Tiểu Luận Những biến đổi của châu Âu sau chiến tranh lạnh và tác động của nó đến sự hình thành chiến lược mở rộng - Pdf 26

Mục lục
Trang
Tóm tắt nội dung chính 2
Lời mở đầu 3
Phần I. Những biến đổi của châu Âu sau chiến tranh lạnh và tác
động của nó đến sự hình thành chiến lược mở rộng sang
phía Đông của EU 4
Phần II. Những biến đổi của châu Âu sau chiến tranh lạnh và tác
động của nó đến sự hình thành chiến lược mở rộng sang
phía Đông của EU
1. Quá trình mở rộng sang phía Đông của EU 5
2. Thách thức sau khi mở rộng EU sang phía Đông 7
Phần III. Ảnh hưởng của chiến lược mở rộng sang phía Đông đối với
Nga 8
Kết luận 10
Danh mục tài liệu tham khảo 11
1
Tóm tắt nội dung chính
Sau chiến tranh lạnh, Liên minh châu Âu đang ở một bước ngoặt lịch
sử. Đông và Tây Âu lại thống nhất lại trong một châu Âu chung như trước
chiến tranh thế giới II. Khi EU vươn tay tới Đông Âu, hố ngăn cách giữa
hai phần Đông và Tây của châu Âu, sản phẩm của chiến tranh lạnh, rõ ràng
đã được xóa bỏ. Chiến lược mở rộng EU sang phía Đông ra đời, nằm trong
chiến lược nhất thể hóa châu Âu của EU. Mở rộng EU lần này không phải
là lần mở rộng đầu tiên trong lịch sử châu Âu, nhưng quy mô của lần mở
rộng này là lần mở rộng lớn nhất và cũng mang nhiều ý nghĩa chính trị. EU
giờ đây đã bao quát gần hết lãnh thổ châu Âu, trở thành một trong các trung
tâm hàng đầu thế giới về chính trị, kinh tế, thương mại, tài chính, khoa học
và công nghệ. Tuy nhiên, lần mở rộng này cũng đem lại không ít thách
thức cho EU khi có sự chênh lệch, khác biệt giữa các thành viên cũ và các
nước mới gia nhập. Việc mở rộng sang phía Đông cũng ảnh hưởng không

bài tiểu luận xin tập trung vào quá trình hình thành và phát triển của chiến lược
mở rộng sang phía Đông của Liên minh châu Âu và những ảnh hưởng của nó đến
nước Nga. Bài tiểu luận được chia làm 3 phần:
- Phần I. Những biến đổi của châu Âu sau chiến tranh lạnh và tác động của
nó đến sự hình thành chiến lược mở rộng sang phía Đông của EU
- Phần II. EU mở rộng sang phía Đông
- Phần III. Ảnh hưởng của chiến lược mở rộng sang phía Đông đối với Nga
3
I. Những biến đổi của châu Âu sau chiến tranh lạnh và tác động của nó
đến sự hình thành chiến lược mở rộng sang phía Đông của EU
Vào đầu thập kỷ 90, tình hình thế giới biến đổi một cách cơ bản hết sức nhanh
chóng và sâu sắc. Tình hình đó đã làm thay đổi những điều kiện mà trong đó tiến
trình nhất thể hoá châu Âu phát sinh và phát triển.
Sự sụp đổ của CNXH Liên Xô và các nước Đông Âu, khối Vacsava giải thể đã
làm thay đổi cục diện thế giới, đặc biệt là cục diện địa – chính trị châu Âu. Chiến
tranh lạnh kết thúc, thế giới hai cực đối đầu Xô - Mỹ không còn. Liên minh châu
Âu có cơ hội thoát khỏi sự khống chế của Mỹ, vươn lên giành ảnh hưởng và quyền
chủ đạo các công việc ở châu Âu. Hiệp ước và Liên minh châu Âu, Hiệp ước
Masstricht được 12 nước châu Âu ký kết ngày 7/2/1991 đánh dấu một giai đoạn
mới trong tiến trình tạo dựng một liên minh ngày càng chặt chẽ giữa các nước
châu Âu.
Hệ thống an ninh, kinh tế kiểu Xô Viết sụp đổ cũng là lúc các nước Trung-
Đông Âu chuyển sang kinh tế thị trường, thiết lập các nhà nước dân chủ theo mô
hình phương Tây và mong muốn được tham gia các cơ chế EU. Ngay từ cuối
những năm 80, đầu 90 vấn đề liên kết chiều sâu và liên kết chiều rộng đã được
thảo luận trong EEC. Sau hiệp ước Maastricht, EEC được biết đến với tên gọi Liên
hiệp Châu Âu EU- Nó thể hiện một bước tiến mới trong tiến trình liên kết toàn
diện của cộng đồng. Những người theo trường phái liên kết chiều sâu muốn xây
dựng các mối liên kết chặt chẽ hơn giữa các nước trong khối trước khi kết nạp
trong khi một số khác thì ủng hộ việc kết nạp ngay rồi cùng thúc đẩy việc liên kết

600 triệu USD, năm 1991 là 974 triệu USD và năm 1992 là 1,2 tỷ USD. Tiếp theo,
EU đã ký với hầu hết các nước Đông Âu hiệp định hợp tác thương mại. Ngân hàng
đầu tư Châu Âu dự trữ hàng tỷ đô la sẵn sàng cung cấp tín dụng cho Đông Âu.
Đặc biệt, với việc thành lập Ngân hàng tái thiết và phát triển Châu Âu (EBRD)
năm 1990 với nguồn vốn từ các nước EU, Mỹ và Nhật trong đó EU chiếm 51%,
với số vốn ban đầu 12 tỷ USD nhằm giúp cho thành phần kinh tế tư nhân ở các
nước Đông Âu. Chỉ riêng năm 1992, EBRD đã thông qua các dự án trị giá 1,3 tỷ
USD trợ giúp các nước này. Người ta coi đây là một "kế hoạch Marshall mới" cho
Đông Âu ở thời kỳ sau chiến tranh lạnh. Điều đó cũng nói lên quan tâm của EU
khuyến khích các nước Đông Âu phát triển mạnh mẽ thành phần kinh tế tư nhân
mà họ cho là đóng vai trò quan trọng nhất trong nền kinh tế thị trường tự do. Hiện
nay ủy ban Châu Âu giữ quyền điều phối nhóm 24 nước (các nước EU, các nước
EFTA, Mỹ, Nhật, Canađa, Australia, New Zealand) trong việc hỗ trợ những cải
cách ở Đông Âu. Vai trò đi đầu của EU trong chương trình này không chỉ giúp cho
EU thêm sức mạnh trong chính sách đối ngoại của mình mà còn có vai trò ngày
càng lớn trong tương lai của Đông Âu ở cả phương diện chính trị cũng như kinh
tế. Bằng việc ký Hiệp định Châu Âu (Europe Agreements) năm 1990 với các nước
Ba Lan, Hungari, Séc, Slovakia, Rumani, Bungari, (có hiệu lực với Ba Lan và
Hungari từ năm 1994), các nước sẽ thực hiện tự do hóa thương mại trong hàng hóa
công nghiệp kể cả những sản phẩm nhậy cảm như hàng dệt và sắt thép. Đây là
bước quá độ để các nước này tham gia đầy đủ vào EU. Với ý nghĩa chiến lược
trong việc thu hút các nước Đông Âu tham gia vào quỹ đạo của mình, EU phải
chịu gánh nặng về tài chính cho tiến trình này cũng như phải có những chính sách
ưu tiên cho các nước nói trên. Bằng việc mở cửa thị trường cho hàng xuất khẩu
của Đông Âu, EU đã góp phần làm sống động hoạt động kinh tế của khu vực này.
Có tới gần 80% hàng xuất của Trung-Đông Âu là sang thị trường EU, trong khi
chỉ xuất được 5% sang Mỹ. Theo các nghiên cứu của ủy ban Châu Âu, chỉ riêng
việc mở rộng cải cách nông nghiệp và phát triển hạ tầng cơ sở của 10 nước Trung-
Đông Âu thì EU đã phải chi thêm 38 tỷ ECU (tương đương 5 tỷ USD) trong ngân
sách mỗi năm của mình. Ngoài ra những trợ giúp về kỹ thuật, pháp lý, mạng lưới

các mục tiêu liên minh kinh tế, tiền tệ và chính trị.
2
Từ sự tính toán về vai trò địa - chiến lược và EU sẽ mở rộng sang phía Đông để
thống nhất toàn bộ châu Âu, tháng 12 năm 2001, hội nghị cấp cao EU đã thông
qua “Hiệp ước Nixơ” nhằm gạt bỏ tất cả trở ngại để mở rộng tổ chức này sang
phía Đông. Hội nghị cấp cao EU tháng 12/2001 đã tuyên bố 10 quốc gia là :
Manta, Slovakia, Séc, Estonia, Látvia, Lítva, Hungari, Ba Lan, Slovenia đã đạt
được những tiêu chuẩn cơ bản và đến năm 2004, các nước này sẽ trở thành thành
viên chính thức của tổ chức này. Ngày 13/12/2002 được coi là dấu chấm hết sau 4
năm đàm phán về vấn đề kết nạp hội viên mới. Lễ kết nạp đã được tổ chức vào
ngày 1/5/2004, EU với 15 nước đã trở thành “EU 25”. Ngày 01/01/2007, EU kết
nạp thêm Bungaria va Rumania trở thành “EU 27”.
Mở rộng EU sang phía Đông là tính toán chiến lược tổng hợp sau chiến tranh
lạnh , có ý nghĩa trước mắt và lâu dài. Trước mắt, có ý nghĩa chính trị to lớn, lợi
dụng “khối Liên Xô” tan rã và suy thoái để lấp khoảng trống chính trị tại khu vực
1
Nguyễn Thị Bình, “Về việc mở rộng sang phía Đông”, website:
2
Carlo Filipini-Bùi Huy Khoát-Stephan Hell, “Mở rộng EU và các tác động đối với Việt Nam”, NXB
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004, tr.81
6
Trung Đông, thúc đẩy các quốc gia khu vực này đi vào quỹ đạo chính trị - kinh tế
của EU, ngăn chặn khả năng đảo ngược về chính trị, trở lại thân Nga về ngoại
giao, làm cho châu Âu rơi vào tình trạng tiếp tục bị phân liệt. Còn về lâu dài, EU
muốn thực hiện châu Âu nhất thể hoá toàn diện, một “Đại châu Âu” của người
châu Âu thực sự, nhằm đảm bảo cho châu Âu hoà bình vĩnh viễn và phát triển
phồn vinh, phát huy vai trò độc lập và ảnh hưởng tương xứng của nó trên trường
quốc tế.
3


nhất của Mỹ. Nhưng nhiều người cũng lạc quan cho rằng những bất đồng này sẽ
3
TS. Hồ Châu, “Chiến lược châu Âu của Nga trong bối cảnh EU mở rộng sang phía Đông”, Nghiên cứu
châu Âu, số 5(53)/2003
4
Quang Thuận(Theo I.H.T), “Châu Âu tái thống nhất - Đồng sàng dị mộng?”,
Website:
7
được xóa bỏ khi Đông và Tây Âu thực sự trở thành một. "Địa lý sẽ chiến thắng
lịch sử. Cuối cùng người Đông Âu sẽ phải ngả về Brussels vì hàng ngày họ sẽ cần
tới Brussels".
III. Ảnh hưởng của chiến lược mở rộng sang phía Đông đối với Nga
Có lẽ hơn ai hết, Nga là nước chịu ảnh hưởng nhiều nhất từ chiến lược “Đông
tiến” của EU. Chiến lược sẽ thúc đẩy bước phát triển và ổn định về kinh tế, chính
trị và an ninh của Nga. EU là một liên minh kinh tế - chính trị, không đe doạ đối
với Nga. Mở rộng sang phía Đông, trước hết EU mở rộng thị trường châu Âu, từ
đó khai thác con đường và phạm vi hợp tác kinh tế song phương, mang lại cho
Nga nhiều cơ hội phát triển. EU là bạn hàng lớn nhất của Nga, xuất khẩu sang thị
trường EU trong lĩnh vực năng lượng là động lực vực dậy nền kinh tế Nga. Sự
khởi động đồng Euro đã giúp các xí nghiệp của Nga tiến vào thị trường EU thuận
tiện hơn, nó còn giúp cải thiện cơ cấu ngoại tệ, giảm bớt nguy cơ suy thoái tiền
tệ…
Việc EU mở rộng sang phía Đông còn giúp Nga rút ngắn thời gian gia nhập
WTO. Quan hệ thương mại song phương tăng cường, sự cọ xát kinh tế sẽ tăng lên,
sự khác biệt về luật pháp, quy tắc thương mại, tiêu chuẩn hàng hoá… dần dần
được rút ngắn. Ví dụ: “Trong lúc Nga giảm giá năng lượng trong nước thì lại tăng
giá khi xuất khẩu làm cho Eu phản ứng. Ngược lại, Nga phê phán EU không coi
Nga như một quốc gia kinh tế thị trường mà có thái độ phân biệt đối xử. Điều này
càng thúc giục Nga nhanh chóng gia nhập WTO vào cuối năm 2003. EU tỏ thái độ
quyết tâm giúp đỡ để đưa Nga vào quỹ đạo của kinh tế châu Âu và thế giới”.

mở rộng NATO sang phía Đông, vấn đề Tresnia, quan hệ Nga - Irắcv.v… Do đó,
trước mắt, quan hệ Nga - Mỹ đã làm cho nhiều người lo ngại. Đứng trước tình
hình đó, EU muốn làm môi giới để cải thiện quan hệ Nga - Mỹ với việc xây dựng
cơ chế “NATO 20 nước” được thúc đẩy bởi EU.
Ngoài ra, EU mở rộng sang phía Đông còn giúp làm giảm mâu thuẫn dân tộc
giữa các quốc gia Trung – Đông Âu, ổn định tình hình châu Âu, đặc biệt là tình
hình biên giới, đưa lại lợi ích về ổn định an ninh – chính trị của Nga. Trên lĩnh vực
bảo vệ môi trường, chống khủng bố và tội phạm xuyên quốc gia… Nga cũng đều
có lợi ích nhất định.
Tuy nhiên, việc mở rộng sang phía Đông của EU không tránh khỏi những ảnh
hưởng tiêu cực đối với Nga. Trước hết, điều này đã gây nên những phản ứng về
tâm lý công chúng Nga. Một mặt, các nước Trung – Đông Âu gia nhập EU đã kích
động hi vọng muốn gia nhập EU của nhiều người Nga. Từ sau chiến tranh lạnh,
Nga luôn luôn muốn gia nhập vào “Đại gia đình văn minh châu Âu”. EU muốn tạo
điều kiện để Nga thực hiện ý muốn này. Mặt khác, tâm lý tự tôn dân tộc của người
Nga cũng bị tổn thương. Liên Xô giải thể, nước Nga suy thoái, thế giới phương
Tây coi thường Nga, chạm đến lòng tự trọng của người Nga, ngả vào lòng EU
khiến nhiều người Nga tỏ ra hối tiếc. Nhiều người lo lắng, EU mở rộng sang phía
Đông sẽ ảnh hưởng đến lợi ích của nước Nga, vì “nhiều nước lớn ở phương Tây
thường tỏ thái độ không tôn trọng lợi ích hợp pháp của Nga”.
Dù nhiều lần Nga tỏ ý muốn gia nhập EU, nhưng đều không được tổ chức này
hưởng ứng. Chủ tịch uỷ ban châu Âu, R.Prôđi đã nêu rõ “trong tương lai gần,
không tồn tại vấn đề Nga gia nhập EU”. Ông giải thích rằng, nếu Nga trở thành
thành viên của EU thì số đại biểu của hộ trong Nghị viện châu Âu thì sẽ bằng tổng
số đại biểu của Anh, Pháp, Ý và quyền lực trong các cơ cấu khác cũng bị chia sẻ.
Điều này sẽ làm mất cân bằng và thay đổi tính chất của EU.
5
5
TS. Hồ Châu, “Chiến lược châu Âu của Nga trong bối cảnh EU mở rộng sang phía Đông”, Nghiên cứu
châu Âu, số 5(53)/2003

3. Carlo Filipini-Bùi Huy Khoát-Stephan Hell, “Mở rộng EU và các tác
động đối với Việt Nam”, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004.
4. Nguyễn Xuân Phách[Chủ biên], “Chính sách đối ngoại của một số nước
sau chiến tranh lạnh”, Hà Nội, 1999.
5. Quang Thuận(Theo I.H.T), “Châu Âu tái thống nhất - Đồng sàng dị
mộng?”, Website:
11


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status