MỤC LỤC
DANH MỤC HÌNH
DANH MỤC BẢNG
1. Giới thiệu
2. Khái niệm - Chu trình nước đô thị (Urban Water Cycle)
3. Hạ tầng nước đô thị ở TP HCM
3.1. Hệ thống cấp nước của TP HCM
3.1.1. Hiện trạng khai thác nước mặt
3.1.2. Hiện trạng khai thác nước ngầm
3.1.3. Dự báo nhu cầu sử dụng nước đến năm 2025
3.1.4. Nội dung quy hoạch nguồn nước cấp đến năm 2025 của TP.HCM
3.1.4.1. Về các nhà máy nước
3.1.4.2. Về nguồn nước
3.1.4.3. Về công trình dẫn nước thô
3.1.4.4. Về mạng lưới đường ống cấp nước
3.1.4.5. Các dự án ưu tiên thực hiện trong giai đoạn 2010 – 2015
3.2. Hệ thống thoát nước ở TP.HCM
3.2.1. Hệ thống kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè
3.2.2. Hệ thống kênh Tân Hoá- Lò Gốm
3.2.3. Hệ thống kênh Tàu Hủ - kênh Đôi – kênh Tẻ
3.2.4. Hệ thống kênh Bến Nghé
3.2.5. Hệ thống kênh Tham Lương – Bến Cát- Vàm Thuật
3.3. Hệ thống nhà máy xử lý nước thải tại TP HCM
3.3.1. Nhà máy xử lý nước thải Bình Hưng Hòa
3.3.1.1. Giới thiệu
3.3.1.2. Quy mô hoạt động
3.3.1.3. Thông số thiết kế
3.3.2. Nhà máy xử lý nước thải Bình Hưng
3.3.2.1. Tiêu chuẩn thiết kế
3.3.2.2. Mục tiêu và nhiệm vụ của nhà máy xử lý nước thải Bình Hưng
3.3.2.3. Các hạng mục xử lý nhà máy xử lý nước thải Bình Hưng
Bảng 3. Đặc điểm của mô hình ''cũ'' và ''mới xuất hiện” của hệ thống cấp nước đô thị
Bảng 4. Tóm tắt đặc điểm các trường hợp nghiên cứu
3
1. Giới thiệu
Dân số đô thị đòi hỏi một lượng lớn năng lượng và nguyên liệu, cũng như việc loại bỏ
chất thải, một số trong đó biến thành ô nhiễm môi trường. Thật vậy, tất cả hoạt động chính của
thành phố hiện đại - giao thông, cấp điện, cấp nước, xử lý chất thải, sưởi ấm, cung cấp dịch vụ,
sản xuất, vv - được đặc trưng bởi các vấn đề này. Vì vậy, sự tập trung của người dân trong các
khu đô thị làm thay đổi đáng kể dòng nguyên liệu và năng lượng trong khu vực bị ảnh hưởng, với
những thay đổi đồng thời trong cảnh quan, thay đổi nước, trầm tích, hóa chất và vi sinh vật, và
tăng phát thải nhiệt. Những thay đổi này sau đó ảnh hưởng đến hệ sinh thái đô thị, kể cả nước đô
thị và hệ sinh thái thủy sinh, và kết quả là sự suy thoái. Do đó, việc cung cấp dịch vụ nước đến
người dân đô thị gặp thách thức lớn, đặc biệt trong các thành phố lớn, được định nghĩa là các
thành phố với số dân từ 10 triệu trở lên. Nhưng số lượng các thành phố lớn không ngừng tăng
lên, đặc biệt là ở các nước đang phát triển, và tiếp tục ảnh hưởng trầm trọng lên sức khỏe con
người và các vấn đề môi trường. Sự tăng trưởng của số lượng các thành phố lớn được minh họa
trong Hình 1, liệt kê các thành phố lớn năm 1975 và 2003, và dự báo cho 2015.
Trong khi các tác dụng tiêu cực của đô thị hóa được biết đến khá nhiều và công khai rộng
rãi, cũng có các khía cạnh tích cực và lợi thế trong việc sống ở các thành phố được quản lý tốt,
bao gồm cả cơ hội quan trọng cho phát triển kinh tế và xã hội, một phong cách sống hiện đại với
sự tham gia của lực lượng lao động nữ cao và các chỉ số của các mức độ sức khỏe tốt, hạnh phúc
biết đọc biết viết, và hạn chế dấu chân sinh thái (Cohen, 2006). Tuy nhiên, việc quản lý của các
đơn vị đô thị lớn là một trong những thách thức lớn nhất hiện nay (Maksimovic và Tejada-
Guibert, 2001). Đối với đô thị hóa liên tục, cần lưu ý rằng các dữ liệu nhân khẩu học và lập kế
hoạch dự án là không chắc chắn, rằng hầu hết sự tăng trưởng hiện tại của khu vực thành thị do di
cư từ nông thôn ra thành thị và sự biến đổi của các khu định cư nông thôn vào thành phố, và cuối
cùng, hầu hết các tăng trưởng dự kiến sẽ không xảy ra trong các thành phố lớn nhất, nhưng ở các
thành phố và thị trấn thứ cấp nhỏ hơn trong thế giới đang phát triển, nơi có tỷ lệ nghèo cao và các
dịch vụ nói chung là trung bình (Cohen, 2006).
4
đất, với sự tham chiếu cụ thể đến xói mòn đất, ô nhiễm đất và lún đất
● Thủy văn, sinh thái, quá trình sinh học và hóa học trong môi trường nước đô thị của các
thành phố bền vững trong tương lai
● Đánh giá tác động của phát triển đô thị, sử dụng đất và những thay đổi kinh tế xã hội vào
nguồn cấp nước sẵn có, ô nhiễm hóa học thủy sinh (con người), xói mòn đất và bồi lắng, và môi
trường sống tự nhiên toàn vẹn và đa dạng
● Đánh giá các biện pháp phòng ngừa và giảm nhẹ có sẵn để đối phó với vấn đề nước đô thị.
Sản phẩm cuối cùng của hoạt động này nên trở thành một hướng dẫn về thay đổi trong
UWC và môi trường do các hoạt động của con người, có sự tham khảo với các khu vực khí hậu
khác nhau và thay đổi khí hậu tiềm năng. Hướng dẫn này nên đề nghị:
● Sự hiểu biết về quá trình diễn ra trong môi trường đô thị, và sự tương tác của môi trường
ngoại thành tự nhiên, nông thôn và thành thị để phân tích thành công, lập kế hoạch, phát triển và
quản lý hệ thống nước đô thị
● Phát triển các công cụ phân tích sáng tạo để giải quyết các vấn đề của không gian và biến
đổi theo thời gian
● Đánh giá các tác động tiềm tàng của biến đổi khí hậu và những thay đổi trên hệ thống nước
đô thị.
6
2. Khái niệm - Chu trình nước đô thị (Urban Water Cycle)
Định nghĩa chu trình thủy văn xuất hiện từ thời cổ đại (Maidment, 1993). Có nhiều định
nghĩa về chu trình thủy văn, nhưng nói chung chu trình thủy văn được định nghĩa là một mô hình
khái niệm mô tả việc lưu trữ và vận chuyển nước giữa sinh quyển, khí quyển, thạch quyển và
thủy quyển. Nước có thể được lưu trữ trong bầu khí quyển, đại dương, hồ, sông, suối, đất đai,
sông băng tuyết và các tầng nước ngầm. Nước được vận chuyển giữa các thành phần này nhờ các
quá trình bốc thoát hơi, ngưng tụ, mưa, thấm, tuyết tan và dòng chảy mặt, và cũng được xem như
là các thành phần trong chu trình nước.
Tổng hợp của quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa và gia tăng dân số ảnh hưởng đến
cảnh quan thiên nhiên và thủy văn của lưu vực sông. Mặc dù nhiều yếu tố của môi trường tự
nhiên bị tác động bởi hoạt động của con người nhưng cơ cấu chính của chu trình thủy văn vẫn
còn nguyên vẹn trong khu vực đô thị. Tuy nhiên, chu trình bị thay đổi rất nhiều bởi tác động của
8
Vì vậy, nghiên cứu của nước, trầm tích và cân bằng hóa học giúp thiết lập và định lượng
UWC, bằng cách giải quyết các vấn đề như: xác minh các lộ trình trong chu trình; định lượng
dòng chảy và thông lượng các trầm tích và hóa chất dọc theo đường đi, đánh giá thay đổi thành
phần và đánh giá tác động của khí hậu, dân số lên UWC. Ví dụ về cân bằng nước đô thị đã được
cung cấp bởi nhiều tác giả, bao gồm Hogland và Niemczynowicz (1980), Grimmond và Oke
(1986), van de Ven (1988), Stephenson (người đã trình bày một bản tóm tắt của sáu nghiên cứu
của các tác giả khác, 1996), Herrmann và Klaus (1996) và Gumbo (2000). Nó sẽ được lưu ý rằng
sự phát triển của ngân sách nước đô thị đã tìm thấy sự hữu ích trong cả hai nước phát triển (xem
ví dụ Imbe và cộng sự, 1997) và các nước đang phát triển (Gumbo, 2000). Một mô tả ngắn gọn
về các thành phần chính của UWC sau.
Hai nguồn nước chính trong UWC: nguồn nước cấp đô thị và nước mưa. Nước đô thị
thường được lấy từ bên ngoài khu vực đô thị hoặc thậm chí từ một lưu vực khác với số lượng rất
khác nhau phản ánh nhu cầu nước địa phương và sự quản lý của họ. Nước này theo nhiều con
đường vào khu đô thị và phân phối trong đó, một phần bị thất thoát xuống tầng nước ngầm, và
phần còn lại được sử dụng bởi dân cư, chuyển đổi thành nước thải đô thị, và cuối cùng trở về
nước mặt. Nguồn thứ hai, nước mưa, thường sau một con đường dài hơn thông qua các chu trình
nước. Nó rơi xuống dưới các hình thức khác nhau trong khu vực đô thị, là đối tượng thủy văn
(bao gồm cản trở, lưu trữ và bốc thoát hơi nước), một phần thấm vào mặt đất (làm ẩm đất và cung
cấp nước cho mạch nước ngầm) và một phần chuyển đổi thành dòng chảy bề mặt, có thể được
chuyển tải đến nguồn tiếp nhận nước bởi các hệ thống vận chuyển tự nhiên hoặc nhân tạo. Với
những thành công và độ chính xác khác nhau, các thành phần dòng chảy đã được định lượng cho
đô thị khu vực trong các nghiên cứu về cân bằng nước đô thị (Hogland và Niemczynowicz,
1980).
Kiến trúc truyền thống trong khu vực đô thị thường phản ánh những đặc điểm khí hậu của
khu vực. Tuy nhiên, kiến trúc truyền thống ở nhiều thành phố lớn đang được thay thế bởi kiến
trúc hiện đại vì gia tăng dân số và toàn cầu hóa, với thay đổi thích hợp trong thủy văn đô thị. Mật
độ dân số và các tòa nhà, hệ thống thu gom nước mưa, vật liệu sử dụng trong xây dựng, hệ thống
thu gom nước thải là một trong những yếu tố chính gây ra những thay đổi trong chu trình thủy
văn đô thị.
trong quá khứ, những gì đã bị mất tích là sự hiểu biết về các liên kết trong những thành phần
khác nhau, và ý nghĩa của các thực hành về chất lượng lâu dài của nước ngầm, đất và dòng chảy
môi trường.
10
3. Hạ tầng nước đô thị ở TP. HCM
3.1. Hệ thống cấp nước của TP HCM
Nguồn nước cấp cho hệ thống
Các nhà máy nước cấp ở TP HCM:
3.1.1. Hiện trạng khai thác nước mặt
Các nhà máy xử lý nước cấp, sử dụng nước mặt ở TP.HCM đang hoạt động hiện nay:
Nhà máy nước Tân Hiệp: Ấp Thới Tây 1, xã Tân Hiệp, Huyện Hóc Môn, TP.HCM.
Nhà máy nước Tân Hiệp là một đơn vị sản xuất trực thuộc Tổng Công ty Cấp nước Sài Gòn
được thành lập vào tháng 1 năm 2004. Nhà máy bao gồm Trạm bơm nước thô Hòa Phú tại khu
vực Bến Than, xã Hòa Phú, huyện Củ Chi và Khu xử lý nước Tân Hiệp tại ấp Thới Tây I, xã Tân
Hiệp, huyện Hóc Môn. Hiện nay nhà máy đang sản xuất 300.000 m
3
nước sạch/ngày với qui trình
công nghệ xử lý như sau: nước sông Sài Gòn được trạm bơm Hòa Phú đưa về khu xử lý nước Tân
Hiệp theo tuyến ống 1800 mm.
11
Dự án thuộc mạng cấp nước phía Tây cấp nước cho các khu vực: quận 6, 7, 8, 11, 12, Tân
Bình, Tân Phú, Bình Tân, Bình Chánh và huyện Nhà Bè; phường 1, Q.Gò Vấp; phường 10, 11,
12, 13 Q.Phú Nhuận và phường 5, 11, 12 Q.Bình Thạnh.
Nhà máy nước Thủ Đức: 02 Lê Văn Chí, phường Linh Trung, quận Thủ Đức.
Nhà mát nước Thủ Đức có công suất 750.000 m
3
/ngày. Nước được bơm từ trạm bơm Hóa
An trên sông Đồng Nai. Ngoài ra mỗi ngày bổ sung thêm 100.000m
3
của Công ty Cấp nước Bình
+ Lắp đặt máy phát điện diesel để cấp điện cho trạm lấy nước thô và nhà máy xử lý.
+ Lắp đặt đường ống đường kính 0,45 m qua cầu Đồng Nai.
Nhà máy nước Kênh Đông
Ngày 6/62013, nhà máy Kênh Đông chạy thử tải liên tục trong 72 giờ để kiểm tra tính ổn
định của thiết bị, chất lượng nước đảm bảo trước khi đấu nối vào mạng cấp nước sinh hoạt cho
các hộ dân ở quận 12, Tân Bình, Tân Phú, Hóc Môn, Bình Chánh và Bình Tân.
Nhà máy nước Kênh Đông được khởi công từ năm 2006 có tổng công suất 200.000 m
3
/ngày
với tổng vốn 1.250 tỉ đồng do Công ty cổ phần Cấp nước Kênh Đông làm chủ đầu tư. 150.000 m
3
nước sau xử lý được đưa theo đường ống D1.200 dài 12km từ nhà máy nước Kênh Đông (Củ
Chi) về bể chứa nhà máy nước Tân Hiệp (Hóc Môn) phân phối cho người dân. 50.000 m
3
nước
còn lại theo công suất của nhà máy sẽ được dẫn về cấp cho huyện Củ Chi (TPHCM) và các khu
công nghiệp ở huyện Đức Hòa, Đức Huệ, tỉnh Long An.
12
Theo quy hoạch cấp nước thành phố, nhà máy nước Kênh Đông sẽ được nâng công suất
thêm 150.000 m
3
/ngày (giai đoạn 2) vào năm 2015 để bổ sung nguồn nước sạch cấp cho Củ Chi.
Việc nhà máy Kênh Đông đưa vào hoạt động, cung cấp thêm nguồn nước sạch cho người
dân thành phố cùng với các nhà máy nước Tân Hiệp, Thủ Đức, Hóc Môn, Bình An, cụm giếng
Bình Trị Đông, cụm giếng Gò Vấp, hệ thống giếng lẻ với tổng công suất khoảng 1,7 triệu m
3
mỗi ngày.
Toàn bộ nguồn nước thô lấy từ hồ Dầu Tiếng. Dự báo nhu cầu sử dụng nước của thành phố
đến năm 2015 gần 2,8 triệu m
3
/ngày xử lý nước thô từ hàng chục giếng
bơm cấp về.
- Nhà máy khai thác nước ngầm Bình Hưng, huyện Bình Chánh: Công suất 15.000 m³/ngày
- Nhà máy nước ngầm Củ Chi 10.000 m³/ngày
- Nhà máy nước ngầm Bình Trị Đông: 8.000 m³/ngày
- Nhà máy nước ngầm Gò Vấp 10.000 m³/ngày.
3.1.3. Dự báo nhu cầu sử dụng nước đến năm 2025
Bảng 1. Nhu cầu sử dụng nước của TP HCM đến năm 2025
13
Stt Nhu cầu Năm 2015
/ngđ
Năm 2025
/ngđ
1 Nhu cầu nước sử dụng sinh hoạt 1.420.000 1.887.000
2 Nhu cầu sử dụng nước công nghiệp 165.000 246.000
3 Nhu cầu sử dụng nước các loại hình dịch
vụ khác
340.000 589.000
4 Nước thất thoát 825.000 848.000
Tổng nhu cầu sử dụng nước 2.750.000 3.570.000
(Nguồn: theo quyết định số 729/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ)
3.1.4. Nội dung quy hoạch nguồn nước cấp đến năm 2025 của TP.HCM
3.1.4.1. Về các nhà máy nước
Bảng 2. Nội dung quy hoạch các nhà máy nước đến năm 2025 của TP HCM
TT Nhà máy nước Công suất /ngđ
Hiện trạng
năm 2013
Giai đoạn đến
năm 2015
Giai đoạn đến
150.000
50.000
200.000
150.000
50.000
200.000
150.000
50.000
5 Nhà máy nước Kênh Đông II
(năm 2015 ) cấp cho Củ Chi
và Long An
150.000 250.000
Tổng công suất 500.000 950.000 1.350.000
III Nguồn nước ngầm
14
1 Nhà máy nước Tân Bình 65.000 75.000 75.000
2 Các giếng lẻ nội thành 2.000 0 0
3 Nhà máy nước Gò Vấp 10.000 10.000 10.000
4 Nhà máy nước Bình Trị Đông 8.000 8.000 0
5 Nguồn xã hội hóa (nước
ngầm)
3.000 2.000 0
6 Nhà máy nước Bình Hưng 15.000 15.000 15.000
7 Công nghiệp đã cấp phép 350.861 190.000 0
8 Sinh hoat/ dân cư/ hộ gia đình 256.000 140.000 0
Tổng công suất
709.861 440.000 100.000
Tổng cộng công suất toàn
thành phố
2.359.861 2.840.000 3.700.000
bơm, trang thiết bị và các công trình phụ trợ để tổng công suất đạt 2.500.000 m
3
/ngày.đêm giai
đoạn 2025; xây dựng thêm tuyến ống nước thô D2400 mm dài 11km từ Hóa An về nhà máy nước
Thủ Đức.
Tuyến ống nước thô Hòa Phú – nhà máy nước Tân Hiệp: xây dựng và lắp đặt bổ sung máy
bơm, trang thiết bị và các công trình phụ trợ để tổng công suất đạt 1.000.000 m
3
/ngày.đêm giai
đoạn 2025; xây dựng thêm tuyến ống nước thô D2000 mm dài 9,1km từ Hòa Phú về nhà máy
nước Tân Hiệp ngay từ giai đoạn 2015.
15
3.1.4.4. Về mạng lưới đường ống cấp nước
Các tuyến ống chuyển tải từ nhà máy nước Thủ Đức: cải tạo tuyến ống D2000mm hiện hữu
ở xa lộ Hà Nội, hoàn thành xây dựng và đưa vào sử dụng tuyến D2000mm BOO Thủ Đức, tuyến
ống D2400mm Thủ Đức – Bình Thái.
Các tuyến ống chuyển tải từ nhà máy nước Tân Hiệp: tuyến ống D1500mm hiện hữu; hoàn
thành xây dựng và đưa vào sử dụng tuyến ống D2000mm.
3.1.4.5. Các dự án ưu tiên thực hiện trong giai đoạn 2010 – 2015
• Các dự án ưu tiên về nguồn nước thô:
+ Dự án 1: Nghiên cứu khả năng và quy mô khai thác nguồn nước từ hồ Trị An, hồ Dầu Tiếng, hồ
Phước Hòa thay thế cho nguồn nước sông Đồng Nai và sông Sài Gòn (trong trường hợp sông Sài
Gòn và sông Đồng Nai bị ô nhiễm và nhiễm mặn) để cung cấp nước cho Tp.HCM.
+ Dự án 2: xây dựng hệ thống chuyển tải nước thô từ hồ Trị An cung cấp cho các nhà máy nước sử
dụng nước sông Đồng Nai.
+ Dự án 3: xây dựng hệ thống chuyển tải nước thô từ hồ Dầu Tiếng đến cung cấp cho các nhà máy
nước sử dụng nước sông Sài Gòn.
• Các dự án ưu tiên xây dựng nhà máy nước:
+ Dự án đầu tư xây dựng Nhà mày nước Thủ Đức III công suất 300.000 m
3
Nhiêu Lộc – Thị Nghè còn chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều không đều của biển Đông.
Nên khi nước lớn , nuớc thải trên kênh rạch chưa kịp thoát ra sông Sài Gòn đã bị thuỷ triều dồn ứ
đọng vào sâu trong rạch và trong đường cống, tạo điều kiện thuận lợi cho sự tích tụ các chất ô
nhiễm và bồi lắng lòng kênh rạch , gây khó khăn lớn cho việc thoát nước của hệ thống này.
Ngoài tuyến kênh chính, hệ thống kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè còn có các rạch nhánh:
- Rạch Văn Thánh: dài 2.200m, nằm trên địa bàn quận Bình Thạnh. Trước đây, có khả năng
lưu thông thuỷ, nay đã bị bồi lấp nhiều, mất dần khả năng giao thông thuỷ và khả năng thoát
nước.
- Rạch Cầu Sơn – Cầu Bông : dài 3.950m, cũng nằm trên địa bàn quận Bình Thạnhvà ăn thông
với rạch Văn Thánh. Tuyến rạch này hiện nay cũng bị bồi lấp nhiều
- Rạch Bùi Hữu Nghĩa: là một tuyến rạch nhỏ dọc theo đường Bùi Hữu Nghĩa, thuộc địa bàn
quận Bình Thạnh.
- Rạch Phan Văn Hân: nằm trên địa bàn quận Bình Thạnh. Nay đã bị lấp gần kín
- Rạch Ông Tiêu: thuộc khu qui hoạch Miếu Nổi, thuộc địa bàn quận Phú Nhuận
- Rạch Miếu Nổi: thuộc khu quy hoạch Miếu Nổi thuộc địa bàn quận Phú Nhuận
- Rạch bùng binh
3.2.2. Hệ thống kênh Tân Hoá - Lò Gốm
17
Hệ thống kênh Tân Hoá – Lò Gốm nằm trong khu cận trung tâm của nội thành Thành phố
Hồ Chí Minh, tuyến kênh chính có chiều dài khoảng 7.6 km chạy từ hướng Đông Bắc xuống Tây
Nam Thành phố đi ngang qua các quận: Tân Bình, quận 11, quận 6, quận 8 và kết thúc tại điểm
nối với kênh Tàu Hũ.
Ngoài tuyến kênh chính, hệ thống kênh Tân Hoá – Lò Gốm còn có các rạch nhánh:
- Rạch Đầm Sen: rộng 6-8m, dài khoảng 300m, nằm trên địa bàn quận 11. Rạch này nối với
khu công viên Đầm Sen và có một nhánh là rạch Cầu Mé đảm nhận chức năng thoát nước cho
khu vực Hàn Hải Nguyên- Minh Phụng- Lạc Long Quân. Rạch Cầu Mé đã lập dự án đầu tư cải
tạo thành cống hộp, còn rạch Đầm Sen được giữ lại sau khi thực hiện các biện pháp làm sạch,
chỉnh trang kết hợp với công viên Đầm Sen phục vụ nghỉ ngơi, giải trí.
- Rạch Bến Trâu: rộng 4-8m, dài 1.000m, là ranh giới hành chánh giữa 2 quận : Tân Bình
và quận 6, đảm nhận chức năng tiêu thoát nước cho Xí nghiệp Thực phẩm Cầu Tre (1200m
nước sông Cần Giuộc đưa vào pha loãng. Tình trạng này biến đoạn kênh từ thượng nguồn đến
cầu Tân Hóa thành một hồ sinh vật tự nhiên, hoạt động chủ yếu trong môi trường kỵ khí (lượng
oxy hoà tan bổ sung qua bề mặt nước rất nhỏ do dòng chảy chậm).
3.2.3. Hệ thống kênh Tàu Hủ - kênh Đôi – kênh Tẻ
Hệ thống kênh Tàu Hủ – kênh Đôi – kênh Tẻ được đào vào năm 1819 nằm ngay ở phía
Nam quận thương mại trung tâm thành phố. Hệ thống kênh này chảy qua 7 quận : 4, 5, 6, 7, 8 và
11 với tổng độ dài 19.5km. Kênh bị giới hạn bởi rạch Cần Giuộc và sông Sài Gòn ở hai đầu, nhận
nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp từ các quận đã nói ở trên . Hơn nữa, việc xả trực
tiếp rác từ các cư dân và ghe xuồng trong các quận này và các căn hộ lụp xụp xây cất bất hợp
pháp đã làm xấu đi tình trạng môi trường của các kênh. Kênh còn bị ảnh hưởng bởi thuỷ triều từ
hai hướng.
Ngoài tuyến kênh chính, hệ thống này còn có rất nhiều các kênh, rạch nhánh và các chi
lưu ăn thông ra các sông lớn: Sài Gòn, Nhà Bè.
- Rạch Ụ Cây: dài 1.150m hiện đã bị lấn chiếm và bồi lắng
- Rạch Ông Nhỏ 1.700m
- Rạch Xóm Củi 1.100m
- Rạch Bà Tàng 2.050m
- Kênh Ngang số 1: 450m
- Kênh Ngang số 2 450m
- Kênh Ngang số 3 450m
- Kênh Hàng Bàng 1.700m
19
Hệ kênh này chịu ảnh hưởng của thuỷ triều từ sông Sài Gòn và sông Cần Giuộc nên chế độ
thuỷ văn của kênh rất phức tạp, hình thành những vùng giáp nước, ô nhiễm tích tụ lại và khó thau
rửa.
Hiện tại, mặt cắt kênh vẫn còn khá rộng nhưng cạn vì bị bồi lắng . Tuyến kênh này ngoài
nhiệm vụ thoát nước còn giữ chức năng rất quan trọng là giao thông thuỷ. Nhưng lưu lượng tàu
thuyền đi lại trên tuyến đã bị giảm sút rõ rệt vì rạch đã bị cạn, không đảm bảo độ sâu chạy tàu,
thời gian chờ tàu khá lâu và thường bị kẹt rác.
3.2.4. Hệ thống kênh Bến Nghé
Gốm (giai đoạn mở rộng). Tổng chi phí đầu tư: 131,8 tỉ VNĐ (8,09 triệu USD). Bắt đầu vận hành
vào tháng 5/2006.
3.3.1.2. Quy mô hoạt động
Trạm tiếp nhận 60 – 80% lưu lượng nước thải của Kênh Đen, trên một lưu vực rộng khoảng
785 ha bao gồm nước thải sinh hoạt cảu 120.000 người và nước thải sản xuất không được xử lý
nằm trong khu vực.
Tổng diện tích: 35,4ha. Công suất thiết kế là 30.000 m
3
/ngày đêm nhưng hiện nay đang hoạt
động với công suất 26.000 m
3
/ngày đêm. Lượng bùn ở hồ lắng được hút một năm một lần (bùn
dâng 30 cm mỗi năm).
3.3.1.3. Thông số thiết kế
- Tổng diện tích: 35,4 ha.
- Diện tích các hồ: 22,63 ha.
- Diện tích vùng xanh: 5,34 ha.
- Công suất thiết kế: 30.000 m
3
/ngày đêm.
- Công suất mở rộng: 46.000 m
3
/ngày đêm (tính đến năm 2020)
- Sản lượng bùn: 560 m
3
/ngày đêm.
- Thời gian lưu nước: 14,4 ngày.
- Hao hụt thể tích nước bay hơi: 5mm/ngày.
- Hao hụt thể tích nước do tự thấm: 2-3 mm/ngày.
3.3.2. Nhà máy xử lý nước thải Bình Hưng
21
5 và một
phần quận
10
tính cải
tiến
(BOD ≤ 50 mg/L,
SS ≤ 100 mg/L)
Ghi chú:
- BOD: Nhu cầu Oxy hóa sinh học, có nghĩa là lượng Oxy cần thiết để vi sinh vật dùng
để khử các chất hữu cơ có trong nước thải.
- SS : Hàm lượng chất rắn lơ lửng có trong nước.
Hình 4. Sơ đồ tuyến cống thu gom nước thải của nàh máy xử lý nước thải
Bình Hưng giai đoạn 1
Nước thải từ các tuyến cống bao trong lưu vực Tàu Hủ - Bến Nghé – Kênh Đôi – Kênh Tẻ
được trung chuyển qua Trạm bơm Đồng Diều trước khi về nhà máy xử lý nước thải Bình Hưng.
Trạm bơm Đồng Diều được xây dựng tại Khu Đồng Diều, phường 4, quận 8, TP.HCM với
diện tích 0,6ha.
Công suất trạm bơm:
- Giai đoạn 1: 133,3 m
3
/phút (192.000 m
3
/ngày).
- Giai đoạn 2: 400 m
3
/phút (576.000 m
3
/ngày).
3
nước thải, chất lượng nước đầu ra đạt tiêu chuẩn TCVN 5945 – 2005.
3.3.3. Dự án nhà máy xử lý nước thải sinh hoạt đang triển khai của TP HCM
3.3.3.1. Nhà máy xử lý nước Suối Nhum
Nguồn nước thải của suối Xuân Trường, suối Nhum, suối Gò Cát khu vực quận 9, TPHCM
và một phần nước thải của huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương chảy qua Khu công nghệ cao TPHCM
sẽ được thu gom và xử lý tại nhà máy xử lý nước thải Suối Nhum công suất 65.000 m
3
/ngày, với
công suất xử lý 65.000 m
3
/ngày, nhà máy xử lý nước thải Suối Nhum sẽ giúp giảm ô nhiễm môi
trường khu vực phía Đông TPHCM và giúp cải thiện môi trường nguồn nước sông Đồng Nai,
vốn đang là nguồn cung cấp nước sinh hoạt chính cho TPHCM.
3.3.3.2. Nhà máy xử lý nước thải Tây Sài Gòn
Công suất xử lý 150.000 m
3
/ngày cho lưu vực Tham Lương - Bến Cát - Rạch Nước Lên, sẽ
được xây dựng trên diện tích 11 héc ta ở quận Bình Tân với tổng vốn xây dựng nhà máy ước
khoảng 80 triệu đô la Mỹ.
Theo kế hoạch, nhà máy sẽ vận hành vào năm 2015, xử lý nước thải cho các hộ dân lưu vực
Tham Lương-Bến Cát-Rạch Nước lên quận 12, Tân Phú, Bình Tân.
Theo quy hoạch, lưu vực Tham Lương-Bến Cát-Rạch Nước Lên sẽ có 3 nhà máy xử lý
nước thải gồm nhà máy xử lý nước thải Tây Sài Gòn (150.000 m
3
/ngày), nhà máy Tham Lương-
Bến Cát (250.000 m
3
/ngày) và nhà máy Bình Tân (180.000 m
3
25