KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH - TIỀN TỆ TOÀN CẦU
VÀ VẤN ĐỀ QUYỀN CON NGƯỜI HIỆN NAY
Nguyễn Thị Hảo
*
Khủng hoảng kinh tế, là sự suy giảm các hoạt động kinh tế kéo dài, và trầm
trọng hơn cả là sự “suy thoái trong chu kỳ kinh tế”. Khủng hoảng kinh tế còn là quá
trình tái sản xuất đang bị suy sụp tạm thời, làm những xung đột giữa các giai tầng
trong xã hội thêm căng thẳng, đồng thời tái khởi động một quá trình tích tụ tư bản
mới.
C.Mác viết: “Khả năng chung của các cuộc khủng hoảng, chính là bản
thân sự biến đổi hình thái có tính chất hình thức của tư bản, là việc mua và bán
tách rời ra khỏi hình thức của tư bản, là việc mua và bán tách rời ra khỏi nhau,
trong thời gian và không gian”
(1)
.
Các cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ trên thế giới có thể xảy ra ở nhiều
dạng khác nhau. Cho dù ở dạng nào, thì các cuộc khủng hoảng đó cũng ảnh hưởng
không nhỏ đến nền kinh tế của quốc gia nói riêng và nền kinh tế thế giới nói
chung. Vì thế, việc nhận diện các cuộc khủng hoảng và hiểu được nguyên nhân
sâu xa của nó, có ý nghĩa hết sức quan trọng trong tiến trình phát triển kinh tế
quốc gia, khu vực và trên thế giới.
1. Cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ toàn cầu 2008 và những con số
Gần 500 năm tồn tại, với những cơ man “phao cứu sinh”, chủ nghĩa tư bản
vẫn phải bất lực trước khủng hoảng có tính chất chu kỳ của mình. Cuộc khủng
hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu năm 2008 được đánh giá là trầm
trọng nhất kể từ 80 năm qua. Khủng hoảng nổ ra, bắt đầu từ sự quỵ ngã Hedge -
fund của Bear Stearns - ngân hàng đầu tư lớn thứ năm ở Mỹ tháng 6/2007. Đến
30/05/2008, ngân hàng này phải bán cho JP Morgan Chase với giá 1,1 tỷ đôla. Sau
đó, kéo theo sự ảnh hưởng của hàng loạt các tổ chức tài chính khác như:
Countrywide Financial, IndyMac…
*
hợp đồng cho vay bất động sản thế chấp, tổng số khoảng 12.000 tỷ USD. Trong
đó, 3 - 4 ngàn tỷ USD dưới chuẩn, khó đòi. Bởi những hợp đồng không có khả
năng trả, làm cho các ngân hàng rơi vào tình trạng phát hành chứng khoán nhưng
không có khả năng thanh toán, thanh khoản, lâm vào phá sản
(3)
.
Nguyên nhân trực tiếp của cuộc khủng hoảng lần này là việc kích cầu tiêu
dùng quá mức và cho vay dưới chuẩn. Các hoạt động đầu cơ tài chính vào bất
động sản và các sản phẩm tài chính hóa đã tạo ra những “bong bóng” tài chính
(2)
Theo tin tổng hợp từ VietNamnet.vn, tháng 01 năm 2009.
(3)
Báo cáo tại Diễn đàn châu Á Bác Ngao 2009, khai mạc ngày 18/4 tại Bác Ngao, Hải Nam, Trung Quốc.
khổng lồ. Việc bành trướng về quân sự, chính trị của Mỹ, đòi hỏi chi tiêu rất lớn,
gây thâm hụt ngân sách với quy mô chưa từng có. Những món nợ từ việc vay tiền
ngân hàng để mua nhà, tham gia vào thị trường bất động sản là nguyên nhân dẫn
đến tình trạng tài chính suy thoái hiện nay. Đến lúc, người đi vay không thể trả
được nợ, các ngân hàng buộc phải tuyên bố vỡ nợ. Từ đó, theo dây chuyền, sự ảnh
hưởng lan ra các thị trường vốn như: thị trường chứng khoán, thị trường tài chính
khác dẫn đến tình trạng khủng hoảng tài chính toàn cầu.
Giống như “con rắn lột da”, hệ thống kinh tế thế giới đang trong quá trình
chuyển đổi, ít được bảo vệ và ít khả năng tự bảo vệ, nên dễ bị tổn thương. Theo đà
“tự do hoá”, thả lỏng, coi nhẹ nhiệm vụ kiểm soát và điều chỉnh quá trình đó, đem
đến kết cục rủi ro là, khủng hoảng trở thành tai họa hiện thực.
Một mặt, chúng ta có thể thấy được chiều hướng ít lạc quan của nền kinh tế
thế giới từ năm 2009 đến nay; thậm chí, phải tính đến xu hướng suy thoái gia tăng
kéo dài. Mặt khác, từ góc nhìn nào đó, lại thấy sự bừng sáng lên hi vọng. Triển
vọng của nền kinh tế thế giới là triển vọng của “một con rắn đang lột da”, tuy rất
yếu và còn phải trải qua nhiều đau đớn, song, khi đã vượt qua cơn nguy biến thì,
“con rắn” chắc chắn sẽ càng dũng mãnh hơn
diện rộng, không chỉ ở lĩnh vực ngân hàng, mà tất cả các nền kinh tế, các thị
trường đều bước vào thời kỳ suy thoái nghiêm trọng.
Tác động tiêu cực mà cuộc khủng hoảng hiện nay là quá rõ ràng, toàn diện
và hết sức nặng nề đối với nước Mỹ cũng như toàn thế giới.
Một là, cuộc khủng hoảng đã làm cho hệ thống tài chính bị đổ vỡ hàng loạt.
Số lượng các ngân hàng bị đổ vỡ, đánh sập, giải thể hoặc quốc hữu hóa tăng lên
nhanh chóng. Theo báo cáo của Quỹ tiền tệ thế giới (IMF), từ ngày 15 tháng 9
năm 2008 đến ngày 6 tháng 01 năm 2009, ở Mỹ đã có 14 ngân hàng, tính chung cả
các nước Châu Âu và Nhật Bản là 23 ngân hàng bị sụp đổ. Con số lên tới 25 ngân
hàng trong cả năm 2008 ở Mỹ
(6)
.
Đầu năm 2009, Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) dự báo tổng mức thua lỗ từ cuộc
khủng hoảng tín dụng có thể đạt gần 1.000 tỷ USD. Quỹ cũng cho rằng, sẽ có gần
110 ngân hàng với tài sản 850 tỷ USD phải đóng cửa, tính đến tháng 7/2009
(7)
.
Hai là, cuộc khủng hoảng làm cho thị trường chứng khoán suy giảm mạnh
mẽ. Chỉ tính riêng năm 2008, do tác động của cuộc khủng hoảng, thị trường chứng
khoán toàn cầu đã mất khoảng 17 nghìn tỷ USD
(8)
.
Ba là, cuộc khủng hoảng là nguyên nhân làm cho giá cả bất động sản suy
giảm mạnh mẽ. Trong tháng 11 năm 2008, giá bất động sản ở Mỹ đã giảm từ 21%
đến 50 %. Số lượng nhà giao bán do nhiều người không có khả năng thanh toán
tăng từ 15% đến 90%
(9)
. Đây là những con số hết sức nguy hiểm cho nền kinh tế
Mỹ nói riêng và nền kinh tế thế giới nói chung.
Bốn là, cuộc khủng hoảng tài chính hiện nay đã khiến cho giá cả của hầu
hoảng ảnh hưởng đến cuộc sống của đa số người dân Mỹ và người dân toàn thế
giới. Lạm phát gia tăng, giảm mức sống thực tế của người làm công ăn lương.
Những căng thẳng và bất ổn về chính trị nhất định cũng sẽ xảy ra.
Những điều trên đã ảnh hưởng trực tiếp đến quyền sống và phát triển của con
người. Thứ nhất, các cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ làm cho nhiều ngân hàng,
nhiều nhà máy lâm vào khủng hoảng hoặc sụp đổ, dẫn đến tình trạng rất đông người
lao động bị thất nghiệp, tình hình chính trị, xã hội bất ổn định.
Thứ hai, khủng hoảng tài chính - tiền tệ còn khiến tình hình tài chính của
chính phủ lâm vào tình trạng xấu. Thâm hụt tài chính ngày càng tăng lên… Lĩnh
vực lưu thông tiền tệ đang bị chao đảo. Sau khi khủng hoảng, các đơn vị kinh tế bị
thiếu vốn, nợ đọng, vỡ nợ và phá sản.
(10)
Trong đó, Mỹ thừa nhận rơi vào suy thoái từ tháng 12 năm 2007. Các nước còn lại đều công bố suy
thoái từ tháng 11 năm 2008.
Thứ ba, khủng hoảng tài chính - tiền tệ dẫn tới mâu thuẫn giữa các nước tư
bản chủ nghĩa trở nên ngày càng gay gắt; mâu thuẫn giữa các nước phát triển và
các nước đang phát triển mở rộng và sâu sắc hơn.
Nền kinh tế Việt Nam, đang ngày càng hội nhập sâu, rộng vào nền kinh tế
thế giới. Tuy không trực tiếp, nhưng trong một thế giới chung, nền kinh tế nước ta
chịu tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu là điều tất yếu.
Tác động lớn nhất của cuộc khủng hoảng đối với Việt Nam, trước hết là
trên lĩnh vực xuất khẩu sang thị trường Mỹ và Châu Âu (chiếm khoản 40 - 60%
kim ngạch xuất khẩu). Đồng thời, suy thoái kinh tế cũng kéo theo nhu cầu tiêu thụ
sụt giảm trên phạm vi toàn cầu. Quỹ tiền tệ thế giới (IMF) dự báo: Tăng trưởng
GDP toàn cầu sụt giảm 5% năm 2007 xuống 3,9% năm 2008 và 3% năm 2009.
Tác động tiếp theo là lĩnh vực đầu tư trực tiếp. Chi phí huy động vốn toàn
cầu ngày càng gia tăng. Khó khăn về vốn, đang đặt ra cho các nước, trong đó có
Việt Nam. Vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam có thể bị chững lại, thậm chí, cả
những vốn đã cam kết đầu tư cũng phải thực hiện trễ hơn. Trong khi đó, 80% vốn
đầu tư vào nước ta hiện nay là vốn đi vay.
những gì có thể xảy ra để tránh, trên con đường phát triển đất nước.
Thứ tư, qua cuộc khủng hoảng lần này, chúng ta có thể có những cơ hội thu
hút vốn đầu tư. Dòng vốn trên thế giới sẽ tập trung vào những nơi có môi trường
chính trị và môi trường kinh doanh ổn định
(12)
.
Thứ năm, cùng với những cơ hội kể trên, xuất khẩu của Việt Nam cũng có
thể tăng ở các mặt hàng mà chúng ta đang có lợi thế so sánh. Tranh thủ nhập khẩu
mặt hàng, công nghệ mà các nước phát triển phải bán đi do kinh tế đi xuống.
Tuy nhiên, tác động mạnh mẽ của cuộc khủng hoảng tài chính quốc tế,
cùng với những khó khăn trong nước, đòi hỏi chúng ta phải hết sức thận trọng.
Chính phủ cần theo dõi sát tình hình trong và ngoài nước để xử lý kịp thời trước
những biến động có thể xảy ra.
Tóm lại, sự phá hoại và tác dụng thúc đẩy sản xuất của khủng hoảng tài
chính - tiền tệ toàn cầu là hai mặt của một sự việc. Giống như “núi lửa trào sôi”,
vừa là bột phát của áp lực trong lòng đất, vừa là sự giải thoát áp lực này.
3. Giải pháp và bài học tránh tác động tiêu cực đến quyền con người
Việt Nam bước vào thực hiện mô hình kinh tế thị trường định hướng
XHCN, trong bối cảnh kinh tế thế giới đầy mâu thuẫn, biến động. Thách thức đối
với nền kinh tế Việt Nam vẫn rất lớn. Giai đoạn này, chính phủ Việt Nam không
(12)
Theo dự báo của ông Vũ Thành Tự Anh, Giám đốc phụ trách nghiên cứu Chương trình
Giảng dạy Kinh tế Fulbright, tại cuộc toạ đám trực tuyến ngày 16/10/2008, trên
VnEconomy.
có sự lựa chọn nào hơn ngoài việc tiếp tục đặt mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn
định kinh tế vĩ mô, giải quyết tốt an sinh xã hội là ưu tiên hàng đầu.
Trước diễn biến phức tạp của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, Bộ Tài
chính Việt Nam đã đưa ra sáu nhóm giải pháp quan trọng để tránh khủng hoảng có
thể xảy ra đối với nước ta
(13)
của chúng ta đang trong quá trình chuyển đổi, sự phát triển chưa vững chắc và
việc quản lý kinh tế xã hội của ta còn nhiều yếu kém. Để tạo lập sự phát triển bền
vững và tăng cường khả năng thích ứng với các cuộc khủng hoảng cần rút ra một
số bài học sau:
Một là, tiếp tục thực hiện một cách nhất quán chính sách phát triển kinh tế
nhiều thành phần, định hướng xã hội chủ nghĩa. Coi các thành phần kinh tế, kinh
doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành
mạnh.
Hai là, tăng cường đổi mới và nâng cao hiệu lực quản lý kinh tế của Nhà
nước. Nhìn chung, kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam mới được bắt
đầu, còn gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, phải đổi mới mạnh mẽ tư duy hơn nữa, đẩy
mạnh việc hình thành các loại thị trường. Chủ động hội nhập thị trường quốc tế.
Hạn chế và kiểm soát độc quyền kinh doanh.
Ba là, giải quyết tốt các vấn đề xã hội, hướng vào phát triển và lành mạnh hóa
xã hội, thực hiện công bằng xã hội, coi đây là một nội dung rất quan trọng của định
hướng XHCN, bảo đảm tính ưu việt của chế độ xã hội mới.
Trong tình hình hiện nay, chính phủ phải bằng nhiều giải pháp khác nhau,
để giải quyết vấn đề lao động và việc làm. Tiếp tục thực hiện chương trình xóa
đói, giảm nghèo, chăm sóc những đối tượng chính sách. Đẩy mạnh cuộc đấu tranh
phòng chống tội phạm, giữ gìn trật tự và kỷ cương xã hội. Kết quả cuộc đấu tranh
này, là thước đo bản lĩnh, trình độ và năng lực quản lý của Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân.
Bốn là, huy động tối đa các nguồn lực trong nước và tranh thủ các nguồn
lực bên ngoài. Kinh nghiệm cho thấy, một nền kinh tế được liên kết chặt chẽ với
kinh tế thế giới, nguy cơ tổn thương lớn, nhưng khả năng phục hồi cũng rất nhanh.
Vấn đề là, tránh sự phụ thuộc một chiều, cần coi các nguồn lực bên ngoài chỉ là sự
hỗ trợ các nguồn lực trong nước trên chặng đường phát triển
(14)
.
quả. Bảo đảm quyền kinh tế cho mọi người, quyền bình đẳng trong lĩnh vực kinh
tế, đòi hỏi chiến lược xóa đói, giảm nghèo, thực hiện công bằng xã hội và dần dần
giảm sự phân cách giàu nghèo là rất quan trọng.
Để thực hiện được điều đó, vấn đề quan trọng hiện nay là Nhà nước với vai
trò điều tiết vĩ mô, quản lý nền kinh tế, dùng công cụ, sức mạnh thông qua chính
sách thuế, thực hiện việc điều tiết, phân phối lợi ích và bảo đảm phúc lợi xã hội,
trong đó chú trọng đến các đối tượng hưởng chính sách xã hội, đến vùng sâu, vùng
xa; đồng thời, có chiến lược phát triển kinh tế vùng miền, bảo đảm vùng sâu, vùng
xa dần tiến kịp với các thành phố, đô thị…
Tóm lại, khủng hoảng tài chính - tiền tệ là nguy cơ thường trực đối với các
nền kinh tế trên thế giới, đặc biệt là các nền kinh tế đang phát triển, khi mà, kinh tế
Việt Nam đang trên đà tự do hoá, diễn biến càng đặt ra những thách thức cho việc
điều hành chính sách tài chính - tiền tệ.
Trong những năm tới, để thực hiện và bảo đảm tốt hơn nữa vấn đề quyền
con người, trước hết, cần tập trung phát triển kinh tế - xã hội. Đây là điều kiện vật
chất quan trọng để nâng cao mức sống, chất lượng sống của người dân cả về vật
chất và tinh thần. Hai là, tiếp tục hoàn thiện hệ thống luật pháp bảo đảm quyền
con người; đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học về quyền con người để sớm có
thể đưa vào giảng dạy trong hệ thống nhà trường ở những chương trình cụ thể. Ba
là, tăng cường công tác vận động quần chúng, phối hợp giữa các bộ, ban, ngành,
đoàn thể, tổ chức chính trị, xã hội và địa phương; giải quyết tốt những bức xúc
trong nhân dân, không để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá, lôi kéo, chia rẽ.
Bốn là, nâng cao hiệu quả thông tin, tuyên truyền trong nước, cũng như thông tin
đối ngoại về vấn đề dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam để mọi người dân hiểu rõ,
nhận thức sâu sắc về vấn đề dân chủ và nhân quyền trong điều kiện hiện nay, tranh
thủ sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân, của cộng đồng quốc tế.
Hiện nay, cuộc khủng hoảng tài chính - kinh tế toàn cầu vẫn còn để lại
những hậu quả và hệ lụy phức tạp đặt ra đối với các quốc gia, trong đó có Việt
Nam. Đây là thời điểm có nhiều thách thức cần phải vượt qua, nhưng cũng là một
thời cơ mới nếu ta biết cách tận dụng, là dịp để chúng ta nhìn lại mình, có sự điều