Họ và tên: Chu Lê Dung
Sinh viên: K12
Bộ môn: Lịch sử Quan hệ Quốc tế- TS Đỗ Sơn Hải
BÀI TẬP
Bài 1: Đặc điểm quan hệ giữa các nước lớn trong hệ thống đa cực (hệ
thống Versailles - Washington).
Tham dự hội nghị Versailles gồm đại biểu của 27 nước thắng trận. Điều
khiển hội nghị là 5 cường quốc Mĩ, Anh, Pháp, Ý, Nhật Bản, nhưng thực
sự nắm quyền quyết định hội nghị là 3 cường quốc Mĩ, Anh, Pháp.
Trong đó, Mỹ là nước có tiếng nói quan trọng nhất bởi là chủ nợ của
Châu Âu khi tham gia chiến tranh muộn, thu về 24 tỷ đôla trong việc
buôn bán vũ khí và vươn lên vị trí hàng đầu về kinh tế.
Đặc điểm quan hệ giữa các nước trong hệ thống đa cực thể hiện ở các
khía cạnh : đó là mục tiêu, ý đồ và tham vọng,
Có thể nói, mục tiêu của giới cầm quyền các nước tư bản này khi tham
gia hội nghị đều có một điểm chung là tìm cách đàn áp và chống lại cao
trào cách mạng thế giới. Cụ thể là làm sao tiêu diệt nước Nga Xô viết để
duy trì sự ổn định của chủ nghĩa tư bản.
Chiến tranh đã tàn phá nghiêm trọng các nước tham chiến và làm thay
đổi căn bản tương quan lực lượng giữa các nước tư bản sau chiến tranh.
Các cường quốc thắng trận đều có những ý đồ và tham vọng khác nhau
trong việc phân chia, thiết lập trật tự thế giới sau chiến tranh.
Ngày 5-11-1918, Thủ tướng Anh – Lôi giooc đọc diễn văn khẳng định
mục đích chiến tranh là tự vệ và đề ra yêu cầu là giải phóng Bỉ, trả
Andat – Loren cho pháp, lập nước Ba Lan, cho người Xlavo tự trị, cho
những dân tộc không phải Thổ trong đế quốc Ottoman tự quyết, giải
quyết vấn đề thuộc địa của Đức… Sau đó, ngày 8-11-1918, Tổng thống
Mỹ - Uynxon đưa ra chương trình 14 điểm nhằm lập lại hòa bình dưới
hình thức một thông điệp gửi cho Quốc hội Mỹ. Chương trình 14 điểm
của Uynxon được che đậy bằng những lời lỡ bóng bẩy, bề ngoài đề cao
hòa bình dân chủ, có vẻ thỏa mãn quyền lợi của nhân dân. Cũng vì thế
khuôn khổ mới về tổ chức lại thế giới một cách hoàn chỉnh hơn sau
chiến tranh.
Bài 2: Đặc điểm quan hệ giữa các nước nhỏ trong hệ thống đa cực.
Với hòa ước Versailles- Washington, Đức mất 1/8 đất đai, gần ½ dân số,
1/3 mỏ sắt, 1/3 mỏ than, 2/5 sản lượng gang, gần 1/3 sản lượng thép và
1/7 diện tích trồng trọt.
Đối với các nước bại trận : Thông qua hệ thống hòa ước Versailles, Saint
German, Neuli, Trinon và Severe để xử lý các vấn đề lãnh thổ, thuộc
địa, bồi thường chiến tranh,chiếm đóng…
Ngoài hòa ước Versailles ký với Đức, những hòa ước khác cũng lần
lượt được kí kết với các nước đồng minh Đức trong 2 năm 1919 – 1920.
Những hòa ước này chú trọng giải quyết vấn đề Áo- Hung và vấn đề
Thổ Nhĩ Kỳ. Với hiệp ước Neuli, lãnh thổ Bungari bị thu hẹp lại so với
trước kia do phải cắt một số đất đai ở biên giới phía Tây cho Nam Tư,
cắt cho Hy Lạp vùng Thơrakia và cắt cho Rumani tỉnh Đobrútgia. Ngoài
ra, Bungari phải bồi thường chiến phí là 2,25 tỉ phơrăng và phải nộp cho
các nước láng giềng trong phe chiến thắng. Hòa ước Severe với Thổ Nhĩ
Kỳ, điều đó không những tồn tại đến chủ quyền của Thổ Nhĩ Kỳ, mà còn
tồn tại lợi ích của các nước ven bờ Biển Đen, nhất là nước Nga Xô Viết.
Đồng thời Mỹ giúp đỡ tận tình Đức nên chỉ trong một thời gian ngắn sau
chiến tranh, chủ nghĩa đế quốc Đức không những đã phục hồi mà còn
tăng cường tiềm lực kinh tế chiến tranh của nó. Giai cấp tư bản lũng
đoạn cầm quyền ở Mỹ muốn biến nước Đức thành một bàn đạp để xâm
nhập châu Âu về kinh tế và để thực hiện mưu đồ chống lại Liên Xô.
Những hòa ước mà các nước thắng trận buộc các nước bại trận ký kết
đều mang tính chất nô dịch. Đó là văn bản chính thức đầu tiên sau Chiến
Tranh thế giới thứ nhất xác định việc phân chia thế giới và tổ chức lại
trật tự thế giới giữa bọn đế quốc thắng trận với nhau. Nó là kết quả của
quá trình vừa đấu tranh vừa thỏa hiệp, xâu xé lẫn nhau giữa các đế quốc
chiến thắng và chiến bại.
thuộc địa đã được tiến hành ở hội nghị Versailles (năm 1919) cho phù
hợp với tình hình mới mà thôi. Đồng thời cũng nhân dịp này, Mỹ đã gây
áp lực với Anh để Anh không gia hạn thêm hiệp ước liên minh Anh –
Nhật (ký từ năm 1902), nhằm cô lập Nhật thêm một bước.
Hiệp ước 9 nước được ký kết ngày 6-2-1922 công nhận nguyên tắc”
hoàn chỉnh về lãnh thổ và tôn trọng chủ quyền của Trung Quốc”, đồng
thời cũng nêu nguyên tắc “mở rộng cửa Trung Quốc” cho các nước tự
do vào buôn bán trên cơ sở bình đẳng. Hiệp ước này do các nước đế
quốc chủ nghĩa có ít nhiều quyền lợi khác nhau ở Trung Quốc cùng nhau
ký kết nhằm chống lại lợi ích dân tộc của Trung Quốc, biến Trung Quốc
thành một “thị trường chung” của các nước đế quốc phương Tây và Nhật
Bản. Giai cấp thống trị Trung Quốc đã chấp nhận những diều ước sỉ
nhục đó và Mỹ là kẻ thù được nhiều lợi lộc nhất (bơi Mỹ đã vượt tất cả
các nước tư bản chủ nghĩa khác về công nghiệp và thương nghiệp, do đó
có khả năng loại trừ các đối thủ ra khỏi Trung Quốc bằng một cuộc cạnh
tranh bình thường không đổ máu). Hiệp ước 9 nước còn thể hiện rõ sự
cấu kết giữa các nước đế Quốc chủ nghĩa nhằm chống lại phong trào giải
phóng dân tộc ở Trung Quốc và ở các nước thuộc Châu Á lúc bấy giờ.
Chính sách của Pháp là làm suy yếu lâu dài nước Đức, đảm bảo an ninh
cho Pháp nhằm thiết lập quyền bá chủ của Pháp ở lục địa châu Âu, đòi
chuyển biên giới của Đức về tận sông Ranh, bắt Đức bồi thường thật
nhiều, hạn chế lực lượng của Đức đến mức tối đa, tán thành mở rộng
một số lãnh thổ một số nước như Ba Lan, Tiệp Khắc, XeecsBi, Rumani
và biến những nước này thành công cụ chính trị của Pháp ở Đông Âu để
kiềm chế Đức và xây dựng các nước thành vành đai vệ tinh chống chủ
nghĩa bônsêvích. Ngoài ra, Pháp còn nhòm ngó các thuộc địa của Đức ở
Châu Phi và một phần đất Tiểu Á của đế quốc Ottoman trước kia.
Nhưng vì lực lượng bị suy yếu nhiều sau chiến tranh, kinh tế khó khăn,
tài chính khủng hoảng, lại là con nợ của Anh lẫn mỹ nên trong hội nghị
Pháp phải nhận những biện pháp thỏa hiệp mà Pháp không muốn. Ngày
Bài viết của Nguyên Đại sứ tại Mỹ Nguyễn Tâm Chiến, Cố vấn
cao cấp Viện Nghiên cứu Chiến lược Ngoại giao, Học viện Ngoại
giao, Tháng 4/2011.
Tập bài giảng Lịch sử Quan hệ Quốc tế hiện đại (1918-2012)- TS Đỗ
Sơn Hải
lich su the gioi hien dai Nguyen Anh Thai chu bien