tài liệu ôn thi môn ngữ văn - Pdf 26


ÔN LUYỆN THI ĐẠI HỌC KHỐI

TỔNG HỢP NHỮNG ĐỀ VĂN
LIÊN QUAN ĐẾN CÁC
TÁC PHẨM VĂN HỌC
CHƯƠNG TRÌNH LỚP 11
I) HAI ĐỨA TRẺ (Thạch Lam)
Câu 1: Tại sao trong tác phẩm“Hai đứa trẻ”, hai chị em Liên đêm đêm lại
thức đợi đoàn tàu từ Hà Nội về? Ýnghĩa?
a. Hai chị em Liên đêm đêm lại thức đợi đoàn tàu từ Hà Nội về vì cuộc sống mà
hai đứa trẻ sinh sống là một cuộc sống nghèo khổ,lãm lũ,tù đọng,đơn điệu,tẻ nhạt.
Dường như ngày nào cũng vậy,từ chập tối cho đến nửa đêm,lúc nào Liên cũng chị
thấy lặp đi lặp lại những hình ảnh quen thuộc (chị Tí,bác Siêu,bác Xẩm…). Chừng
ấy người ngồi trong bóng tối dưới những thứ đèn leo lắt đang chờ đợi một cái gì đó
tươi sang hơn sự sống nghèo khổ hang ngày củahọ. Tất cả những điều đó đã hối
thúc chị em Liên tìm đến ánh sáng đoàn tàu từ Hà Nội về như một sự giải thoát.
b. Ý nghĩa: Ánh sáng đoàn tàu vụt qua phố huyện với“các toa đèn sáng trưng” là
nỗi khát khao chờ đợi của Liên.Đó là ánh sáng của khát vọng,của ước mơ về một
cuộc sống tươi mới hơn,đẹp đẽ hơn,ánh sáng của nhu cầu tinh thần được sống dù
trong một khoảnh khắc. Đó cũng là tình cảm nhân đạo sâu sắc của Thạch Lam,nhà
văn luôn tin tưởng vào khả năng vươn dậy của nhân vật.
Câu 2: Trong tác phẩm “Hai đứa trẻ”, Thạch Lam miêu tả đếnnhững loại ánh
sáng nào? Ý nghĩa?
a. Nhà văn miêu tả các loại ánh sáng:
- Ánh sáng từ “ngọn đèn con” của hàng nước mẹ con chị Tí; chấm lửa nhỏ từ gánh
phở bác Siêu; ngọn đèn của Liên “thưa thớt từng hột sáng lọt qua phên nứa.”
- Ánh sáng đoàn tàu vụt qua phố huyện với “các toa đèn sáng trưng” là loại ánh

Câu 4: Cuối tác phẩm “Hai đứa trẻ” là hình ảnh nào đọng lại trong tâm trí
của Liên? Ý nghĩa?
a. Cuối tác phẩm “Hai đứa trẻ” là hình ảnh nào đọng lại trong tâm trí của Liên là
hình ảnh chiếc đèn con của chị Tí chỉ chiếu sáng một vùng đất nhỏ.
b. Ý nghĩa:
- Ánh sáng ngọn đèn con của chị Tí trở đi trở lại nhiều lần và đi vào giấc ngủ của
Liên như một ám ảnh tâm lý.
- Đó là ánh sáng biểu trưng cho cuộc sống thực tại:mòn mỏi,lay lắt,quẩn quanh,nhỏ
nhoi đầy bế tắc,buồn chán nản của chị em Liên…;cho kiếp người vô danh,vô
nghĩa,sống lam lũ,vật vờ…trong cái đêm tối mênh mông của XH cũ.
- Niềm đồng cảm sâu sắc của nhà văn đối với số phận con người,đặc biệt là số
phận những người nông dân trước năm 1945. Đồng thời đó cũng chính là tình cảm
nhân đạo sâu sắc của Thạch Lam,nhà văn luôn tin tưởng vào khả năng vươn dậy và
sức sống của nhân vật.
Câu 5: Phân tích nhân vật Liên (Tâm trạng nhân vật Liên – tâm trạng chờ
tàu) trong tác phẩm Hai đứa trẻ của nhà văn Thạch Lam.
Hai đứa trẻ là tác phẩm xuất sắc của Thạch Lam được bạn đọc biết đến nhiều
nhất. Tác phẩm được in trong tập Nắng trong vườn (1938). Truyện gây ấn tượng
cho người đọc bởi văn phong nhẹ nhàng, giàu tình người tình đời. Ấn tượng khó
quên trong lòng người đọc về thiên truyện ngắn này có lẽ là hình ảnh hai đứa trẻ
mà cô bé Liên là nhân vật được nhà văn Thạch Lam tập trung khắc họa nhiều nhất.
Liên là cô bé mới tám tuổi, cái tuổi mà theo như người xưa nói “biết ăn biết ngủ,
biết học hành là ngoan”. Nói đúng hơn là tuổi vô lo. Nhưng mọi điều đều ngược
lại. Dưới ngòi bút của Thạch Lam, Liên hiện lên với hình ảnh của một cô bé như
già đi trước tuổi. Tuổi thơ chìm trong nỗi buồn của sự tàn tạ, héo úa của một cuộc
sống đầy bóng tối, bế tắc không lối thoát. Đối với tâm hồn thơ bé ấy, đoàn tàu đêm
từ Hà nội về chạy ngang qua phố huyện chính là niềm an ủi cuối cùng cho một
niềm đau.
Thầy Liên mất việc và đặt dấu chấm hết cho những tháng ngày sống ở Hà Nội.
Con phố nhỏ Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương nơi đón chị em Liên về là một nơi đói

nữa”. Bóng tối là hiện thân của sự tù túng ngột ngạt, bế tắc không lối thoát. Đó là
bóng tối của sự đói nghèo, lam lũ. Là hình ảnh đất nước ta trước năm 1945 đầy
nước mắt:
Cha ông ta từng đấm nát bàn tay trước cánh cửa cuộc đời
Cửa vẫn đóng mà đời im ỉm khóa
Cả dân tộc đói nghèo trong rơm rạ
Văn chiêu hồn từng thấm giọt mưa rơi
Thạch Lam đã sử dụng thủ pháp nghệ thuật đối lập để miêu tả bóng tối và ánh
sáng. Nếu như bóng tối nuốt chửng tất cả phố huyện vào trong cái dạ dày tối thui
của nó thì ánh sáng xuất hiện với tần số thấp. Đó chỉ là “hột sáng”, “khe ánh
sáng”, “đốm sáng”, “vệt sáng”… tất cả đều hiện lên thật bé nhỏ tội nghiệp “ mất
đi rồi lại hiện ra trong đêm tối”. Và cùng với ánh sáng nhỏ nhoi, yếu ớt đó là
những phận người với cuộc sống bấp bênh, trôi nổi và lụi tàn, le lói như ngọn đèn
trước gió. Liên thương hết thảy những con người nơi phố huyện nhỏ bé này. Đó
chính là chị Tý với cuộc đời cơ cực “mò cua bắt ốc”, tối đến cùng ghánh hàng
nghèo xơ xác chỉ với bát nước chè, điếu thuốc lào, thanh kẹo lạc… tất cả gia tài
mưu sinh bên ngọn đèn con chỉ chiếu sáng một vùng đất nhỏ. Liên thương bác phở
Siêu với ghánh phở xa xỉ, ế ẩm nhưng đêm nào cũng thấy bác dọn hàng. Thương
bác xẩm với manh chiếu rách tả tơi cùng chiếc thau trắng trống trơn chưa một niềm
hi vọng, thương lắm những tiếng đàn bác góp chuyện bật trong yên lặng. Thương
bà cụ Thi điên đơn chiếc với tiếng cười chìm vào bóng tối… Cuộc sống phố huyện
là như vậy. Đơn điệu, tẻ nhạt. Đêm nào cũng như đêm nào, cứ lặp đi lặp lại:
Quanh quẩn mãi với vài ba dáng điệu
Tới hay lui vẫn chừng ấy mặt người
Vì quá thân nên quá đỗi buồn cười
Môi nhắc lại chỉ có ngần ấy chuyện.
Điều gì có thể làm chị em Liên quên đi được thực tại này ? May ra chỉ có vũ trụ
là cơ hội cuối cùng để ru hai chị em vào những miền cổ tích. Cảnh hai chị em
ngẩng mặt lên trời tìm con vịt theo sau ông thần nông cho thấy: tâm hồn hai đứa trẻ
thật hồn nhiên, vô tư trong sáng và rất đỗi trẻ con. Nhưng buồn thay, bầu trời đầy

rồi!”. Liên cũng trông thấy ngọn lửa xanh biếc, sát mặt đất, như ma trơi. Rồi tiếng
còi xe lửa ở đâu vang lại, trong đêm khuya kéo dài ra theo gió xa xôi. Đó là lúc mà
Liên vội vã đánh thức em “ dậy đi An, tàu đến rồi!”. Lời giục dã gấp rút, hối thúc
như thể nếu An không dậy thì sẽ không bao giờ còn được nhìn thấy đoàn tàu nữa.
Thạch Lam không dùng từ ngữ nào để miêu tả sự háo hức của hai chị em mà cái
háo hức ấy vẫn cứ hiện lên thật sống động và giàu chất nhân văn.
Hai chị em đứng chờ đoàn tàu từ đằng xa. Chúng có dịp chiêm ngưỡng cái kẻ đã
làm chúng đợi chờ ấy bằng cách đứng gần hơn nữa. Và rồi “tàu rầm rộ đi tới. Liên
dắt em đứng dậy để nhìn đoàn xe vụt qua”. Đây là phút giây hạnh phúc nhất là lúc
mà Liên và An dường như quên hết thảy những nỗi buồn hiện tại, quên cả những
đói nghèo lam lũ, ê chề đang bao vây cuộc đời họ. Trong lòng họ giờ đây chỉ có
đoàn tàu. Đoàn tàu mang thứ ánh sáng mạnh mẽ, khác thường ngang qua phố
huyện “các toa đèn sáng trưng, chiếu ánh cả xuống đường… những toa hạng trên
sang trọng lố nhố những người, đồng và kền lấp lánh, và các cửa kính sáng”. Đó là
ánh sáng của sự sang trọng, văn minh, thứ ánh sáng khác xa với những ánh sáng
yếu ớt, nhỏ bé nơi phố huyện. Đoàn tàu giống như một tia chớp, một ngôi sao băng
rạch ngang qua bầu trời phố huyện rồi mất hút vào đêm tối nhưng cái ánh sáng của
nó là ước mơ và khát vọng của biết bao nhiêu số phận con người bé nhỏ đang
mong ngóng. Đoàn tàu mang một thế giới khác đi qua, chính là khát vọng muốn
được đổi đời của họ. Họ gửi theo chuyến tàu cả tâm hồn của mình, họ muốn được
đến với những chân trời mới, nơi đó có ánh sáng của văn minh của no đủ. Nơi đó
sẽ không còn cảnh đói nghèo lam lũ, không có cảnh đơn điệu và buồn tẻ mà ăm ắp
niềm vui. Họ xứng đáng được nhận một cuộc sống như thế, tại sao không? Nhưng
ước mơ chỉ là ước mơ. Tất cả lại quay về với quầng sáng thân mật xung quanh
ngọn đèn con chị Tý. Chấm hết cho một đêm đợi chờ trong khát vọng và kết thúc
bằng nỗi buồn rưng rưng nước mắt.
Liên và An đứng lặng người trong bóng tối dù chuyến tàu đã “đi vào đêm tối, để
lại những đốm than đỏ bay tung trên đường sắt. Hai chị em còn nhìn theo cái chấm
đỏ của chiếc đèn xanh trên toa sau cùng, xa xa mãi rồi khuất sau rặng tre”. Sự nuối
tiếc của họ dường như đã phơi bày tất cả một cuộc sống nghèo nàn, bế tắc. Nhất là

một bên là quản ngục nằm trong tay sinh mệnh của tù nhân). Nhưng xét về phương
diện nghệ thuật,họ là những người có tâm hồn đồng điệu vì họ cùng yêu quý cái
đẹp.Lúc đầu Huấn Cao khinh bạc nhưng sau khi hiểu ra “tấm lòng trong thiên hạ”,
Huấn Cao đã đồng ý cho chữ viên quản ngục.
b. Ý nghĩa tình huống truyện:
- Làm bộc lộ,thay đổi quan hệ,thái độ,hành vi khác thường của các nhân vật (Huấn
Cao lặng nghĩ mỉm cười; quản ngục,thơ lại khúm núm,run rẩy; Huấn Cao tỏa sáng
uy nghi giữa chốn ngục tù); làm tỏa sáng vẻ đẹp của cái tài,cái dũng,cái thiên
lương.
- Góp phần khắc họa tích cách của các nhân vật,tăng kịch tính và sức hấp dẫn của
tác phẩm.
Câu 2: Tại sao nói cảnh cho chữ trong tác phẩm “Chữ người tửtù” là một
cảnh tượng xưa nay chưa từng có?
Nói cảnh cho chữtrong tác phẩm “Chữ người tử tù” là một cảnh tượng xưa nay
chưa từng có là vì:
- Không gian và thời gian rất đặc biệt (nơi ngụctù bẩn thỉu,tường đầy mạng
nhện,đất bừa bãi phân chuột,phân gián; cảnh diễn ravào lúc đêm khuya trong nhà
ngục tối tăm).
- Người cho chữ trong cảnh “cổ đeo gông, chân vướng xiềng”; ngày mai lại phải
vào kinh chịu án tử hình.
- Vị thế các nhân vật bị đảo ngược (tử tù thành thần tượng,ân nhân của cai ngục;
cai ngục thành người ngưỡng mộ,chịu ơn tử tù). Ngục tù sụp đổ,cái đẹp của nghệ
thuật thư pháp và tài hoa,thiên lương thăng hoa.Ánh sáng chiến thắng bóng tối; cái
đẹp lên ngôi chiến thắng cái thấp hèn.
Câu 3: Thái độ của Huấn Cao như thế nào khi thầưy thơ lại thong báo việc
ngày mai vào kinh chịu án tử hình? Thái độ ấy cho thấy Huấn Cao là người
như thế nào?
a. Thái độ của Huấn Cao khi thầy thơ lại thong báo việc ngày mai vào kinh chịu án
tử hình: thầy thơ lại nói cho Huấn Cao về ý nguyện của quản ngục và ngập ngừng
thong báo ngày mai Huấn Cao sẽ vào kinh chịu án tử hình.Huấn Cao lặng

Thập cổ luân giao cầu cổ kiếm
Nhất sinh đê thủ bái mai hoa
(Mười năm lặn lội tìm gươm báu
Chỉ biết cúi đầu trước cành hoa mai)
Ngay từ đầu tác phẩm, Huấn Cao đã hiện lên như ánh hào quang phủ kín cả
bầu trời tỉnh Sơn. Qua lời trò chuyện của quản ngục và thơ lại ta thấy tiếng tăm của
Huấn Cao đã nổi như cồn. Điều làm cho bọn ngục quan phải kiêng nể không chỉ là
tài viết chữ đẹp mà còn là “tài bẻ khóa, vượt ngục” của ông Huấn. Tuy nhiên, đây
không phải là trò của bọn tiểu nhân vô lại đục tường khoét vách tầm thường mà là
hình ảnh của một người anh hùng ngang tàng, một nam tử Hán đại trượng
phu “Đỉnh thiên lập địa” không cam chịu cảnh tù đày áp bức, muốn bứt phá gông
cùm xiềng xích để thoát khỏi vòng nô lệ.Huấn Cao mang cốt cách ngạo nghễ, phi
thường của một bậc trượng phu. Những kẻ theo học đạo Nho thường thể hiện lòng
trung quân một cách mù quáng. Nhưng trung quân để rồi “dân luống chịu lầm
than muôn phần” thì hóa ra là tội đồ của đất nước. Ông Huấn đã lựa chọn con
đường khác: con đường đấu tranh giành quyền sống cho người dân vô tội. Bị triều
đình phán xét là kẻ tử tù phản nghịch, tội xử chém, là “giặc cỏ” nhưng trong lòng
nhân dân lao động chân chính ông lại là một anh hùng bất khuất, một kẻ ngang
tàng “chọc trời khuấy nước” sống ngoài vòng cương tỏa, lững lẫy chẳng khác gì
108 vị anh hùng Lương Sơn Bạc ở Trung Hoa năm xưa. Tuy chí lớn của ông không
thành nhưng ông vẫn hiên ngang bất khuất, lung linh sáng tỏa giữa cuộc đời.
Trước uy quyền của nhà lao, con người ấy càng sáng tỏa. Trò tiểu nhân thị
oai, dọa dẫm của bọn tiểu lại giữ tù càng làm cho ông thêm phần ngang ngạo. Ông
vẫn giữ thái độ bình thản, xem thường, dỗ gông, phủi rệp, hóm hỉnh đùa vui. Huấn
Cao “cúi đầu thúc mạnh đầu thang gông xuống đất đánh thuỳnh một cái” làm vỡ
tan đi chốn trang nghiêm của chốn ngục tù. Đó là thái độ ngang tàng, bất chấp luật
pháp của một xã hội dơ bẩn.
Người xưa thường nói “Nhất nhật tại tù thiên thu tại ngoại” (Một ngày ở
trong tù bằng nghìn thu ở ngoài). Thay vì buồn rầu, chán nản “gậm một mối căm
hờn trong cũi sắt” thì ông lại thản nhiên nhận rượu thịt và ăn uống no say coi như

trong cảnh éo le này.
Lúc hiểu được tấm lòng viên quản ngục: Ông Huấn “lặng nghĩ”, “mỉm
cười”, ngạc nhiên “ta cảm cái tấm lòng biệt nhỡn liên tài thiếu chút nữa ta đã
phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ”. Lời nói rất chân tình, xúc động. Điều này
cho thấy Huấn Cao là một người hiên ngang, khí phách nhưng cũng rất có nghĩa
khí. Không thể phụ một “thanh âm trong trẻo chen lẫn giữa một bản đàn mà nhạc
luật đều hỗn loạn xô bồ”.
Hai con người đồng nhất tỏa sáng trong đêm cho chữ “Một cảnh tượng xưa
nay chưa từng có”. Nguyễn Tuân đã dồn hết bút lực của mình vào cảnh này. Nhà
văn đã huy động vốn ngôn ngữ, tâm huyết và tài năng của mình dồn tụ lại trong
một không khí cổ xưa hoành tráng của nghệ thuật thanh cao:VIẾT THƯ PHÁP.
Nhà văn dựng cảnh thật tài tình và đầy dụng ý nghệ thuật. Thủ pháp tương
phản làm nên cảnh cho chữ bi tráng chưa từng thấy. Đó là sự đối lập giữa bóng tối
và ánh sáng; giữa sự dơ bẩn của xã hội nhà tù và thiên lương trong sáng, khí phách
rạng ngời. Tương phản giữa bó đuốc sáng rực trên vách nhà với đêm đen thăm
thẳm; tương phản giữa vuông lụa trắng, thoi mực thơm và tường nhà, đất đầy mạng
nhện, đầy phân chuột, phân gián. “Ở đây sự đối lập giữa ánh sáng và bóng tối cứ
giằng co nhau quyết liệt. Bóng tối quánh đặc như muốn nuốt tươi ánh sáng. Nhưng
không, ánh sáng ở đây vẫn ngời chói vẫn ngời tỏ, sáng rực, chứ không như ánh
sáng leo lét, buồn rầu của ngọn đèn con chị Tý và ánh sáng rực tỏa, chói lọi như
đoàn tàu rồi lại chìm vào hư không của bóng đêm trong truyện ngắn “Hai đứa
trẻ” của Thạch Lam. Song xét sâu xa hơn thì ánh sáng đó không chỉ đơn thuần
mang ý nghĩa sắc màu vật lý mà ánh sáng đó mang sắc màu ý nghĩa nhân sinh
đậm nét: ánh sáng của sự lương tri, của nhân tâm, của thiên lương trong sáng đã
chiến thắng bóng tối của cường quyền, bạo lực. Sự chiến thắng đó là điều tất yếu
sẽ xảy ra, bởi vì mọi cái thiện, cái cao cả, chính nghĩa cuối cùng sẽ chiến thắng.
Với ánh sáng ấy đã cảm hóa con người một cách mạnh mẽ, nâng đỡ những con
người có đức, mến mộ cái tài, nhưng yếu ớt trở về cuộc sống lương thiện Sự
chiến thắng đó là bản hùng ca, ca ngợi chữ tâm của con người thiên lương” (Lưu
Thế Quyền)

cái thiên lương của con người: “Ở đây lẫn lộn ta khuyên thầy Quản nên thay chốn
ở đi. Chỗ này không phải là nơi để treo một bức lụa với những nét chữ vuông vắn,
tươi tắn nó nói lên cái hoài bão tung hoành của một đời con người”. Lời khuyên
của Huấn Cao đã khẳng định rằng: cái đẹp, cái thiên lương không bao giờ và
không khi nào lại có thể chung sống với cái xấu, cái ác: “Ở đây khó giữ thiên
lương cho lành vững được và rồi cũng nhen nhuốm mất cả cái đời lương thiện đi”.
Một lời khuyên thật thiện tâm, thiện ý của Huấn Cao đã làm cho viên quản ngục
cảm động: “vái người tù một vái, chắp tay nói một câu mà dòng nước mắt rỉ vào
kẽ miệng làm cho nghẹn ngào: - Kẻ mê muội này xin bái lĩnh”. Câu nói : “Kẻ mê
muội này xin bái lĩnh” đã cho thấy rằng: cái đẹp, cái thiện, cái tài hoa đã chiến
thắng tuyệt đối. Cái đẹp của nghệ thuật đã xóa nhòa mọi khoảng cách và ranh giới
đưa con người đến với nhau trong vẻ đẹp Chân – Thiện – Mỹ.
Thành công của Chữ người tử tù là ở cách tạo tình huống truyện độc đáo.
Hai kẻ lúc đầu là đối lập, sau lại thống nhất hài hòa, cùng tỏa sáng hào quang.
Nghệ thuật kể chuyện, cấu trúc tình tiết, lời thoại và độc thoại, khắc họa tính cách
nhân vật đặc sắc. Nguyễn Tuân đã sử dụng một loạt từ Hán Việt rất đắt (pháp
trường, tử tù, tử hình, nhất sinh, bộ tứ bình, bức trung đường, lạc khoản, thiên hạ,
thiên lương, lương thiện, v.v ) tạo nên màu sắc lịch sử, cổ kính, bi tráng. Đúng
Nguyễn Tuân là bậc thầy về ngôn ngữ, rất lịch lãm uyên bác về lịch sử, về xã hội.
Đúng như lời Vũ Ngọc Phan đã nói: " văn Nguyễn Tuân không phải thứ văn để
người nông nổi thưởng thức".
III) HẠNH PHÚC CỦA MỘT TANG GIA (Vũ Trọng Phụng)
Câu 1:Ý nghĩa nhan đề đoạn trích “Hạnh phúc của một tang gia” (2đ)
a. Nhan đề tạo sự đối lập gây tiếng cười thâm thúy:“Tang gia” là đau đớn,u
buồn,ảm đạm. “Hạnh phúc” là sự sung sướng,được thỏa mãnnguyện vọng.Hai
trạng thái đó đối lập nhau trong một nhan đề đã tạo nên nghịchlý gây sự tò mò,chú
ý ở người đọc.
b. Nhan đề góp phần bộc lộ nội dung đoạn trích: cái chết của cụ cố Tổ đã đem lại
cho cả gia đình này một niềm hạnh phúc hoan hỉ.Cái chết của cụ cố tổ đem đến
hạnh phúc,sung sướng cho tất cả con cháu,người thân và bạn bè,niềm hạnh phúc

- Người ta vui vẻ đi đưa giấy cáo phó
- Đám ma theo cả lối Ta, Tàu, Tây, có kiệu bát cống,lợn quay đi lọng, có đến ba
trăm câu đối, vài ba trăm người đi đưa.
- Đám đi tới đâu làm huyên náo tới đó.
- Người đưa tang đủ cả giai thanh gái lịch,đủ hạng người.Không mấy ai chú ý đến
đưa tang mà họ bình phẩm nhau,chê bai nhau,chim nhau,cười tình với nhau.
- Một đám tang trịnh trọng gương mẫu theo đúng nghĩa một gia đình chạy theo
đồng tiền làm băng hoại những giá trị đạo đức trong xã hội cũ.Đám to đến nỗi
người chết còn muốn bật dậy gật gù cái đầu.
Câu 5: Thái độ của đám con cháu được miêu tảnhư thế nào trong “Hạnh phúc
của một tang gia” (2đ)
Ông Phán mọc sừng vui mừng vì sẽ có thêm vài nghìn đồng nhờ giá trị của đôi
sừng trên đầu. Cụ cố Hồng hoan hỉ nghĩ đến lúc cụ mặc bộ xô gai vừa ho khạc vừa
khóc mếu máo để mọi người khen ngợi là đã“già”, là có hiếu.Văn Minh thì thầm
kín sung sướng vì chúc thư được thực hiện thì ông được một tài sản lớn.Bà Văn
Minh và ông Typn thì sung sướng vì những bộ đồ của tiệm may Âu Hóa được lăng
xê.Cậu Tú Tân hạnh phúc vì cậu được thực hành chụp ảnh…
*Ý nghĩa chung của 5 câu trên:
- Lật tẩy bộ mặt thật của XH thượng lưu,học đòi của đám con cháu đại bất
hiếu.Tạo nên tiếng cười thâm thúy,đả kích sâu cay về lối sống rởm đời,coi trọng
hình thức mà quên đi những giá trị đạo đức truyền thống.Nhà văn lên án và tố cáo
bộ mặt thật của XH tư sản đương thời đang chạy theo đồng tiền làm băng hoại
những giá trị đạo đức gia đình,đạo đức XH.
- Ngòi bút của Vũ Trọng Phụng châm biếm sâu cay,bút pháp trào phúng đặc sắc đã
đánh bật được những mặt tối bên trong vẻ bề ngoài hào nhoáng của đám ma “hạnh
phúc” nhà cụ cố Hồng.
Câu 6: Tác phẩm Số đỏ được viết bằng ngòi bút trào phúng bậc thầy. Qua
đoạn trích hạnh phúc một tang gia, anh(chị) hãy chứng minh vấn đề trên. (5đ)
Câu 7: Phân tích nghệ thuật trào phúng trong tác phẩm Hạnh phúc một tang
gia của Vũ Trọng Phụng

mếu, để được khen : Úi kìa, con giai nhơn đã già thế kia à !
+ Vợ chồng Văn Minh và ông Typn vui mừng vì đây là dịp tốt để lăng xê các mốt
quần áo tang và tờ chúc thư đã đi vào thực hành
+ Ông Phán nhận thấy cái sừng có giá trị vì ông sẽ được thêm vài nghìn đồng trong
phần chia gia tài.
+ Cô Tuyết sung sướng có dịp mặc bộ váy ngây thơ, để chứng tỏ mình còn trong
trắng và thể hiện khuôn mặt buồn lãng mạn rất đúng mốt
+ Cậu Tú tân, nhân dịp này chứng minh hiệu quả của máy ảnh.
- Cái chết của cụ cố tổ không chỉ làm cho người trong gia đình cụ cố Hồng vui
sướng mà còn mang hạnh phúc đến cho những người ngoài gia đình. Cảnh sát
bỗng có việc làm và có tiền. Bạn bè của cụ cố có dịp khoe các huy chương và đủ
kiểu râu ria. Gia đình, phố phường tưng bừng huyên náo như ngày hội. Bọn con
cháu vô tâm ai cũng sung sướng thoả thích… Người ta tưng bừng vui vẻ đi đưa
giấy cáo phó, gọi phường kèn, thuê xe đám ma…
- Với những mâu thuẫn trên, đặc biệt là việc miêu tả tỉ mỉ niềm hạnh phúc của mọi
người trước cái chết của cụ cố tổ, Vũ Trọng Phụng đã lột bộ mặt thật của xã hội lố
lăng, chuộng hình thức, không chút tình người, vạch chân tướng của những hạng
người mang danh thượng lưu trí thức, văn minh nhưng thực chất là cặn bã đạo đức
giả. Đó là chưa kể đến việc lợi dụng đám tang để giải quyết việc hôn nhân cho cô
Tuyết hòng xoa đi tiếng xấu hư hỏng một nửa của cô.
3. Chi tiết trào phúng
- Để tô đậm ý nghĩa trào phúng, nhà văn đã xây dựng và chọn lọc được nhiều chi
tiết ấn tượng :
+ Đó là cảnh đám ma được tổ chức rất đông rất to nhưng tất cả mọi người đi đưa
ma không hề có ai quan tâm đến người chết. Người thì trò chuyện về vợ con, nhà
cửa, về một cái tủ mới sắm, một cái áo mới mua, người thì tận dụng cơ hội đưa ma
để chọc ghẹo, cười tình hoặc bình phẩm, chê bai nhau. Nhà văn đã phải đau lòng
mà bình
luận : Đám ma to tát có thể làm cho người chết trong quan tài cũng phải mỉm cười
sung sướng, nếu không gật gù cái đầu. Miêu tả hình thức đám tang với mọi nghi

trưởng giả tư sản thành thị đang chạy theo lối sống âu hóa văn minh rởm, hết sức
đồi bại và lố lăng. Chương 15 với nhan đề “Hạnh phúc của một tang gia” đã đem
đến cho người đọc bao thú vị như được khám phá một màn kịch trong bộ “Tấn trò
đơi” của xã hội thực dân phong kiến.
II/ THÂN BÀI
1/ Nhan đề trào phúng
Theo truyền thống của dân tộc và đặc điểm tâm li của con người tổitng gia đình có
một người chết đi là một tổn thất, một mất mát không có gì có thể bù đắp được. Đó
chính là sự kiện buồn nhất của gia đình, con cháu, thân tộc. Chiều sâu của sự xót
thước chính là chiều sâu của phẩm chất ngưòi. Nhưng ở đây “tang gia” không đau
buồn, trái lại là “hạnh phúc” đối với mọi người. Vũ Trọng Phụng đã tạo nên mâu
thuẫn ngay ở trong nhan đề tác phẩm. Cụ cố tổ chết đã trở thành sự kiện lớn, niềm
hạnh phúc tràn ngập đối con cháu
2/ Chân dung trào phúng
Vũ Trọng Phụng đã xây dựng thành công những chân dung điển hình để phơi bày
những bộ mặt đồi bại trong gia đình trưởng giả, cụ cố Hồng, vạch trần những cặn
bã, những quái thai của xã hội dở tây dở ta buổi ấy. Cha chết, ông chết, bọn con
cháu vô tâm sung sướng thỏa thích. Đây là dịp hiếm có đẻ khoe của, khoe giàu,
phô cái sang ra cho thiên hạ biết. “Người ta tưng bừng vui vẻ đi đưa giấy cáo phó,
gọi phường kèn, thuê xe đám ma”. Niềm vui tràn ngập: tang gia ai cũng vui vẻ.
+ Cụ Cố hồng: hút liền một mạch 60 điếu thuốc phiện, hả hê lim dim đôi mắt. Bữa
nay cha chết, cụ vui vẻ lắm, cụ nằm hút thuốc mà liên miệng nói câu: Biết rồi, khổ
lắm, nói mãi. Trong cái dư vị của thuốc phiện, cụ “nhắm nghiền mắt lại để mơ
màng” đến cái giờ phút hạnh phúc, hạnh phúc nhất: mặc đồ xô gai, lụ khụ chống
gậy, vừa ho vừa khạc vừa khóc mếuđể cho thien hạ phải trầm trồ “một cái đám ma
như thế, mọt cái gậy như thế”, rồi ngạc nhiên chỉ trỏ “Ui kìa, con giai nhớn đã già
thế kia kìa”. Con giai đã báo hiếu với cha như vậy! Đó là một nét biếm hoạ thần
tình. Tâm hồn sa đoạ, đạo lý suy đồi đến cùng cực từ cha đến con.
+ Vợ chồng Văn Minh, cháu nội của cụ có tổ. Ong nội chết, đứa cháu nàt nhăm
nhăm nghĩ đến chuyện chia gia tài, thích thú ra mặt vì cái chúc thư kia đã đi vào

sướng: “Ay giá không có món ấy thì là thiếu chưa được to, may mà ông Xuân đã
nghĩ hộ tôi”. Xuân Tóc Đỏ xuất hiện, ông Phán mọc sừng vốn đã “nhờ đôi sừng
hươu vô hình” mà được bố vợ chia cho thêm vài nghìn đồng bạc. Trong lúc khóc
thật to: Hưt, Hứt, Hứt để báo hiếu vẫn không quên dúi vào tay Xuân một tờ bạc
năm đồng gấp tư.
Như vậy tang gia có hai cảnh chồng lên nhau: vỏ ngoài y như thật với tất cả hình
thức hợp thời trang nhất, còn bên trong hoàn toàn trống rỗng. Sự tương phản giữa
bề ngoài và bên trong đã cho thấy tính chất đóng kịch của cái xã hội này. Đó là một
xã họi bịp bợm, chó đểu. Một sự đồi bại được khoác áo đạo đức, được tô son trát
phấn.
=> Chương “Hạnh phúc của một tang gia” đã thể hiện xuất sắc tài kể chuyện và
nghệ thuật châm biếm. Cái tài của tác giả là đã phóng đại bức chân dung biếm hoạ,
những cảnh đời lố lăng theo thủ pháp của nghệ thuật trào phúng làm cho người ta
cười mà thấy được bao sự phi lý, ghê tởm của cái xã hội đạo đức giả.
III/ KẾT LUẬN (Tự làm)
IV) CHÍ PHÈO (Nam Cao)
Câu 1:Tác phẩm “Chí Phèo” có những nhan đề nào? Ý nghĩa nhan đề “Chí
Phèo”?
a. Tác phẩm “Chí Phèo” có những nhan đề:
- Lúc đầu có tên là “Cái lò gạch cũ”: nhấn mạnh sự xuất hiện của Chí Phèo trong
cuộc đời,cách gọi này dựa vào hình ảnh cái lò gạch bỏ không ở phần đầu và được
lặp lại ở câu kết của tác phẩm,điều đó có ý nghĩa nhấn mạnh tính chất quy luật của
hiện tượng Chí Phèo,tạo ra ám ảnh trong tâm trí người đọc.Tuy nhiên nhan đề này
đã thể hiện cái nhìn bi quan của tác giả về số phận của người nông dân.
- Sau đó Nhà xuất bản Đời Mới đổi tên là “Đôi lứa xứng đôi”: nhan đề này dựa vào
mối tình Chí Phèo – thị Nở, gợi sự tò mò của độc giả.Tuy nhiên,nhan đề này cũng
chưa khái quát được ý nghĩa của tác phẩm.
b. Ý nghĩa của nhan đề “Chí Phèo”:
- Nhan đề “Chí Phèo” vẽ nên một con người cụ thể,mộtsố phận cụ thể,cô đơn,cô
độc…

- Cuộc gặp gỡ bất ngờ với Thị Nở và trận ốm đã làm cho con quỷ dữ có sự thay đổi
hẳn về tâm sinh lý.
- Từ khi đi tù về đây là lần đầu tiên sau bao nhiêu năm Chí hết say, hoàn toàn tỉnh
táo và có được một khoảng ngưng lặng để nghe được những âm thanh quen thuộc
của cuộc sống.Những âm thanh ấy là tiếng gọi tha thiết của cuộc sống trong anh.
- Âm thanh đó đã đánh thức trong Chí những cảm xúc của con người.Chí nhớ về
quá khứ,nhớ lại giấc mơ thời trai trẻ của mình “chồng cuốc mướn cày thuê,vợ dệt
vải”. Chí ý thức được hiện tại và nghĩ đến tương lai“cô độc và đói rét ốm đau”.
Câu 4: Phân tích tấn bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của nhân vật Chí Phèo
trong tác phẩm Chí Phèo của nhà văn Nam Cao.
HƯỚNG DẪN
I.MỞ BÀI
Nam Cao là đại biểu ưu tú của dòng văn học hiện thực phê phán. Ông là cha đẻ của
những tác phẩm tên tuổi : “Chí Phèo”, “Lão Hạc”, “Đời thừa”… trong đó Chí Phèo
là kiệt tác của Nam Cao và cũng là kiệt tác của văn học hiện thực phê phán. Thông
qua hình tượng nhân vật Chí Phèo và con đường tha hóa của người nông dân trước
Cách mạng, Nam Cao đã khắc họa thành công tấn bi kịch bị cự tuyệt quyền làm
người của nhân vật Chí Phèo mang đến cho bạn đọc bao niềm xúc động sâu sắc.
II. THÂN BÀI
1. Bi kịch là gì ? Bi kịch là sự mâu thuẫn giữa hiện thực đời sống và khát vọng cá
nhân. Hiện thực đời sống không đủ điều kiện để cá nhân thực hiện được khát vọng
của mình dẫn đến cá nhân rơi vào hoàn cảnh bi đát (có thể dẫn đến cái chết). Trong
văn học Việt Nam ta đã từng bắt gặp bi kịch tình yêu của Thúy Kiều, bi kịch nghệ
thuật của nhà văn Hộ, bi kịch của Vũ Như Tô… nhưng bi kịch lạ lùng nhất là bi
kịch “bị cự tuyệt quyền làm người” của Chí Phèo.
2. Bi kịch ấy ngay từ đầu tác phẩm đã hiện lên qua tiếng chửi của Chí Phèo. Chí
Phèo xuất hiện lần đầu tiên trước mắt người đọc không phải bằng xương bằng thịt
mà là bằng tiếng chửi"hắn vừa đi vừa chửi". Đó là hình ảnh vừa quen vừa lạ. Quen
vì đó là tiếng chửi của những thằng say rượu. Lạ vì hắn chửi mà không có ai chửi
nhau với hắn, không ai lấy làm điều. Chí "chửi trời, chửi đời, chửi cả làng Vũ Đại,

đẽ. Sau bảy tám năm ra tù Chí không còn là anh canh điền hiền lành như đất nữa.
Trước mắt người đọc là một tên lưu manh với một nhân hình gớm ghiếc "cái đầu
thì trọc lóc, cái mặt thì đen mà lại rất cơng cơng, hai mắt gườm gườm trông gớm
chết cái ngực phanh, đầy những nét chạm trổ rồng phượng với một ông tướng
cầm chuỳ, cả hai cánh tay cũng thế". Cả cái nhân tính cũng bị xã hội tàn hại. Giờ
đây là Chí Phèo say, Chí Phèo với những tội ác trời không dung thứ khi hắn bỗng
dưng trở thành tay sai đắc lực cho lão cáo già Bá Kiến, quay ngược lại lợi ích của
dân làng Vũ Đại, đối lập với nhân dân lao động cần lao. Từ một người nông dân
hiền lành lương thiện Chí trở thành thằng lưu manh "con quỷ dữ của làng Vũ
Đại". Đáng buồn thay, mới ngày nào chính dân làng Vũ Đại nuôi Chí lớn lên trong
vòng tay yêu thương vậy mà nay Chí đã quay lưng lại với chính cái nơi mà hắn
được yêu thương và chở che. Từ đây Chí sống bằng rượu và máu và nước mắt của
biết bao nhiêu người dân lương thiện: "Hắn đã đập nát biết bao nhiêu cảnh yên
vui, làm chảy máu và nước mắt của biết bao nhiêu người dân lương thiện". Hắn
làm những việc ấy trong lúc say " ăn trong lúc say, ngủ trong lúc say, thức dậy vẫn
còn say đập đầu, rạch mặt, giết người trong lúc say để rồi say nữa say vô tận".
Chưa bao giờ hắn tỉnh để thấy mình tồn tại trên đời bởi vì "những cơn say của hắn
tràn từ cơn này sang cơn khác thành những cơn dài mênh mang". Nam Cao đã
cho người đọc thấy một thực tế đau lòng về cuộc sống của nhân dân ta trước cách
mạng tháng Tám. Đó chính là cuộc sống bị bóp nghẹt ước mơ và khát vọng, người
nông dân bần cùng hóa dẫn đến lưu manh hóa. Một cuộc sống tối tăm không ánh
sáng. Nhà văn xót thương cho nhân vật, cay đắng và đau đớn cùng nhân vật. Đây
chính là vẻ đẹp của tấm lòng nhân đạo và yêu thương của nhà văn dành cho những
kiếp người như Chí Phèo.

5. Gặp Thị Nở và khao khát hoàn lương. Nam Cao không trách giận Chí Phèo,
ngòi bút của ông dành cho nhân vật vẫn nồng nàn yêu thương. Ông phát hiện trong
chiều sâu của nhân vật là bản tính tốt đẹp, chỉ cần chút tình thương chạm khẽ vào
là có thể sống dậy mãnh liệt, tha thiết. Sự xuất hiện của nhân vật Thị Nở trong tác
phẩm có một ý nghĩa thật đặc sắc. Con người xấu đến "ma chê quỉ hờn", kỳ diệu

Chẳng biết có phải hay không mà Chí thấy lòng buồn man mác. Và nếu như Thị
Nở không qua, chắc là hắn đã khóc được mất.
Và rồi chính bàn tay ân cần của Thị Nở cùng với tình yêu của thị đã khơi dậy
trong Chí phần người. Bát cháo hành chính là liều thuốc giải độc góp phần thức
tỉnh phần người trong con quỷ dữ. Kỳ diệu làm sao bát cháo hành Thị Nở, một liều
tiên dược vừa giải cảm vừa giải độc. Cháo hành đã tẩy ố đi men rượu, gột rửa
những tội lỗi con người. Cháo hành có hương vị đặc biệt quá, những kẻ vô nhân
tính như cha con nhà Bá Kiến làm sao mà biết được. Đó là hương vị của tình
người, hương vị của tình yêu. Khi mà cả làng Vũ Đại không chấp nhận Chí là con
người thì Thị Nở đã giang rộng vòng tay để đón lấy anh. Và bát cháo hành kia vô
hình dung đã sưởi ấm cho trái tim nguội lạnh và mở đầu cho một mối thiên duyên.
Nhìn bát cháo bốc khói mà lòng Chí Phèo xao xuyến bâng khuâng. Hắn ăn cháo
hành và lấy làm mãn nguyện vì vị ngon của nó. Chí Phèo quen sống với một kiểu
định nghĩa : Muốn có cái ăn hắn phải kêu làng, phải rạch mặt ăn vạ, hắn phải thực
sự hóa thân vào con quỷ dữ Mỗi miếng ăn hàng ngày của Chí đều có máu và
nước mắt của những người dân lương thiện làng Vũ Đại. Nhưng hôm nay cái triết
lý sống ấy của Chí dường như đã thay đổi, những gì hắn đã từng có giờ phản bội
lại hắn trong hương cháo hành của người đàn bà xấu như ma chê quỷ hờn kia. Hắn
hiểu rằng người ta sống với nhau không chỉ bằng tội ác mà còn bằng cả tình
thương yêu nữa. Mắt hắn lần đầu tiên ươn ướt. Hơi cháo hành phảng phất phục
sinh phần người trong Chí Hắn có thể sống với người ta bằng tình yêu, hắn nhen
nhóm một mơ ước về cuộc sống bình dị Hương cháo là hương cuộc đời, hương
tình yêu mà từ trước đến giờ chưa ai cho Chí cả Bát cháo hành giản dị nhưng bao
nhân tính ẩn chứa, nó giữ chân Chí Phèo đứng lại ở bờ của phần người Nhìn Thị
hắn như muốn khóc, hắn cảm động và ngay trong chốc lát "Hắn cảm thấy lòng
thành trẻ con, hắn muốn làm nũng với thị như làm nũng với mẹ ”.Đó là giây phút
mà hắn người nhất. Đã hai lần chính Thị Nở đã phải thốt lên: “Ôi sao mà hắn
hiền!" rồi “Những lúc tỉnh táo hắn cười nghe thật hiền”. Cảm giác được yêu
thương và chở che đã làm Chí trỗi dậy một tình yêu cuộc sống. Phần quỷ tạm thời
rũ bỏ. Đó là giây phút Chí "thèm lương thiện và khát khao làm hòa với mọi người".

ôm mặt khóc rưng rức. Phẫn uất, Chí xách dao đi, định đến nhà Thị Nở. Trong ý
định, Chí định đến nhà đâm chết con "khọm già", con "đĩ Nở" nhưng sự thức tỉnh ý
thức về thân phận và bi kịch đã đẩy chệch hướng đi của Chí dẫn Chí đến thẳng nhà
Bá Kiến. Hơn ai hết lúc này Chí hiểu ra rằng: kẻ đã làm cho mình phải mang lốt
quỷ, kẻ đã làm mình ra nỗng nỗi khốn cùng này chính là Bá Kiến. Anh càng thấm
thía tội ác kẻ đã cướp đi quyền làm người, cướp đi cả bộ mặt và linh hồn của mình.
Chí Phèo đến nhà Bá Kiến với tư cách là một nô lệ thức tỉnh, đòi quyền làm người:
- Tao muốn làm người lương thiện ?
- Ai cho tao lương thiện ?
Đó là những câu hỏi vút lên đầy cay đắng và không lời giải đáp. Câu hỏi
chất chứa nỗi đau của một con người thấm thía được nỗi đau khôn cùng của bi kịch
cá nhân. Câu hỏi đánh thẳng vào bộ mặt của xã hội bất lương. Câu hỏi như cứa vào
tâm can người đọc về một thân phận con người đầy đắng cay trong xã hội cũ.
Lương thiện có ngay trong mỗi con người là di sản tinh thần của mỗi người. Tại
sao phải đi đòi lương thiện ? À, thì ra Chí đã bị cái xã hội vô nhân tính ấy cướp
mất. Khốn nạn thay cho Chí, ngay cả cái quyền được làm một con người cũng bị
xã hội người ăn thịt người ấy bóp nát. Và Chí Phèo cũng đã tự kết liễu cuộc đời
mình sau khi kết liễu tên cáo già Bá Kiến. Cái chết bi thảm của Chí Phèo là lời kết

Trích đoạn HƯỚNG DẤN PHÂN TÍCH DÀN Ý PHÂN TÍCH Ngoại hình: Mở bài: giới thiệu Kim Lân, kể tên ba tác phẩm, xuất xứ Vợ nhặt, giới thiệu RỪNG XÀ NU (Nguyễn Trung Thành)
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status