BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
BỘ MÔN CÔNG NGHỆ SINH HỌC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐÁNH GIÁ VÀ MÔ PHỎNG SINH TRƯỞNG CỦA CÂY ĐƯỚC
(Rhizophora apiculata Blume) TRONG ĐIỀU KIỆN ĐẤT BỊ
Ô NHIỄM KIM LOẠI Cr TẠI RỪNG NGÂP MẶN
LONG THÀNH – ĐỒNG NAI
Ngành học : CÔNG NGHỆ SINH HỌC
Mã ngành : D420201
Chuyên ngành : CÔNG NGHỆ SINH HỌC MÔI TRƯỜNG
SVTH : TỪ HỮU HÒA
Niên khóa : 2010 – 2014
Tháng 2/2015BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
BỘ MÔN CÔNG NGHỆ SINH HỌC
đề tài này. Thật vui và hạnh phúc khi là một thành viên trong gia đình DH10SM, và
trong đại gia đình Công nghệ Sinh học.
Con xin gửi lời cám ơn đến cha mẹ, những người đã sinh thành, dạy dỗ, nuôi
dưỡng và luôn tạo mọi điều kiện tốt nhất cho con được học tập tốt. Xin gửi lời cám ơn
đến anh, chị, em và tất cả những người thân yêu nhất của con, mọi người luôn tạo điều
kiện, động viên, giúp đỡ con những lúc con khó khăn nhất. TP. Hồ Chí Minh, tháng 2 năm 2015
Sinh viên
TỪ HỮU HÒA
ii
TÓM TẮT
Rừng ngập mặn là một hệ sinh thái đa dạng, phong phú về thành phần loài động,
thực vật, nơi cư trú nhiều loài động vật hoang dã, các loài tôm cá. Ngoài ra, rừng ngập
mặn có vai trò quan trọng trong phòng chống thiên tai, bức tường chắn sóng, chóng
xói lở bảo vệ đê sông, đê biển. Hiện nay, dọc bờ sông Thị Vải công nghiệp ngày càng
phát triển, ô nhiễm môi trường nghiêm trọng (ô nhiễm hữu cơ, các kim loại nặng) đã
ảnh hưởng lên sự sinh trưởng của thực vật rừng ngập mặn, mà cây Đước chiếm ưu thế.
Để xác định sự ảnh hưởng của hàm lượng Cr trong đất, mật độ cây trong ô đo tới sự
sinh trưởng, phát triển của cây Đước (Rhizophora apiculata), đồng thời thực hiện mô
phỏng quá trình sinh trưởng của cây Đước trong điều kiện môi trường bị ô nhiễm. Đề
tài “Đánh giá và mô phỏng sinh trưởng của cây Đước (Rhizophora apiculata Blume)
trong điều kiện đất bị ô nhiễm kim loại Cr tại rừng ngập mặn Long Thành – Đồng
Nai” được đề xuất tiến hành.
Xác định sự ảnh hưởng của hàm lượng Cr tích lũy trong đất, mật độ cây lên sự
sinh trưởng của cây Đước. Chúng tôi tiến hành đo các chỉ tiêu sinh trưởng cây Đước
và mẫu đất được lấy ở 6 vị trí dọc theo sông Thị Vải và rạch Ông Trúc. Mẫu đất sau đó
definite the influence of Cr amount in soil and tree density on the growth, development
of the mangroves - Rhizophora apiculata, simultaneously take the simulate the growth
of the torch in polluted environment condition. Project “assess and simulate the growth
of the torch Rhizophora apiculata Blume in polluted land condition with metal Cr at
Long Thanh mangroves” is put forward to implement.
Determine the influence of amount Cr in soil, tree density with the torch’s growth
speed. Proceed to measure the growth indicator of mangroves and soil samples were
taken at the 6 position along the Thi Vai river and Ong Truc channel, then the soil
sample was sent to the Institute of environment-resource analysis, determination of Cr
amount in the soil. Amount Cr in soil, plant density has a strong correlation with the
growth rate of the mangroves. Amount Cr in soil with low plants grow well, back
when the Cr content in high ground less developed plants.
Simulation of growth mangroves with two assumptions: pollution conditions
conditions first pollution runs with Cr in soil in 40 ppm and the second pollution
conditions running with Cr in soil at 250 ppm during 120 years. In terms of pollution
first assumption, the value of growth rate (G) of fast-growing trees, tall trees, large
trunk diameter reaches over 60 cm (approx 70 cm in the optimal environmental
conditions), large forest biomass after 120 years. In terms of pollution the second
assumption, the growth rate (G) of low trees, trees are less developed, body diameter
reaches 50 cm below the low forest biomass, after 120 years of running the model.
In conclusion, the Cr concentrations accumulate in soil, plant density correlated with
grow mangroves. The Cr content of fast-growing trees in the lowland, forest biomass
increased rapidly every year. High concentrations of Cr in soil, plant growth
development is slow, slow-growth forest biomass, low forests productivity.
iv
MỤC LỤC
2.2.1.3. Khí hậu 9
2.2.1.4. Đặc điểm thủy văn 9
2.2.1.5. Tài nguyên đất 9
2.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 10
2.3. Rừng ngập mặn Long Thành 11
2.3.1. Quá trình hình thành và lịch sử phát triển 11
2.3.2. Cây Đước đôi (Rhizophora appiculata Blume) 13
2.3.2.1. Hình thái 13
2.3.2.2. Đặc điểm sinh trưởng 14
2.3.2.3. Đặc điểm phân bố 14
2.3.2.4. Phân bố 14
2.3.3. Chất lượng môi trường rừng ngập mặn Long Thành 14
2.3.3.1. Môi trường đất 14
2.3.3.2. Môi trường nước 16
2.4. Kim loại Cr và ảnh hưởng của nó tới thực vật 17
2.5. Một số mô hình sinh thái rừng ngập mặn trên thế giới 18
Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
3.1. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 20
3.2. Vật liệu nghiên cứu 20
3.3. Phương pháp nghiên cứu 21
3.3.1. Phương pháp thu thập số liệu 21
3.3.2. Phương pháp đo đạc, khảo sát ngoài hiện trường 21
3.3.3. Phương pháp lấy mẫu đất 22
3.3.4. Phương pháp mô phỏng sinh thái 22
3.3.5. Phương pháp xây dựng mô hình 28
3.3.5.1. Khái niệm mô hình 28
3.3.5.2. Các tham số đầu vào của mô hình (các biến, tỷ lệ…) 28
3.3.5.3. Quá trình mô phỏng 28
3.3.5.4. Dữ liệu đầu vào và các giá trị ban đầu 28
vi
UBND :Ủy ban nhân dân
WQI :Chỉ số chất lượng nước
WQI STV :Chỉ số chất lượng nước sông Thị Vãi
viii
DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Sự phân bố thực vật tương ứng với các thành tạo trầm tích biển 4
Bảng 2.2 Sự phân bố loài thực vật tương ứng với các thành tạo trầm tích sông 4
Bảng 2.3 Sự phân bố các loài thực vật tương ứng với các thành tạo trầm tích đầm lầy .5
Bảng 2.4 Thông số quan trắc môi trường đất khu vực RNM Long Thành năm 2013 15
Bảng 2.5 Tổng hợp các thông số dinh dưỡng tại Lâm trường Long Thành 16
Bảng 2.6 Bảng phân vùng chất lượng nước sông Thị Vải và các chi lưu 16
Bảng 2.7 Bảng tổng hợp chất lượng nước sông Thị Vải và các chi lưu năm 2013 17
Bảng 2.8 Bảng tổng hợp chất lượng nước sông Thị Vải 17
Bảng 3.1 Giá trị thiết lập được của tham số trong phương trình sinh trưởng cây đước 27
Bảng 4.1 Kết quả phân tích 30
Bảng 4.2 Kết quả thiết lập tham số mô hình 32
ix
DANH SÁCH CÁC HÌNH
Hình 2.1 Vai trò của rừng ngập mặn 8
Hình 2.2 Đước đôi (Rhizophora apiculatta Blume). 13
Hình 2.3 Biểu đồ chất lượng nước sông Thị Vãi theo vị trí quan trắc. Error!
Bookmark not defined.
Hình 3.1 Thiết bị và dụng cụ 20
Hình 3.1 Vị trí các địa điểm thu mẫu 21
Hình 3.1 Đồ thị mô tả sự tăng trưởng đường kính thực vật rừng ngập mặn 23
Hiện nay, tại khu vực đất ngập nước thuộc 4 xã Long Phước, Phước Thái (huyện
Long Thành) và Phước An, Long Thọ (huyện Nhơn Trạch) đang được bao phủ bởi
hàng ngàn hecta RNM. Vai trò của các cánh RNM này là vô cùng quan trọng trong
việc bảo vệ môi trường, là nơi cư trú của nhiều loài động thực vật, sản lượng thủy hải
sản là rất lớn. Bên cạnh đó nó còn là lá chắn sóng giúp bảo vệ khỏi sự xói mòn, sạt lở
đất.
Nhưng hiện nay, nguồn nước sông Thị Vải đang bị ô nhiễm đã làm ảnh hưởng
đến các hệ sinh thái dưới nước, trong đó có hệ sinh thái RNM ven sông Thị Vải. Đây
là hệ sinh thái đa dạng với loài cây đước đôi hay đước xanh (Rhizophora Apiculata
Blume) chiếm số lượng lớn trong vùng nghiên cứu. Bên cạnh đó, hệ sinh thái RNM
ven sông Thị Vải lại là nơi sinh sống của nhiều loài động vật và thủy sinh và đặc biệt
là nó có vai trò quan trọng trong việc phòng hộ, bảo vệ bờ biển, bờ sông. Vì vậy đề tài
nghiên cứu được đề xuất nhằm xem xét, đánh giá và mô phỏng khả năng thích nghi và
sinh trưởng của cây đước đôi trong điều kiện môi trường bị ô nhiễm trên sông Thị Vải.
Đồng thời, đây cũng là một cách để xem xét đến khả năng hấp thụ và xử lý các chất ô
nhiễm của loài cây này. Kết quả của đề tài này có thể được sử dụng để đánh giá sự
thích ứng của cây đước trong điều kiện môi trường ô nhiễm ở nhiều mức độ khác
nhau, góp phần vào công tác quản lý và phát triển bền vững RNM.
Từ những lý do trên, đề tài “Đánh giá và khảo sát khả năng sinh trưởng của cây
đước đôi trong điều kiện đất bị ô nhiễm kim loại Cr tại RNM Long Thành” được đề
xuất, để góp phần vào việc đánh giá và quản lý RNM tốt hơn, trong việc ngày càng có
nhiều can thiệp vào môi trường tự nhiên làm thay đổi những tính chất vốn có của nó.
1.2. Mục tiêu đề tài
Phân tích mối tương quan giữa hàm lượng kim loại Cr tích lũy trong đất, mật độ
cây lên sự sinh trưởng của cây Đước (Rhizophora apiculata Blume).
Mô phỏng sinh trưởng của cây Đước đôi (Rhizophora apiculata Blume) trong
điều kiện môi trường đất bị ô nhiễm Cr tại RNM Long Thành. 2
Khu vực ven biển phía Bắc từ Móng Cái (Quảng Ninh) đến Đồ Sơn (Hải Phòng),
rừng phát triển rộng nhờ có các đảo che chắn phía ngoài. Gồm các loài Đang, Vẹt dù,
Trang, Sú, Mắm biển…
Khu vực đồng bằng Bắc bộ từ Đồ Sơn (Hải Phòng) đến Lạch Trường (Thanh
Hóa), tuy có nhiều bãi bồi rộng nhiều phù sa nhưng không có các đảo che chắn gió bão
nên chỉ có một ít RNM nằm trong cửa sông, với các loài ưa nước lợ như Trang, Sú,
Bần chua, Ô rô…
Khu vực Miền Trung từ Lạch Trường (Thanh Hóa) đến mũi Vũng Tàu, bãi bồi
hẹp ít phù sa, bờ biển dốc, RNM chủ yếu chỉ có những dãi rừng hẹp ở phía trong cửa
sông, Vịnh chủ yếu là các cây Đước, Đưng, Vẹt dù, Mắm trắng, Sú…
Khu vực phía Nam từ Vũng Tàu tới Hà Tiên có nhiều bãi bồi, nhiều phù sa, ít
bão nên RNM phát triển tốt. Rừng có nhiều loài cây như Đước, Đưng, Vẹt khang, Vẹt
trắng, Mắm lưỡi dòng, Dừa nước, Dà…
2.1.2. Diễn thế rừng ngập mặn
Trong điều kiện tự nhiên chưa có tác động của con người, các cây ngập mặn nhờ
các dòng hải lưu và sóng biển đưa hạt giống đến xâm chiếm môi trường mới. Tùy theo
đặc điểm địa hình, chế độ ngập, hàm lượng muối của nước…, các loài cây RNM lần
lượt xuất hiện từng giai đoạn để cố định môi trường, lắng tụ phù sa, nén chặt bùn sét,
nâng cao mặt đất, tạo điều kiện cho các loài cây trong rừng nội địa đến thay thế, trong
lúc chúng lại tiếp tục mọc lấn ra biển. Đó là kiểu diễn thế nguyên sinh.
4
Trong quá trình diễn thế nguyên sinh, với sự hình thành các kiểu phụ RNM,
nhiều khi con người đã tác động vào các quá trình tự nhiên (chặt đốn, rải chất độc,…).
Một thời gian sau cây RNM bắt đầu xuất hiện lại trên các khu vực bị phá hủy, hình
thành nên các kiểu rừng mới và có thể xuất hiện các quần thể thoái hóa. Đây là quá
trình diễn thế thứ sinh.
Theo Huỳnh Thị Minh Hằng và Nguyễn Hoàng Anh (2002) khi so sánh sự phân
bố các loài thực vật rừng ngập mặn huyện cần giờ với các yếu tố môi trường địa chất
cho thấy có sự liên quan mật thiết, trong đó các yếu tố chủ đạo bao gồm: loại trầm
1,5 - >2,0 Cây ăn trái
Nguồn: Nguyễn Hoàng Anh, 2011.
Bảng 2.2 Sự phân bố loài thực vật tương ứng với các thành tạo trầm tích sông – sông
biển hỗn hợp
Độ mặn
<4‰
4‰ - 18‰
>18‰
Thành tạo
trầm tích
Trầm tích sông, trầm tích sông biển
Loại đất
Đất phù sa
Loại đất phụ
Đất phù sa
trung tính
Đất phù sa
trên nền
phèn tiềm
tàng
Đất mặn
phèn
Đất phù sa
nhiễm mặn
Đất phù sa
mặn
Độ cao (m)
biển
Độ mặn
< 4‰
4‰ - 18‰
> 18‰
Thành tạo trầm tích
Trầm tích đầm lầy – biển
Loại đất
Đất lầy
Loại đất phụ
Đất phèn tiềm tàng
nông
Đất phèn tiềm tàng
sâu
Đất mặn
Độ cao (m)
0 – 0,5 Mắm
0,5 – 1,0
Dừa nước
Đước
Đước
1,0 – 1,5
Lúa
Đước
Đước
1,5 - >2,0
Lugo và Snedaker (1974) đã phân ra 6 loại quần thể thực vật RNM chính dựa
trên sự thể hiện về đặc tính địa văn của chúng. Mỗi loại quần thể có các đặc tính riêng
đối với các biến động môi trường và có những đặc trưng riêng về sản lượng ban đầu,
lượng cacbon,
Loại thứ nhất là các rừng ở ven sông (riverine forest) phân bố ở các đồng bằng
châu thổ (delta) và cửa sông (estuary), là những vùng đất thấp, được bồi hàng năm bởi
các vật liệu do sông mang về. Loại rừng có năng suất cao nhất, là dạng rừng nằm dọc
theo các con sông và kênh rạch. Cấu trúc của rừng này là các cây cao lớn do tồn tại
trong điều kiện dòng chảy ổn định kể cả vào mùa khô (chịu ảnh hưởng của thủy triều)
hay mùa mưa (chịu ảnh hưởng của các dòng chảy mặt).
6
Các rừng dạng viền (fringe forests): là kiểu rừng có năng suất trung bình, chúng
tạo thành các vùng đất bảo vệ các vùng bờ biển.
Rừng kiểu overwash: phát triển trên các vùng đảo cô lập thường xuyên bị tác
động mạnh của thủy triều, dạng rừng này có năng suất sản xuất giống với rừng dạng
viền.
Dạng rừng kiểu bồn trũng (basin) phát triển ở các vùng đầm phá, có năng suất
sản xuất trung bình, xuất hiện trên các vùng trũng trong đất liền, nơi mà hướng dòng
chảy của các kênh rạch hướng ra biển và chịu ảnh hưởng của biển và thủy triều, thời
gian ngập triều ít.
Dạng rừng lùn (dwarf): có năng suất thấp nhất, biểu hiện sự kém phát triển của
cây ngập mặn do những hạn chế về điều kiện môi trường.
Dạng rừng hammock: phát triển ở vùng đất hơi cao hay đất bị thoái hóa. Chúng
phát triển chậm chạp, năng suất sản lượng rất thấp.
2.1.3.3. Yếu tố địa hình
Độ cao địa hình trong khu vực RNM có quan hệ mật thiết đến sự phân bố tự
nhiên và khả năng sinh trưởng của thực vật RNM. Trong lâm nghiệp, cấp đất (hay còn
gọi là cấp năng suất) được dùng để đánh giá năng suất sản xuất của cây, và cao độ địa
hình là một trong những yếu tố chính quyết định nên các cấp đất.Cấp 1 đất có độ cao
Đất ở các khu vực RNM được hình thành bởi trầm tích aluvi (từ sông) và trầm
tích biển, có đặc tính giàu chất dinh dưỡng như Mg, Na, P và K. Tính chất vật lý và
hóa học của đất phụ thuộc vào nguồn gốc của trầm tích (sông hay biển). Kết quả của
quá trình tương tác giữa các yếu tố địa lý, khí hậu, các quá trình thủy động lực, mực
nước triều và sự thay đổi mực nước biển đã tạo nên các loại đất với các tính chất hóa
lý khác nhau, điều này ảnh hưởng đến sự phân bố của RNM.
2.1.3.6. Độ mặn
Độ mặn là một trong những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng lên sự sinh trưởng,
tỷ lệ sống và phân bố cây ngập mặn. Loại rừng này phát triển tốt ở độ mặn phổ biến từ
10‰ – 25‰. Số loài và kích thước cây giảm đi khi độ mặn cao (40 – 80‰) (Balsco,
1984). Ở độ mặn 90‰ chỉ có một số loài mắm sống được nhưng sinh trưởng rất chậm.
Ở độ mặn quá thấp cũng không còn cây ngập mặn mọc tự nhiên (Rao, 1986).
Sự hiểu biết về khả năng chịu đựng của RNM đối với các cấp độ mặn của đất
hiện tại vẫn chưa đầy đủ, việc xếp loại các loài thực vật RNM theo các ngưỡng độ mặn
đến giai đoạn hiện nay vẫn không nhất quán. Tuy nhiên, Bunt et al. 1982 (theo trích
dẫn bởi Peter Saenger, 2002) đã phân các loài thực vật theo khả năng chịu đựng hoặc
khả năng thích nghi với độ mặn theo thứ tự giảm dần như sau: Mắm trắng (A. alba),
Đước vòi (R. Stylosa), Đước Đôi (R. apiculata), Bần trắng (Sonneratia alba), Dà Vôi
(Ceriops tagal), Sú (Aegiceras corniculatum), Vẹt tách (Bruguiera parviflora), Giá
(Excoecaria agallocha), Đưng (R. mucronata), Ráng (Acrostichum sp.), Cui biển
(Heritiera littoralis), Dừa nước (Nypa fruticans), Vẹt đen (Bruguiera sexangula), Bần
chua (Sonneratia caseolaris), Tra bụp (Hibiscus tiliaceus).
2.1.4. Lợi ích mà rừng ngập mặn đem lại:
RNM là một hệ sinh thái đất ngập nước đặc biệt có giá trị rất quan trọng về mặt
môi trường và kinh tế - xã hội.
Đây là nơi cư trú, sinh trưởng của các loài tôm, cá. Thuận lợi cho việc đánh bắt
và nuôi trồng thủy sản, đưa lại nguồn lợi thủy sản phong phú và có giá trị về kinh tế.
RNM là vùng đệm bảo đảm chống xói lở đê biển, bờ biển, bờ sông và gia tăng
bồi lấp vùng cửa sông, hạn chế xâm nhập mặn. Các loài cây sống ở hệ sinh thái RNM
chủ yếu là Đước đôi (Rhizophora apiculatta Blume), cây Trang (Kandelia obovata) và
tổng diện tích toàn Huyện. Đất chủ yếu là phù sa. Khu vực ven sông Thị Vải thuộc 2
xã Phước Thái và Long Phước, độ cao phổ biến từ 0,1 - 1,2 m, diện tích 2.353 ha,
chiếm 5,5% tổng diện tích toàn Huyện. Đất chủ yếu là đất mặn, phèn.
Địa hình đồi thoải, diện tích 37.833 ha, chiếm 87,5 % tổng diện tích tự nhiên
toàn Huyện; độ cao phổ biến từ 5 – 117 m, có hướng thấp dần từ Đông Bắc xuống Tây
Nam, độ dốc nhỏ (3 - 15
0
), nền móng tốt, dễ thoát nước, rất thuận lợi cho xây dựng cơ
sở hạ tầng và khu công nghiệp. Trong nông nghiệp, thích hợp với phát triển cây lâu
năm như cao su, điều và một số loại cây ăn quả.
9
2.2.1.3. Khí hậu
Huyện Long Thành nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới cận xích đạo với những
đặc trưng chính: nắng nhiều, (trung bình khoảng 7,12 - 7,40 giờ/ngày); nhiệt độ trung
bình cao đều quanh năm (trung bình 26
0
C, trung bình tháng thấp nhất 25
0
C, trung bình
tháng cao nhất 29
0
C). Năng lượng bức xạ dồi dào, bình quân 15,4 Kcal/cm2-năm.
Lượng mưa khá cao (bình quân 1.800 – 2.000 mm/năm), nhưng tập trung vào mùa
mưa (từ thàng V đến tháng X chiếm trên 90% lượng mưa cả năm). Lượng bốc hơi bình
quân hàng năm từ 1.100 mm – 1.300 mm, trong mùa khô lượng bốc hơi thường gấp 2-
3 lần lượng bốc hơi trong mùa mưa, gây mất cân đối nghiêm trọng về chế độ ẩm trong
mùa khô. Nhưng khi giải quyết được nước tưới thì vụ canh tác vào mùa khô thường
cho năng suất và chất lượng cao, ổn định.
Do hầu như không có bão và ít có những biến động cực đoan về khí hậu thời tiết
diện tích 2.270 ha, chiếm 5,27 % diện tích toàn huyện, phân bố ở dãi đất thấp phía Tây
của huyện thuộc địa bàn các xã Tam An, Long An, Long Phước, Thị trấn Long Thành.
Nhóm đất xám có diện tích 9.523 ha, chiếm 22,11 % tổng diện tích toàn huyện.
Nhóm đất xám có nguồn gốc là phù sa cổ, phân bố ở khu vực chuyển tiếp từ vùng
trũng thấp lên vùng đồi, thuộc địa phận các xã Long An, Long Phước, Phước Thái và
Thị trấn Long Thành.
Nhóm đất đen có diện tích 5.598 ha, chiếm 12,41% tổng diện tích toàn Huyện.
Toàn bộ diện tích nhóm đất này được hình thành trên đá Bazan, phân bố tập trung ở
khu vực phía Đông của Huyện, trên địa phận của các xã Cẩm Đường, Bàu Cạn, Bình
An, Suối Trầu. Nhóm đất này có 2 loại đất chính là đất nâu thẫm trên Bazan (Ru) trên
địa hình cao với diện tích 5.345 ha và đất đen trên bồi tư Bazan (Rk) trên địa hình thấp
(253ha).
Nhóm đất đỏ vàng có diện tích lớn nhất, khoảng 21.321 ha, chiếm tới 49,51%
tổng diện tích toàn Huyện, phân bố ở hầu hết các xã, nhưng tập trung nhất ở các xã An
Phước, Bình An, Lộc An, Tân Hiệp, Phước Bình, Bình Sơn. Nhóm đất này được hình
thành từ 2 loại mẫu chất khác nhau là bazan và phù sa cổ, bao gồm 3 loại đất chính là
đất nâu vàng trên phù sa cổ, đất nâu đỏ và đất nâu vàng trên đá Bazan.
Nhóm đất dốc tụ chỉ có diện tích 586 ha, chiếm 1,36% tổng diện tích toàn Huyện,
phân bố rải rác ở các chân dốc. Đây là loại đất tốt, nước ngầm nông, thích hợp với các
loại cây ngắn ngày và cây ăn quả.
Trong phạm vi vùng nghiên cứu tại rừng ngập mặn Long Thành, tỉnh Đồng Nai
loại đất ở đây thuộc nhóm đất phèn. Đất có thành phần cơ giới từ thịt nặng đến sét, đất
có tầng sinh phèn nông và bị nhiễm mặn hầu như quanh năm nên chỉ thích hợp cho các
loài cây ngập mặn và nuôi trồng thủy sản nước mặn.
2.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Kinh tế: theo “Báo cáo tóm tắt: Tình hình kinh tế - xã hội, quốc phòng – an ninh
năm 2013 và phương hướng nhiệm vụ 2014” của Ủy ban nhân dân huyện Long Thành.
Giá trị sản xuất công nghiệp – xây dựng trên đị bàn huyện đạt 37.067,724 tỷ đồng
(theo giá cố định năm 2010). Trong đó: giá trị sản xuất công nghiệp 36.569,792 tỷ
đồng; giá trị xây dựng 497,752 tỷ đồng. Giá trị ngành dịch vụ đạt 2.691,111 tỷ đồng.
bệnh cho người dân. 100 % trạm y tế có bác sĩ phục vụ ổn định. Xây dựng 7 xã đạt
chuẩn quốc gia về y tế (tiêu chí mới) vượt so Nghị quyết đề ra là 6 xã. Có 6 bác sĩ và
25 giường bệnh trên 1 vạn dân đạt Nghị quyết đề ra. Giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng
theo cân nặng theo độ tuổi là 7 % (vượt so với Nghị quyết là 8,3 %), giảm tỷ lệ trẻ em
suy dinh dưỡng chiều cao theo độ tuổi 20 % (vượt so với Nghị quyết 25 %).
Tỷ lệ cây xanh che phủ trên toàn huyện đạt 48,94 %, tỷ lệ che phủ rừng đạt 8,55
%. Tỷ lệ thu gom và xử lý rác thải đô thị 99,36 %, rác thải nông thôn đạt 89,3 %, rác
thải y tế đạt 100 %, phối hợp các ngành tỉnh xử lý rác thải nguy hại đạt 100 %, thường
xuyên theo dõi, kiểm tra tình hình xử lý nước thải các khu công nghiệp.
2.3. Rừng ngập mặn Long Thành
2.3.1. Quá trình hình thành và lịch sử phát triển
RNM là một hệ sinh thái rừng đặc biệt, chỉ gặp ở những vùng ven biển nhiệt đới
hoặc cận nhiệt đới, trong đó hệ thực vật đóng một vai trò rất quan trọng, các loài thực
vật này có đặc điểm sinh học đặc biệt thích nghi với môi trường lầy mặn, sóng gió,
thủy triều… Trước giai đoạn năm 1965 RNM thuộc lưu vực sông Thị Vãi là những
cánh rừng nguyên sinh với sự đa dạng về các loài thực vật, động vật sinh sống. Giai
đoạn 1965 – 1970, RNM thuộc lưu vực sông Thị Vải (gọi tắt là RNM sông Thị Vãi) đã
bị chất độc hóa học của quân đôi Mỹ hủy diệt. Từ năm 1977, rừng bắt đầu được trồng
lại, nhờ vậy hệ sinh thái rừng dần được phục hồi và phát triển, phát huy tác dụng cân
bằng sinh thái và phòng hộ cho các huyện nằm ven sông thuộc địa phận hành chính
các huyện: Long Thành, Nhơn Trạch (Đồng Nai), Tân Thành (Tỉnh Bà Rịa – Vũng
Tàu) và huyện Cần Giờ (TP Hồ Chí Minh) với tổng diện tích khoảng 14.674,36 ha.
Theo báo cáo “Kết quả kiểm kê hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp, năm 2011.
Trên lâm phận Ban quản lý rừng phòng hộ Long Thành”, tính đến 31/12/2011 thì diện
tích rừng hiện tại do lâm trường quản lý là 4.867,53 ha. Trong đó: diện tích rừng tự
nhiên là 286,5 ha và rừng trồng phục hồi là 4.571,03 ha.
12
Hiện nay, do rừng ngập mặn trên vùng nghiên cứu là do con người trồng phục
hồi nên các quần xã thực vật cũng đã thay đổi. Cho đến thời điểm hiện tại, RNM có 2
rác, tạo cho RNM phong phú về loài, góp phần bảo vệ đa dạng sinh học hệ thực vật
RNM Việt Nam.
Tóm lại, do trong giai đoạn 1965 – 1970 RNM Long Thành bị chất độc của quân
đội Mỹ hủy diệt. Từ năm 1977, RNM Long Thành được trồng phục hồi lại với cây
Đước là chiếm chủ đạo. Do đó, hiện nay tại RNM Long Thành chủ yếu là các khoanh
rừng Đước chiếm ưu thế. Tại vùng nghiên cứu của đề tài là các rừng Đước được trồng
phục hồi từ những năm 1990.
13
2.3.2. Cây Đước đôi (Rhizophora appiculata Blume)
Tên Việt Nam: Đước đôi.
Tên khoa học: Rhizophora apiculata Blume.
Họ: Đước Rhizophoraceae.
Bộ: Sim Myrtales
Lớp (nhóm): Cây ngập mặn.
Hình 2.2 Đước đôi (Rhizophora apiculatta Blume).
2.3.2.1. Hình thái
Đước đôi (tên khoa học là Rhizophora apiculata Blume) là loại cây thuộc nhóm
Cây bụi hay gỗ nhỏ (ở Bắc bộ) hoặc cây gỗ to (ở Nam bộ), cao khoảng 25 – 30 m với
đường kính 60 – 70 cm. Vỏ cây màu xám, dày 2,5 cm, nứt dọc. Gốc có nhiều rễ chống
hình nơm, cao 1 – 2 m. Lá đơn, mọc đối; phiến lá hình bầu dục – thuôn hay gần hình
mũi mác, dài 10 – 16 cm, rộng 3 – 6 cm, đầu và gốc lá nhọn, dày, cứng bóng, mặt dưới
có nhiều chấm màu đen, gân giữa nâu đỏ, gần bên mờ; cuống dài 1,5 – 3 cm, màu đỏ
nhạt.
Lá dài 4 – 8 cm, màu hồng hay đỏ nhạt. Cụm hoa xim có 2 hoa, cuống dài 0,5 – 1
cm, mọc từ nách lá đã rụng. Các lá bắc con làm thành hình chén ở gốc hoa. Hoa không
cuống, đài hợp, chia 4 thùy, dài 1 – 14 cm, rộng 6 – 8 mm. Tràng hoa có 4 cánh mỏng,
hình mũi mác, dài 8 – 11 mm, rộng 1,5 – 5 mm. Nhị 8 – 12 mm. Bầu bán hạ, 2 ô; vòi 2
Về mặt giá trị kinh tế, Cây Đước ở 30 – 35 tuổi có thể đạt đường kính 20 – 30
cm, cao 25m, gỗ nặng, cứng, màu hồng sẫm, vân đẹp. Trong đời sống hàng ngày,
Đước thường trong xây dựng, làm dụng cụ gia đình, dụng cụ đánh bắt cá,…
Than Đước cháy đượm, không khói, lượng nhiệt tới 6.659 calori/kg nên là nguồn
xuất khẩu quan trọng và cung cấp nhiên liệu trong nước. Vỏ Đước chứa nhiều tananh,
có tới 24% dùng trong công nghệ thuộc da, nhuộm lưới v.v…
Hoa Đước cung cấp phấn cho đàn ong làm mật có giá trị dinh dưỡng rất cao.
Đước có rễ hình nơm bám chắc vào đất, tán rộng dày, thân cao to nên dùng làm
cây trồng chắn sóng hộ đê, cố định bãi lầy, góp phần mở rộng diện tích canh tác nông
nghiệp, cải thiện môi trường sống, đảm bảo cân bằng sinh thái vùng ngập mặn ven
biển.
Hiện nay, do khai thác bừa bãi quá mức, không có kế hoạch, chặt cây phá rừng
lấy đất làm đầm nuôi tôm và sản xuất nông nghiệp khác, nên mặc dù diện tích rừng và
trữ lượng cây rất lớn, nhưng lại bị giảm sút nhanh chóng theo thời gian và đang trong
tình trạng báo động với mức độ đe doạ được xếp vào bậc V.
2.3.3. Chất lượng môi trường rừng ngập mặn Long Thành
2.3.3.1. Môi trường đất