cầu theo giá chéo đo lường phản ứng của cầu về một loại hàng
hoá trước sự thay đổi trong giá cả của một loại hàng hoá khác. Độ co giãn của cầu về
hàng hoá X theo giá của hàng hoá Y được đo bằng tỷ số giữa phần trăm thay đổi trong
lượng cầu về hàng hoá X và phần trăm thay đổi trong mức giá của hàng hoá Y, trong
điều kiện các yếu tố khác là giữ nguyên.
1.2.3.2. Cách tính
Biểu diễn theo công thức ta có:
Trong đó: + : là độ co giãn của cầu về hàng hoá X theo giá của hàng hoá Y,
+ : là lương cầu của hàng hoá X,
+ P
Y
: là mức giá của hàng hoá Y,
+∆ biểu thị mức thay đổi.
1.2.3.3. Phân tích về mặt lý thuýet
Độ co giãn của cầu theo giá chéo phụ thuộc vào thực chất mối quan hệ giữa hàng
Lý thuyết và ứng dụng của độ co giãn cung cầu trong thực tế
1.2.5. Dự đoán độ co giãn của cầu theo giá lúa gạo trên phương diện lý thuyết
Trước hết ta hãy cùng xem xét khái quát về thị trường lúa gạo Việt Nam. Việt
Nam là một thị trường rộng lớn về quy mô (với dân số trên 90 triệu người năm 2014).
Có sự chênh lệch lớn về lượng cầu giữa các địa phương và các vùng miền khác nhau.
Hơn nữa, lúa gạo là loại lương thực không thể thiếu trong đời sống người dân Việt
Nam. Vì những lý do trên mà những biến động về giá cả của lúa gạo sẽ ảnh hưởng
không nhỏ tới lượng cầu và thị hiếu cũng như chính sách chi tiêu của người dân. Thời
gian gần đây, giá lúa gạo nhìn chung đang tăng lên. Xét trên phương diện lý thuyết,
những yếu tố ảnh hưởng tới sự co giãn của cầu đối với mặt hàng lúa gạo là: Thứ nhất,
thị hiếu của người tiêu dùng: lúa gạo là hàng hóa thiết yếu, khi giá lúa gạo tăng lên sẽ
ảnh hưởng ít đến lượng cầu của mặt hàng này. Thứ hai, các hàng hóa thay thế: mặc dù
người dân có thể thay thế bằng nhiều loại lương thực khác, nhưng với thói quen của
người Việt Nam và một số người dân vùng lúa nước thì khó thay đổi loại lương thực
chính như lúa gạo. Thứ ba, giới hạn thị trường và khoảng thời gian khảo sát: Thị
trường Việt Nam tương đối rộng và phức tạp, khi khảo sát trên một diện tích lớn thì độ
co giãn của cầu sẽ thay đổi rõ rệt hơn. Mặt khác, trong khoảng thời gian một thập kỷ,
những phản ứng của cầu đối với giá được quan sát cụ thể và khái quát hơn. Giá của
các mặt hàng khác cũng tăng lên khi mà giá lúa gạo trong nước và ngoài nước tăng
lên. Từ các yếu tố trên ta có thể dự đoán khi giá lúa gạo tăng, lượng cầu sẽ co giãn
không đáng kể do lúa gạo là một mặt hàng thiết. Ta cũng không loại trừ trường hợp
Nhóm 1 – Thị trường giá cả 11 GV: Nguyễn Thanh Tuấn
Lý thuyết và ứng dụng của độ co giãn cung cầu trong thực tế
giá lúa gạo tăng nhưng lượng cầu cũng tăng, khi đó độ co giãn của cầu theo giá lúa
gạo sẽ có giá trị dương.
Nhóm 1 – Thị trường giá cả 12 GV: Nguyễn Thanh Tuấn
Lý thuyết và ứng dụng của độ co giãn cung cầu trong thực tế
CHƯƠNG 2: CUNG VÀ ĐỘ CO GIÃN CỦA CUNG
2.1. Cung
Cung là số lượng hàng hóa và dịch vụ mà người bán có khả năng và sẵn sàng bán
Tương ứng, cung về hoa tươi ở thời điểm chúng ta đang xem xét là hoàn toàn không
co giãn. Nếu cầu về hoa tươi đột ngột tăng lên, giá hoa sẽ tăng lên mạnh để xác lập
trạng thái cân bằng của thị trường. Nếu những người sản xuất cho rằng, xu hướng tăng
lên trong nhu cầu về hoa tươi và động thái tăng giá của nó còn tiếp tục được duy trì
trong một khoảng thời gian ngắn hạn nhất định, họ sẽ cố gắng tăng lượng cung về hoa
bằng cách tận dụng các diện tích đất đai trồng hoa sẵn có và bổ sung thêm các đầu vào
dễ điều chỉnh cho việc trồng và thu hoạch hoa (gieo trồng thêm những giống hoa ngắn
ngày, động viên những người lao động tăng thêm giờ làm v.v). Đường cung về hoa
tươi giờ đây không còn là một đường thẳng đứng mà là một đường dốc lên. Với sự gia
tăng trong nhu cầu tương đương, giá cân bằng thị trường trong ngắn hạn thấp hơn mức
giá cân bằng tại thời điểm cầu đột ngột tăng lên. Về dài hạn, nhu cầu về hoa tươi tăng
lên sẽ được những người trồng hoa đáp ứng cả bằng cách mở rộng diện tích trồng hoa
trên cơ sở thu hẹp diện tích gieo trồng các loại cây có ích khác. Kỹ thuật mới trong
việc sản xuất, bảo quản và vận chuyển hoa cũng có thể được tìm ra và áp dụng.
2.2.2. Các trường hợp của hệ số co giãn cung
: Cung hoàn toàn không co giãn: Tức là khi giá thay đổi, lượng cung vẫn giữ
nguyên.
: Cung co giãn hoàn toàn: Tức là khi giá không đổi, lượng cung vẫn thay đổi.
Nhóm 1 – Thị trường giá cả 14 GV: Nguyễn Thanh Tuấn
Lý thuyết và ứng dụng của độ co giãn cung cầu trong thực tế
Cung ít co giãn: Tức là khi giá thay đổi 1% sẽ làm lượng cung thay đổi nhỏ hơn
1%.
Cung co giãn tương đối theo giá: Tức là khi giá thay đổi 1% sẽ làm lượng cung
thay đổi lớn hơn 1%.
Cung co giãn đơn vị: Tức là khi giá thay đổi 1% sẽ làm lượng cung thay đổi đúng
1%. Trường hợp này chỉ có trên lý thuyết.
Nhóm 1 – Thị trường giá cả 15 GV: Nguyễn Thanh Tuấn
Lý thuyết và ứng dụng của độ co giãn cung cầu trong thực tế
CHƯƠNG 3: HỆ SỐ CO GIÃN VÀ ỨNG DỤNG
3.1. Hệ số co giãn và doanh thu
được xem xét trên cả phương diện doanh thu và chi phí.
Nhóm 1 – Thị trường giá cả 17 GV: Nguyễn Thanh Tuấn
Lý thuyết và ứng dụng của độ co giãn cung cầu trong thực tế
3.2. Co giãn và chính sách thuế
Giả sử chính phủ đánh thuế t trên mỗi sản phẩm bán ra. Người bán hàng sẽ cộng
thuế vào giá bán; vì vậy công thức cung từ P = b + aQ thành P = b + t + aQ.
Như vậy đường cung mới sẽ là S
t
thay vì S như cũ. Cân bằng cung cầu chuyển
từ E tới E
1
. Tùy thuộc vào hệ số co giãn của đường cầu mà lượng mua sẽ giảm nhiều
hay ít.
Giá P
2
là giá tại sản lượng cần bằng E
1
trong khi đáng nhẽ người bán phải bán với
giá P
3
=P
1
+t thì mới đẩy hết thuế về phía người tiêu dùng. Vì vậy trong trường hợp
thuế tăng thêm t thì người tiêu dùng sẽ chịu thiệt là b = P
2
- P
1
và nhà sản xuất sẽ chịu
thiệt là a=t-(P
2
2005 35.84
2006 35.85
2007 36.34
2008 38.72
2009 38.95
2010 39.99
2011 42.31
2012 39.20
2013 43.86
Nguồn: Tổng cục thống kê
Nhóm 1 – Thị trường giá cả 19 GV: Nguyễn Thanh Tuấn
Lý thuyết và ứng dụng của độ co giãn cung cầu trong thực tế
Biểu đồ biểu hiện sự tăng trưởng của sản lượng lúa gạo Việt Nam
Trong khoảng thời gian gần đây, sản lượng lúa gạo năm 2010/2011 tăng, nguyên
nhân giá lúa tăng là do giá gạo nguyên liệu phục vụ chế biến xuất khẩu đã tăng bình
quân 100 - 200 đồng/kg. Cùng với đó, nhu cầu của khách hàng, đặc biệt là các đối tác
nước ngoài như Thái Lan, Indonexia cũng đang tăng cao, hơn nữa giá gạo nước ta có
lợi thế cạnh tranh hơn so với giá gạo của Thái Lan.
Sản lượng lúa gạo năm 2011/2012 giảm do thời tiết khắc nghiệt, năng suất lúa giảm.
Sản lượng lúa gạo năm 2012/2013 tăng là do nhiều tỉnh, thành phố đã ban hành
chính sách hỗ trợ người trồng lúa; đưa nhiều giống lúa cho năng suất, chất lượng cao
vào sản xuất; gắn xây dựng mô hình cánh đồng mẫu lớn với đồn điền, đổi thửa, thiết
kế lại đồng ruộng và xây dựng nông thôn mới
Nhóm 1 – Thị trường giá cả 20 GV: Nguyễn Thanh Tuấn
Nông
dân
DNQD
không có
HĐXK
DNQD có
buôn bán và xuất khẩu gạo. Giúp cho các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực này
hoàn thiện hơn, năng động hơn đứng vững được trước sự cạnh tranh gay gắt của thị
trường thế giới.
Nhóm 1 – Thị trường giá cả 21 GV: Nguyễn Thanh Tuấn
Lý thuyết và ứng dụng của độ co giãn cung cầu trong thực tế
Nguồn: Tổng cục thống kê
Xuất khẩu gạo của Việt Nam đã đạt được một số thành tựu nổi bật:
Thực hiện đường lối, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước
Khối lượng và kim ngạch xuất khẩu gạo không ngừng tăng lên
Kết cấu chủng loại gạo xuất khẩu đã có những cải thiện nhất định
Góp phần quan trọng đưa đất nước vượt qua thời kỳ khó khăn, tạo sự ổn định
kinh tế, chính trị, xã hội
Có vai trò quan trọng đối với phát triển nông nghiệp, nông thôn
Tạo thêm việc làm, tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo.
Xuất khẩu gạo đã đi cùng quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
1.3. Thị trường gạo của Việt Nam trên thế giới
Thị trường xuất khẩu gạo năm 2013
Nhóm 1 – Thị trường giá cả 22 GV: Nguyễn Thanh Tuấn
Nguồn: Hiệp hội lương thực Việt Nam
Lý thuyết và ứng dụng của độ co giãn cung cầu trong thực tế
Nguồn: tintucnongnghiep.com
Các thị trường xuất khẩu gạo chính của Việt Nam trong năm 2013 gồm Trung
Quốc, Malaysia, Philippines, Singapore, Hồng Kông và Bờ biển Ngà. Trung Quốc vẫn
là nước nhập khẩu gạo lớn nhất của Việt Nam trong năm 2013. Trong năm 2013,
Trung Quốc nhập khẩu hơn 2,15 triệu tấn gạo, với trị giá 901,86 triệu USD, tăng
3,21% về khối lượng và 0,38% về giá trị, chiếm 30,83% tổng kim ngạch xuất khẩu gạo
của Việt Nam.
Nhóm 1 – Thị trường giá cả 23 GV: Nguyễn Thanh Tuấn
Lý thuyết và ứng dụng của độ co giãn cung cầu trong thực tế
trong năm 2014, tăng 5,5% so với năm trước. Năm 2013, lượng gạo nhập khẩu của EU
tăng đến từ các quốc gia được hưởng lợi từ chính sách tiếp cận không giới hạn và miễn
thuế vào thị trường EU theo chương trình “Miễn thuế mọi thứ trừ vũ khí” (Everything-
But-Arms – EBA), đặc biệt là Cam-pu-chia. Nga và Hoa Kỳ cũng là hai quốc gia cũng
được dự báo là có lượng gạo nhập khẩu tăng trong năm 2014.
Nhóm 1 – Thị trường giá cả 25 GV: Nguyễn Thanh Tuấn