Tiểu Luận Hướng dẫn học sinh giải bài tập Hoá học theo phương pháp sáng tạo - Pdf 26

Hướng dẫn học sinh giải bài tập hoá học theo phương pháp sáng tạo - GV: Hoàng Thị Lam
A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu có tác dụng to lớn trong công
cuộc phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của đất nước. Chính vì thế, việc đổi
mới phương pháp dạy học trong nhà trường phổ thông theo Luật giáo dục sửa
đổi năm 2005 chỉ rõ “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính
tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của
từng lớp học, từng môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ
năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm
vui, hứng thú học tập cho học sinh”.
Để bồi dưỡng cho học sinh năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết vấn
đề, lý luận dạy học hiện đại khẳng định: Cần phải đưa học sinh vào vị trí chủ
thể hoạt động nhận thức. Học sinh bằng họat động tự lực, tích cực của mình
mà chiếm lĩnh kiến thức. Quá trình này được lặp đi lặp lại nhiều lần sẽ góp
phần hình thành và phát triển cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo. Tăng
cường tính tích cực phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh trong quá trình
Trang 1
Hướng dẫn học sinh giải bài tập hoá học theo phương pháp sáng tạo - GV: Hoàng Thị Lam
học tập là một yêu cầu rất cần thiết, đòi hỏi người học tích cực, tự lực tham
gia sáng tạo trong quá trình nhận thức.
Bộ môn Hoá học ở trường phổ thông có mục đích trang bị cho học sinh
hệ thống kiến thức cơ bản, bao gồm các kiến thức về cấu tạo chất, phân loại
chất và tính chất của chúng. Việc nắm vững các kiến thức cơ bản góp phần
nâng cao chất lượng đào tạo ở bậc phổ thông, chuẩn bị cho học sinh tham gia
các hoạt động sản xuất và các hoạt động sau này.
Để đạt được mục đích trên, ngoài hệ thống kiến thức về lý thuyết thì hệ
thống bài tập Hoá học giữ một vị trí và vai trò rất quan trọng trong việc dạy
và học Hoá học ở trường phổ thông nói chung và ở trường THCS nói riêng.
Bài tập Hoá học giúp người giáo viên kiểm tra đánh giá kết quả học tập của
học sinh, từ đó phân loại học sinh để có kế hoạch sát với đối tượng.

III. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong đề tài này tôi đã vận dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học
như: Phân tích lý thuyết, điều tra cơ bản, tổng kết kinh nghiệm sư phạm và sử
dụng một số phương pháp thống kê toán học trong việc phân tích kết quả
thực nghiệm sư phạm v.v .
Tham khảo các tài liệu đã được biên soạn và phân tích hệ thống các
dạng bài toán hoá học theo nội dung đã đề ra.
Trên cơ sở đó tôi đã trình bày các dạng bài toán hoá học đã sưu tầm và
nghiên cứu để nâng cao khả năng, trí tuệ của học sinh.
IV. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Kế hoạch thực hiện đề tài được bắt đầu từ năm học 2009-2010, được
thử nghiệm trong năm học 2009-2010 và học kì I năm 2010-2011.
Đề tài được áp dụng cho hầu hết các đối tượng học sinh khối 8 - 9 ở
trường THCS Phổ Vinh.
Trang 4
Hướng dẫn học sinh giải bài tập hoá học theo phương pháp sáng tạo - GV: Hoàng Thị Lam
B. NỘI DUNG ĐỀ TÀI
I. CƠ SỞ KHOA HỌC
1. Cơ sở lí luận:
Trong quá trình giảng dạy hoá học ở trường THCS, tôi nhận thấy bài
tập hoá học là phương tiện hữu hiệu trong giảng dạy hoá học.
Bài tập hoá học là nguồn để hình thành, rèn luyện, củng cố, kiểm tra
các phương thức, kĩ năng cho học sinh.
Bài tập hoá học có tác dụng mở rộng, nâng cao kiến thức cho học sinh.
Bài tập hoá học giúp việc vận dụng kiến thức vào thực tế.
Bài tập hoá học giúp giáo viên rèn luyện nhân cách cho học sinh: Tính
chủ động sáng tạo, tính cẩn thận kiên trì ý chí quyết tâm trong học tập.
Bài tập hoá học có tác dụng làm cho học sinh hiểu sâu sắc các khái
niệm đã học, mở rộng, nâng cao kiến thức cho học sinh
Học sinh có thể học thuộc lòng các định nghĩa, khái niệm nhưng nếu

luyện tư duy sáng tạo cho học sinh thông qua giải bài tập hoá học là cần thiết.
Bồi dưỡng năng lực tư duy sáng tạo cho học sinh là một quá trình liên
tục, phức tạp trải qua nhiều giai đoạn, nhiều mức độ. Trong hoạt động học
tập nhận thức cần nâng dần từng bước từ mức độ thấp đến cao. Mặt khác, cần
rèn luyện học sinh nâng dần các dạng hoạt động từ dễ đến khó. Theo tôi, để
rèn luyện tư duy sáng tạo cho học sinh thông qua việc giải bài tập Hoá học
phải theo một số hướng sau:
1. Hướng dẫn HS giải dạng bài tập tính % khối lượng các nguyên
tố trong hợp chất hoặc % thể tích các khí có trong hỗn hợp:
Học sinh thông qua các thao tác: Quan sát, phân tích, tổng hợp và dựa
vào bản chất của vấn đề để tìm ra cách giải quyết ngắn gọn sáng tạo.
Ví dụ 1: Trong 3 oxit của sắt: FeO, Fe
2
O
3
, Fe
3
O
4
.
a) Oxit nào có tỉ lệ m
Fe
: m
O
= 21 : 8
Trang 7
Hướng dẫn học sinh giải bài tập hoá học theo phương pháp sáng tạo - GV: Hoàng Thị Lam
b) Oxit nào giàu oxi nhất?
Giải: a) Fe
3

= =
m
Fe
: m
O
trong Fe
3
O
4
:
168 2 1
64 8
Fe
O
m
m
= =
Cách giải sáng tao:
Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh cách làm nhanh, sáng tạo là chỉ
cần tính nhẩm theo số nguyên tử sắt và oxi như sau:
M
Fe
: M
O
= 56 : 16 = 28 :8
Fe
3
O
4
có m

2
O
3
giàu oxi nhất.
Ví dụ 2: Trong số các oxit sau: SO
2
, SO
3
, CO
2
, Al
2
O
3
, oxit nào có
lượng oxi chiếm 50% về khối lượng?
Giải: Nếu theo cách giải thông thường, học sinh phải tính phần trăm oxi
trong từng oxit mất nhiều thời gian, với cách giải sáng tạo, giáo viên có thể
hướng dẫn học sinh làm như sau:
M
S
= 32 = 2M
O
, mà O chiếm 50% về khối lượng => oxit đó là: SO
2
Ví dụ 3: Tỷ khối của hỗn hợp gồm CO
2
và CO so với hiđro là 18. Tính
% thể tích mỗi khí trong hỗn hợp.
Giải: Học sinh thường quen cách tính % thể tích hoặc khối lượng khi

Ví dụ 1: Cho hỗn hợp X gồm FeO, Fe
2
O
3
và có khối lượng 30,4 g.
Nung hỗn hợp này trong một bình kín chứa 22,4 lít CO (đktc), khối lượng
hỗn hợp khí thu được là 36g. Xác định thành phần hỗn hợp khí. Biết rằng X
bị khử hoàn toàn tạo thành Fe.
Giải:
Cách giải thông thường:
Gọi số mol FeO, Fe
2
O
3
tham gia phản ứng lần lượt là a,b (a,b > 0)
PTHH: FeO + CO
0
t
→
Fe + CO
2
(1)
a mol a mol a mol
Fe
2
O
3
+ 3CO
0
t

=
,
,
22 4
22 4
=1mol

m
CO
= 28g
=> Độ tăng khối lượng khí = 36 - 28 = 8g = m
O
=> Số mol oxi trong oxit: n
O
=
16
8
= 0,5 mol
Theo phản ứng (1) và (2) ta thấy n
COpư
= n
O trong oxit
= n
CO2 tạo thành
= 0,5 mol.
Vậy thành phần hỗn hợp khí sau khi phản ứng gồm:
0,5 mol CO dư; 0,5 mol CO
2
Ví dụ 2: Khử hoàn toàn 24 gam hỗn hợp CuO và Fe
x

Hướng dẫn học sinh giải bài tập hoá học theo phương pháp sáng tạo - GV: Hoàng Thị Lam
=> m
H2O
= 0,4 x 18 = 7,2 gam
Phân tích: Nếu giáo viên hướng dẫn học sinh biết dùng nguyên lý bảo
toàn nguyên tử, ta có thể đơn giản cách tính mà không phải tính riêng lẻ cho
từng phản ứng. Như vậy tư duy logic chính xác được phát triển, thể hiện học
sinh đã biết dựa vào bản chất hoá học của bài toán chứ không chỉ chú trọng
nhiều tính toán để tìm ra đáp số của bài.
3. Hướng dẫn học sinh giải bài tập về hiệu suất :
Ví dụ 1: Trong sách giáo khoa hoá 9 có bài tập
Từ 80 tấn quặng pirit chứa 40
0
0
S sản xuất được 92 tấn axit sunfuric.
Tính hiệu suất của quá trình.
Giải: Cách giải thông thường:
+ Viết 3 phương trình
4FeS
2
+ 11O
2

o
t
→
8SO
2
+ 2 Fe
2

Hướng dẫn học sinh giải bài tập hoá học theo phương pháp sáng tạo - GV: Hoàng Thị Lam
Khối lượng S có trong 80 tấn quặng pirit: m
S
=
x
40
80
100
= 32 tấn
=> n
S
= 1 mol
Theo (1), (2), (3) ta có n
H2SO4
= 1 mol
=> m
H2SO4
= 98 gam
Theo đề chỉ thu được 92 tấn axit sunfuric => H =
92
100
98
x
= 93,87%
* Cách giải sáng tạo:
Học sinh nhận thấy quá trình sản suất H
2
SO
4
từ quặng pirit gồm nhiều

Hướng dẫn học sinh giải bài tập hoá học theo phương pháp sáng tạo - GV: Hoàng Thị Lam
Ví dụ 2: Nung hỗn hợp gồm 2 muối CaCO
3
và MgCO
3
thu được 76
gam 2 oxit và 33,6 lít CO
2
(đktc). Tính khối lượng của hỗn hợp ban đầu, biết
hiệu suất của quá trình nung là 95% và cả hai muối đều bị nhiệt phân với hiệu
suất như nhau.
Giải: Với cách giải thông thường:
Viết PTHH, lập hệ phương trình đại số, giải hệ phương trình, tính khối
lượng hỗn hợp.
Với cách giải sáng tạo:
n
CO2
=
,
,
,
mol=
33 6
0 15
22 4
Áp dụng ĐLBTKL ta có m
hh
= m
2 oxit
+ m

mol
35,35
4,53
xa +

Ta có:
5,106
4,538,10
+
=
aa
a = 27. Kim loại đó là Al
Cách giải thông minh sáng tạo
Dựa vào định luật bảo toàn khối lượng. Vì kim loại phản ứng hết ta có:
m
Kim loại
+ m
Clo tham gia phản ứng
= m
muối
=>
2
Cl
m
= 53,4 - 10,8 = 42,6 (g)
Trang 15
Hướng dẫn học sinh giải bài tập hoá học theo phương pháp sáng tạo - GV: Hoàng Thị Lam
=>
2
Cl

,
2 24
22 4
= 0,1 mol => n
HCl pư
= 2n
H2
= 0,2 mol
=>Khối lượng gốc axit = 0,2 x 35,5 = 7,1g
=>Khối lượng muối = m
kim loại
+ m
gốc axit
= 4,2 + 7,1 = 11,3g
Ví dụ 3: Hoà tan 10 gam hỗn hợp hai muối cacbonat của kim loại hoá
trị II (XCO
3
) và III Y
2
(CO
3
)
3
bằng dung dịch HCl thu được dung dịch A và
0,672 lít khí bay ra (đktc). Hỏi cô cạn dung dịch A thu được bao nhiêu gam
muối khan.
Giải: Với cách giải thông thường:
Trang 16
Hướng dẫn học sinh giải bài tập hoá học theo phương pháp sáng tạo - GV: Hoàng Thị Lam
PTHH: XCO

Cách giải sáng tạo:
Áp dụng phương pháp tăng giảm khối lượng.
Theo PTHH ta thấy khi chuyển từ muối cacbonat thành muối clorua, cứ
1 mol CO2 bay ra thì lượng muối tăng 71 – 60 = 11 gam.
=> Tổng lượng muối clorua tạo thành: 10 + (11 x 0,03) = 10,33 gam
Phân tích:
Thực hiện yêu cầu này tuy tốn nhiều thời gian nhưng cùng một lúc nó
giúp ta đạt được nhiều mục đích.
+Phát huy năng lực sáng tạo của học sinh.
+Tổng kết các phương pháp giải bài tập.
+So sánh và đánh giá các phương pháp giải.
VI. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM
1. Kết quả đạt được
Trang 17
Hướng dẫn học sinh giải bài tập hoá học theo phương pháp sáng tạo - GV: Hoàng Thị Lam
Đề tài đã góp phần nâng cao rất đáng kế chất lượng đại trà bộ môn Hoá
học ở trường THCS Phổ Vinh. Đề tài đã rèn cho các em tư duy sáng tạo và tự
tin hơn trong việc tìm kiếm hướng giải cho các dạng bài tập, đặc biệt là các
dạng bài tập với nhiều cách giải sáng tạo.
Qua đề tài này, kiến thức, kĩ năng của học sinh được củng cố sâu sắc,
vững chắc hơn, kết quả học tập được nâng cao hơn.
Kết quả đạt được trong quá trình áp dụng đề tài trong năm học 2009-
2010
Lớp Sỉ số
Giỏi Khá Trung bình Yếu
SL % SL % SL % SL %
9A 34 9 26,5 11 32,4 10 29,4 4 11,7
9B 36 11 30,6 9 25 14 39 2 5,4
Kết quả đạt được trong quá trình áp dụng đề tài trong học kì I năm học 2010-
2011:

duy cho sinh thì các em sẽ hiểu, nhớ, vận dụng kiến thức tốt hơn, học sinh sẽ
được củng cố hệ thống hoá, mở rộng nâng cao kiến thức đồng thời các kỹ
năng cũng được rèn tốt hơn.
Tóm lại: Rèn tốt tư duy sáng tạo cho học sinh thông qua bài tập hoá
học nói riêng và thông qua các loại bài tập nói chung đều góp phần rất tích
cực vào việc hình thành nhân cách cho học sinh gồm: Tính chủ động, sáng
tạo, niềm tin và ý chí quyết tâm
Đó cũng chính là mục tiêu giáo dục con người trong thời đại mới.
Trên đây là một số kinh nghiệm mà tôi đã rút ra từ thực tế trong quá trình
giảng dạy hóa học ở trường THCS. Trên cơ sở lý luận và thực tế thông qua
một số ví dụ, tôi hi vọng đó là một nội dung hữu ích cho học sinh cũng như
giáo viên.Tuy nhiên, với phần hiểu biết có hạn nên khi viết đề tài này, chắc
chắn tôi chưa thấy hết được ưu điểm và hạn chế trong quá trình áp dụng, rất
mong được sự đóng góp chân thành của đồng nghiệp, ban giám khảo để đề
tài hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn.
D. TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 20
Hướng dẫn học sinh giải bài tập hoá học theo phương pháp sáng tạo - GV: Hoàng Thị Lam
Tên sách Tác giả Nhà XB – Năm XB
Sách giáo khoa Hoá học 8 Lê Xuân Trọng NXB Giáo dục - Năm
2005
Sách giáo khoa Hoá học 9 Lê Xuân Trọng NXB Giáo dục - Năm
2005
Hoá học cơ bản và nâng
cao 8
Ngô Nọc An NXB Giáo dục - Năm
2004
Hoá học cơ bản và nâng
cao 9


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status