THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG NGỪA, KHẮC PHỤC SỰ CỐ MÔI TRƯỜNG VÀ ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ - Pdf 26

MỤC LỤC
Lời mở đầu 2
I. Khái quát một số vấn đề chung 4
1. Khái niệm 4
2. Kinh nghiệm thế giới về phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường 4
II. Thực trạng phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường ở Việt Nam 7
1. Tình hình diễn biến sự cố môi trường ở Việt Nam 7
2. Công tác phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường ở Việt Nam 8
III. Những thuận lợi và khó khăn khi áp dụng Luật bảo vệ môi trường năm
2005 trong lĩnh vực sự cố môi trường 11
1. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường và công tác
phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường 11
2. Những thuận lợi khi áp dụng Luật bảo vệ môi trường 2005 trong lĩnh vực
sự số môi trường 15
3. Những khó khăn khi áp dụng Luật bảo vệ môi trường 2005 trong lĩnh vực
sự cố môi trường 17
IV. Một số kiến nghị sửa đổi, bổ sung quy định pháp luật về phòng ngừa,
khắc phục sự cố môi trường 29
1. Một số yêu cầu đối với việc sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật về
phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường 29
2. Kiến nghị sửa đổi, bổ sung một số quy định của Luật Bảo vệ môi trường
2005 về phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường 30
TÀI LIỆU THAM KHẢO 40
1
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG NGỪA, KHẮC PHỤC
SỰ CỐ MÔI TRƯỜNG VÀ ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ
Lời mở đầu
Trong những năm gần đây ở nước ta, tình hình thiên tai có chiều hướng phức
tạp, diễn biến không theo quy luật và khốc liệt hơn cả về cường độ cũng như phạm
vi ảnh hưởng. Không chỉ trực tiếp gây thiệt hại lớn về người và của, thiên tai còn là
một trong những nguyên nhân gây nên thoái hoá đất và hoang mạc hoá, là nguyên

1. Khái niệm
- Khái niệm: Sự cố môi trường là những hiện tượng đột biến của thiên nhiên,
của quá trình hoạt động của con người, gây tác động tới con người và môi trường,
diễn ra dưới tác động của yếu tố tự nhiên hoặc sự tác động của con người hay là sự
kết hợp cả hai yếu tố đó. Luật bảo vệ môi trường sửa đổi năm 2005 của Việt Nam
đã định nghĩa như sau: “Sự cố môi trường là những tai biến hoặc rủi ro xảy ra trong
quá trình hoạt động của con người hoặc biến đổi thất thường của tự nhiên gây ô
nhiễm, suy thoái hoặc biến đổi môi trường nghiêm trọng ”.
- Nguyên nhân gây nên sự cố môi trường: Sự cố môi trường do thiên nhiên
gây ra; Sự cố môi trường do con người gây ra: là những hoạt động của con người
như xả chất thải ô nhiễm hoặc sự cố kỹ thuật như cháy, nổ nhà máy lọc dầu, vỡ ống
dẫn khí, rò rỉ hóa chất độc hại…; Sự cố môi trường do cả con người và thiên nhiên
gây ra: là hậu quả do các hoạt động của con người và qúa trình tự nhiên gây ra như
hiện tượng mưa acid
- Phân loại sự cố môi trường: Tùy theo các tiêu chí phân loại khác nhau, TS.
Lý Ngọc Minh trong công trình nghiên cứu “Nghiên cứu xây dựng phương pháp
đánh giá sự cố môi trường trong sử dụng khí hóa lỏng ở Việt Nam” đã đưa ra các
cách phân loại sự cố môi trường khác nhau. Cụ thể: Phân loại theo lĩnh vực xảy ra
sự cố: rủi ro sinh thái, rủi ro sức khỏe, rủi ro công nghiệp; Phân loại theo tiến trình
xảy ra sự cố: giai đoạn nguy cơ; giai đoạn phát triển; giai đoạn sự cố; Phân loại
theo diễn biến: loại cấp diễn (xảy ra nhanh, mạnh và đột ngột. Ví dụ: động đất,
cháy nổ…); loại trường diễn (xảy ra chậm, trường kỳ. Ví dụ: nhiễm mặn, sa mạc
hoá…).
2. Kinh nghiệm thế giới về phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường
Thiên tai, sự cố môi trường, ô nhiễm môi trường… là nguyên nhân gây nên
những thảm họa môi trường ngày càng trở nên trầm trọng hơn ở các quốc gia.
4
Chính vì thế, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có những chính sách nhằm
phòng ngừa, ứng phó và khắc phục sự cố môi trường.
Ở Trung Quốc, không có luật qui định riêng về công tác khắc phục, ứng phó,

pháp lý điều chỉnh vấn đề liên quan. Nội dung của các qui định trên tập chung chủ
yếu vào việc xác định thảm họa môi trường, các hành vi gây hại cho môi trường,
trách nhiệm của các bên liên quan và các hình phạt cụ thể đối với từng vi phạm.
Từ kinh nghiệm các nước, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm cho việc
sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các quy định pháp luật về phòng ngừa, khắc phục sự
cố môi trường ở Việt Nam như sau:
- Việt Nam cần sớm hoàn thiện các quy định pháp luật về phòng ngừa, khắc
phục sự cố môi trường nhằm đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường và phát triển bền
vững của đất nước
- Việc sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật về phòng ngừa, khắc phục sự
cố môi trường phải khắc phục được tình trạng luật khung, tránh tình trạng quy định
khái quát, chung chung, cần phải cụ thể hóa. Đặc biệt, cần bổ sung các quy định đề
cao trách nhiệm các bên liên quan khi xảy ra sự cố môi trường, trong đó có bên gây
ra thảm họa và chính quyền các cấp, nghĩa vụ và trách nhiệm bồi thường đối với
bên gây thảm họa và đưa ra các chế tài, hình phạt cụ thể.
- Ở nhiều nước, với những vấn đề cụ thể như ô nhiễm dầu, hóa chất, chất thải
công nghiệp… đã có những luật riêng quy định cụ thể về phòng ngừa, khắc phục sự
cố môi trường về các lĩnh vực này. Ở nước ta, pháp luật về phòng chống ô nhiễm
dầu, ô nhiễm môi trường và thiên tai… chỉ dừng lại ở một số văn bản mang tính
đơn lẻ hoặc được quy định rải rác trong một số điều luật về phòng chống ô nhiễm
môi trường. Nên chăng cần tiến tới xây dựng các luật riêng nhằm tăng hiệu quả của
công tác phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường như: Luật về ô nhiễm dầu, Luật
về phòng ngừa và kiểm soát ô nhiễm…
6
II. Thực trạng phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường ở Việt Nam
1. Tình hình diễn biến sự cố môi trường ở Việt Nam
Nhiều năm gần đây, Việt Nam liên tục chịu ảnh hưởng của thiên tai đặc biệt
là bão và lũ lụt. Tính từ năm 1954 đến nay, đã có hơn 200 cơn bão đổ bộ hoặc có
ảnh hưởng tới Việt Nam. Số lượng các cơn bão và lũ lụt ảnh hưởng đến nước ta
ngày càng tăng về số lượng và ngày càng mạnh về cường độ. Nguyên nhân chủ yếu

Ngoài ra, những năm qua, sự cố môi trường còn bắt nguồn từ các hoạt động
sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đặc biệt là các hoạt động công nghiệp nhưng chưa
được thống kê cụ thể, đánh giá đầy đủ. Tuy nhiên, do chưa đánh giá, dự báo và có
các biện pháp kiểm soát hiệu quả các hoạt động có nguy cơ gây sự cố, các cơ sở hoạt
động có nguy cơ gây sự cố phần lớn thực hiện việc phòng ngừa sự cố một cách đối
phó, các kế hoạch, phương án phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường chưa hiệu
quả nên trên thực tế các sự cố xảy ra vẫn gây thiệt hại nặng nề về kinh tế và môi
trường.
2. Công tác phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường ở Việt Nam
- Phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường do thiên tai
Theo quy định của Luật Bảo vệ môi trường năm 2005, Chính phủ, Thủ tướng
Chính phủ, các Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương đã xây dựng, ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật để hướng dẫn tổ
chức thực hiện và các văn bản quy định chi tiết về bộ máy quản lý nhà nước trong
thực hiện phòng chống lụt, bão, phòng ngừa, ứng phó, khắc phục sự cố môi trường
do thiên tai gây ra.
Nhìn chung, trong thời gian qua, hầu hết các tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương đã xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan và tổ
chức thực hiện có hiệu quả. Trong đó, tập trung giao các cơ quan quản lý nhà nước
thuộc tỉnh, thành phố chịu trách nhiệm thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ về phòng
chống, khắc phục sự cố môi trường do thiên tai gây ra. Trường hợp xảy ra thiên tai
lũ lụt gây ô nhiễm môi trường, việc khắc phục tình trạng ô nhiễm này được thực
8
hiện bằng nhiều hình thức khác nhau, trong đó, tập trung vào tuân thủ thực hiện các
hướng dẫn kỹ thuật của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền.
Thực tế đáng ghi nhận những năm qua, thiên tai đặc biệt là bão, lũ xảy ra
thường xuyên ở nước ta nhưng với sự chủ động, tích cực trong công tác phòng
ngừa và giải quyết các hậu quả của thiên tai gây ra của các cấp, các ngành và người
dân nên đã phần nào hạn chế được những thiệt hại của thiên tai, góp phần sớm ổn
định đời sống nhân dân sau khi xảy ra sự cố thiên tai.

thiên tai để xả thải ra môi trường, gây hậu quả nghiêm trọng. Việc thanh tra, kiểm
tra hoạt động phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường của các cơ sở sản xuất, kinh
doanh mặc dù thời gian qua đã được chú trọng song hiệu quả vẫn chưa cao.
Đánh giá chung: Với mức độ và tần suất xảy ra sự cố môi trường ngày càng
nhiều, tuy nhiên công tác phòng ngừa, ứng phó và khắc phục ô nhiễm môi trường
hiện nay chưa được thực hiện theo một quy trình chuẩn. Thực tế, mỗi vùng, mỗi địa
phương tiến hành theo một cách khác nhau và gặp không ít khó khăn trong việc
triển khai thực hiện như:
- Địa phương chưa chủ động điều tra, đánh giá nguy cơ xảy ra sự cố môi
trường để chủ động có biện pháp phòng ngừa, ứng phó và xử lý các vấn đề về ô
nhiễm môi trường do thiên tai, tràn dầu, rò rỉ hóa chất;
- Chưa có các kế hoạch, phương án thích hợp, được thử nghiệm để giảm
thiểu ô nhiễm môi trường do thiên tai, tràn dầu, rò rỉ hóa chất;
- Do không có quy trình ứng phó cụ thể nên lúng túng trong quá trình thực
hiện khi sự cố xảy ra;
- Chưa có phương án phòng ngừa và ứng phó đối với từng loại thiên tai, tràn
dầu, rò rỉ hóa chất khác nhau và đặc thù đối với điều kiện kinh tế, xã hội và điều
kiện tự nhiên của mỗi khu vực.
Như vậy, việc giảm thiểu ô nhiễm môi trường do thiên tai và sự cố tại các
vùng nhạy cảm, các khu công nghiệp, khu kinh tế, các cơ sở sản xuất kinh doanh
10
dịch vụ đặc thù… đang đặt ra các yêu cầu cấp bách đòi hỏi phải có các phương án
giải quyết hiệu quả.
III. Những thuận lợi và khó khăn khi áp dụng Luật bảo vệ môi trường
năm 2005 trong lĩnh vực sự cố môi trường
1. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường và công
tác phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường
Hoạt động bảo vệ môi trường tại Việt Nam chính thức được ghi nhận từ năm
1993 khi Luật Bảo vệ Môi trường được Quốc hội thông qua ngày 27 tháng 12 năm
1993, đây là văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất của Nhà

Nam (Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam) đã nêu nguyên tắc “chủ động gắn
kết và có chế tài bắt buộc lồng ghép yêu cầu bảo vệ môi trường trong việc lập quy
hoạch, kế hoạch, chương trình và dự án phát triển kinh tế – xã hội, coi yêu cầu bảo
vệ môi trường là một tiêu chí quan trọng trong đánh giá phát triển bền vững”, “thể
chế hóa việc đưa yếu tố môi trường vào quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã
hội hằng năm, 5 năm và dài hạn của cả nước, các bộ, ngành và địa phương từ cấp
Trung ương đến cấp cở sở”.
Nhận thức r† được tầm quan trọng trong công tác bảo vệ môi trường nói
chung, công tác phòng ngừa, ứng phó và khắc phục sự cố môi trường nói riêng,
Quốc hội, Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường và các Bộ, ngành, địa phương
đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực này:
- -%./0012"3.144/
Hiến pháp là đạo luật cơ bản, có giá trị pháp lý cao nhất trong hệ thống pháp
luật, Hiến pháp năm 1992 (được sửa đổi, bổ sung năm 2001) đã có những quy định
mang tính nguyên tắc về bảo vệ môi trường. Tại Điều 29, quy định:
“Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, mọi cá
nhân phải thực hiện các quy định của Nhà nước về sử dụng hợp lý tài nguyên thiên
nhiên và bảo vệ môi trường.
12
Nghiêm cấm mọi hành động làm suy kiệt tài nguyên và huỷ hoại môi
trường”
Tuy nhiên, là văn bản có tính nguyên tắc, các quy định về quyền và nghĩa vụ
của các cá nhân, tổ chức trong việc bảo vệ môi trường chưa được cụ thể hóa. Việc
cụ thể hóa những tinh thần cơ bản của Hiến pháp được thể hiện trong các đạo luật
và các văn bản dưới luật về bảo vệ môi trường nói chung và công tác phòng ngừa,
ứng phó và khắc phục sự cố môi trường nói riêng
567+*89 .144:
Luật Bảo vệ môi trường có thể coi là đạo luật trung tâm trong hệ thống văn
bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, trong đó, công tác phòng ngừa, khắc
phục sự cố môi trường được quy định tại Chương IX của Luật bao gồm các nội

- Nhằm cụ thể hoá Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005, Chính phủ đã ban
hành nhiều văn bản hướng dẫn như: Nghị định 175-CP ngày 18/10/1994 hướng dẫn
thi hành Luật Bảo vệ Môi trường, Nghị định 121/2004/NĐ-CP ngày 12/5/2004 về
xử phạt hành chính trong lĩnh vực Luật Bảo vệ Môi trường, Nghị định
121/2004/NĐ-CP quy định hành vi vi phạm các quy định về phòng chống sự cố
môi trường trong tìm kiếm, thăm dò, khai thác, vận chuyển dầu khí; Quyết định số
103/2005/QĐ-TTg về quy chế hoạt động ứng phó sự cố tràn dầu; Nghị định
29/2011/NĐ-CP của Chính phủ ngày 18 tháng 4 năm 2011 quy định về đánh giá
môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường,
trong đó có quy định về công tác phòng ngừa, ứng phó và khắc phục sự cố môi
trường; Thông tư 26/2011/TT-BTNMT ngày 18 tháng 7 năm 2011 của Bộ Tài
nguyên và Môi trường hướng dẫn về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác
động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường và các quy định pháp luật khác có liên
quan; Quyết định số 71/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 29 tháng 5
năm 2008 về ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường đối với hoạt động khai thác
khoáng sản…
14
2. Những thuận lợi khi áp dụng Luật bảo vệ môi trường 2005 trong lĩnh
vực sự số môi trường
- Quy định về trách nhiệm khắc phục hậu quả sự cố môi trường là căn cứ
pháp lý quan trọng trong quá trình áp dụng thực hiện :
Các quy định của Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 liên quan đến khắc
phục hậu quả sự cố môi trường là căn cứ pháp lý cơ bản, quy định nguyên tắc, khái
quát các biện pháp, cách thức để áp dụng đối với các trường hợp khắc phục hậu quả
sự cố môi trường cụ thể, tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình áp dụng pháp luật.
Đặc biệt đối với sự cố tràn dầu, các quy định về thông báo, xác định phạm vi, mức
độ, nguyên nhân, biện pháp khắc phục hậu quả của sự cố môi trường của Luật Bảo
vệ môi trường năm 2005 đã tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình khắc phục sự cố
tràn dầu từ giai đoạn thông tin và xử lý thông tin trong ứng phó sự cố tràn dầu;
phân cấp ứng phó sự cố tràn dầu và ứng phó trong trường hợp sự cố tràn dầu cách

nhau.
Ngoài các quy định nói trên, Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 còn quy định
các nội dung liên quan đến trách nhiệm áp dụng các biện pháp cưỡng chế buộc đối
tượng gây ô nhiễm môi trường trên địa bàn phải thực hiện nghĩa vụ khắc phục và
bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật. Việc quy định thực hiện các biện
pháp cưỡng chế để khắc phục và bồi thường thiệt hại về môi trường là biện pháp
quan trọng trong quá trình khắc phục sự cố môi trường.
5C*DEGD+ G*
HIAF
Để khắc phục các sự cố môi trường do thiên tai gây ra, Luật Bảo vệ môi
trường năm 2005 quy định các nội dung cho các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan
thuộc Chính phủ và Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn
của mình phải thực hiện. Các quy định của Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 liên
16
quan đến khắc phục hậu quả sự cố môi trường do thiên tai gây ra là những quy định
cơ bản, có tính khái quát, tương đối đầy đủ nội dung, phù hợp với pháp luật về
phòng chống bão, lũ, tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình áp dụng thực hiện việc
khắc phục hậu quả sự cố môi trường do thiên tai gây ra.
5C*DEGD+ 
"J=8H,F
Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 quy định việc khắc phục hậu quả sự cố môi
trường đặc biệt nghiêm trọng được thực hiện theo quy định của pháp luật về tình trạng
khẩn cấp. Việc vận dụng và dẫn chiếu đến pháp luật về tình trạng khẩn cấp trong quá
trình khắc phục hậu quả sự cố môi trường nghiêm trọng là rất linh hoạt và phù hợp với
tính thống nhất của văn bản quy phạm pháp luật, theo đó, các biện pháp được áp dụng
trong tình trạng khẩn cấp theo quy định của pháp luật về tình trạng khẩn cấp được
thực hiện khi có thảm họa lớn và khi có dịch bệnh nguy hiểm. Các quy định của
pháp luật về tình trạng khẩn cấp trong việc khắc phục hậu quả sự cố môi trường đặc
biệt nghiêm trọng là rất đầy đủ, chi tiết, trong đó, đã quy định r† các biện pháp
khắc phục hậu quả, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc khắc

Theo quy định tại khoản 7 Điều 21 của Luật Bảo vệ môi trường năm 2005, Bộ Tài
nguyên và Môi trường được giao tổ chức hội đồng thẩm định hoặc tuyển chọn tổ
chức dịch vụ thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường đối với các dự án do
Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quyết định, phê duyệt, dự án liên
ngành, liên tỉnh; các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ tổ chức hội
đồng thẩm định hoặc tuyển chọn tổ chức dịch vụ thẩm định báo cáo đánh giá tác
động môi trường đối với các dự án thuộc thẩm quyền quyết định, phê duyệt của
mình, trừ dự án liên ngành, liên tỉnh.
Như vậy, ngoài Bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm thẩm định báo
cáo đánh giá tác động môi trường đối với các dự án đầu tư thuộc thẩm quyền của
18
mình thì Luật cũng quy định các cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ cũng
có thẩm quyền này. Quy định này dẫn đến nhiều bất cập trong công tác thẩm định,
phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường của các dự án đầu tư, đặc biệt
thẩm định, phê duyệt nội dung liên quan đến phòng ngừa, ứng phó sự cố môi
trường, cụ thể:
+ Hiện nay, theo cơ cấu tổ chức của Chính phủ thì các cơ quan ngang bộ, cơ
quan thuộc Chính phủ bao gồm: Thanh tra chính phủ, Ngân hàng nhà nước Việt
Nam, Ủy ban dân tộc, Văn phòng chính phủ, Thông tấn xã Việt Nam, Đài tiếng nói
Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia
Hồ chí Minh… Trường hợp có các dự án đầu tư thuộc thẩm quyền quyết định phê
duyệt của các cơ quan nói trên thì công tác thẩm định, phê duyệt báo cáo đánh giá
tác động môi trường của các cơ quan này sẽ gặp nhiều khó khăn, lúng túng do công
tác thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường là một chuyên ngành riêng,
phức tạp và khi dự án được phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường và đi
vào hoạt động thì việc bảo đảm thực hiện các quy định của pháp luật về bảo vệ môi
trường, nhất là đối với công tác phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường là rất hạn
chế
+ Ngoài việc giao các cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ nói trên,
Luật còn giao cho các Bộ khác (ngoài Bộ Tài nguyên và Môi trường) thực hiện

- Thẩm quyền thẩm định, phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi
trường chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường khi
giao các cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và một số Bộ có thẩm
quyền thẩm định, phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường, gây khó
khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện.
- Tổ chức và hoạt động của Hội đồng thẩm định báo cáo đánh giá tác
động môi trường chỉ phù hợp với các tỉnh, thành phố lớn vì tập trung nhiều cán
bộ, chuyên gia đáp ứng được yêu cầu thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi
20
trường đối với các dự án đầu tư, chứ chưa phù hợp với điều kiện thực tế của
các tỉnh vùng sâu, vùng xa.
- Luật chưa quy định cụ thể trách nhiệm của Hội đồng thẩm định báo cáo
đánh giá tác động môi trường đối với các dự án đầu tư khi đi vào hoạt động để
xảy ra các sự cố môi trường.
3.2. Quy định về xác nhận việc thực hiện các nội dung của báo cáo đánh
giá tác động môi trường và yêu cầu của quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá
tác động môi trường chưa đáp ứng với điều kiện thực tế
Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 quy định các nội dung có liên quan đến
kiểm tra, xác nhận việc thực hiện báo cáo và yêu cầu của quyết định phê duyệt báo
cáo đánh giá tác động môi trường, trong đó, quy định chỉ được đưa công trình vào
sử dụng sau khi đã được cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, xác nhận việc thực hiện
đầy đủ yêu cầu của quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường, cụ
thể là các công trình bảo vệ môi trường, công trình xử lý chất thải và các biện pháp,
công trình phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường.
Tuy nhiên, trên thực tế, việc xác nhận này chưa bảo đảm đáp ứng theo
quy định của Luật bảo vệ môi trường, vì các nguyên nhân sau:
- Các yêu cầu của quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi
trường có quá nhiều nội dung, trong khi đó, Luật không quy định cụ thể việc
xác nhận những nội dung chính nào, Luật cũng không quy định việc bắt buộc
xác nhận các biện pháp phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường của dự án trước

xuất, kinh doanh, dịch vụ phải bảo đảm nguồn lực, trang thiết bị đáp ứng khả năng
phòng ngừa và ứng phó sự cố môi trường, đặc biệt là đối với cơ sở sản xuất có sử
dụng hoá chất, chất phóng xạ, chất dễ gây cháy, nổ. Tuy nhiên, việc quy định này
còn chung chung, chưa cụ thể, dẫn đến tính khả thi không cao, khó áp dụng trong
thực tiễn. Luật mới chỉ quy định mang tính nguyên tắc, chưa quy định r† trách
22
nhiệm của chủ cơ sở phải đầu tư kinh phí là bao nhiêu, danh mục thiết bị bao gồm
các loại nào hoặc tùy theo tính chất, quy mô của dự án để đầu tư thiết bị phòng
ngừa, ứng phó sự cố môi trường; chưa quy định trường hợp chủ cơ sở không thực
hiện các quy định này thì phải chịu trách nhiệm như thế nào trước pháp luật. Do
vậy, rất khó triển khai thi hành Luật bảo đảm có hiệu quả và nâng cao năng lực của
cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường.
Bên cạnh đó, Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 quy định các bệnh viện, cơ
sở y tế trong quá trình hoạt động phải có kế hoạch, trang thiết bị phòng ngừa, ứng
phó sự cố môi trường do chất thải y tế gây ra. Các quy định này là hoàn toàn phù
hợp với yêu cầu về bảo vệ môi trường, tuy nhiên việc áp dụng trong thực tế là rất
khó khăn vì quy định chưa cụ thể, đầy đủ. Việc xây dựng kế hoạch phòng ngừa,
ứng phó sự cố môi trường chưa được hướng dẫn chi tiết. Luật chưa quy định bệnh
viện, cơ sở y tế quy mô như thế nào thì phải có kế hoạch phòng ngừa, ứng phó sự
cố môi trường, trong khi đó, thực tế hiện nay có rất nhiều bệnh viện, cơ sở y tế có
quy mô khác nhau, từ bệnh viện trung ương, bệnh viện cấp tỉnh và cơ sở khám
chữa bệnh nhỏ lẻ. Ngoài ra, đối với các dự án đầu tư xây dựng bệnh viện, tùy theo
tính chất, quy mô, trong quá trình đầu tư phải thực hiện đánh giá tác động môi
trường của dự án, trong đó đã bao gồm nội dung phòng ngừa, ứng phó sự cố môi
trường, trường hợp được phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường, có nghĩa
cơ quan có thẩm quyền đã phê duyệt kế hoạch phòng ngừa, ứng phó sự cố môi
trường của dự án đầu tư xây dựng bệnh viện, tuy nhiên, khi bệnh viện đó đi vào
hoạt động vẫn tiếp tục phải có kế hoạch phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường,
gây ra sự trùng lặp, chồng chéo về nội dung đối với quy định trên. Đối với các bệnh
viện đang hoạt động, việc xây dựng kế hoạch phòng ngừa, ứng phó sự số môi

quan khác được biết và có phương án phòng tránh sự cố môi trường” là chưa đáp
ứng được yêu cầu về phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường, vì việc xác định mức
24
độ như thế nào là có nguy cơ gây ra sự cố môi trường và hình thức thông báo bao
gồm những hình thức gì, gây vướng mắc, khó khăn trong quá trình thực hiện.
Đối với phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường về quản lý chất thải nguy hại,
Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 đã quy định nhiều nội dung liên quan, theo đó,
tổ chức, cá nhân có hoạt động làm phát sinh chất thải nguy hại, thu gom, quản lý
chất thải nguy hại phải có kế hoạch, phương tiện phòng, chống sự cố do chất thải
nguy hại gây ra, cơ sở xử lý chất thải nguy hại, khu chôn lấp chất thải nguy hại phải
đáp ứng các yêu cầu về bảo vệ môi trường, trong đó có yêu cầu về việc lập kế
hoạch và trang thiết bị phòng ngừa và ứng phó sự cố môi trường. Đến nay, các quy
định về phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường trong thu gom, quản lý chất thải
nguy hại đang từng bước được hoàn thiện, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước về
bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 sau 07 năm thực
hiện, hiện vẫn chưa có hướng dẫn cụ thể cho các quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật,
hướng dẫn, kiểm tra, xác nhận cơ sở xử lý chất thải nguy hại, khu chôn lấp chất thải
nguy hại. Vì vậy, việc thực thi các quy định này gặp nhiều khó khăn, vướng mắc
trong quá trình kiểm tra, xác nhận.
Ngoài các quy định chung về trách nhiệm của chủ cơ sở sản xuất, kinh
doanh, dịch vụ trong thực hiện bảo vệ môi trường, Luật Bảo vệ môi trường năm
2005 đã dành riêng một điều (Điều 86) quy định về trách nhiệm của chủ cơ sở sản
xuất, kinh doanh, dịch vụ, phương tiện vận tải có nguy cơ gây ra sự cố môi trường
phải thực hiện các biện pháp phòng ngừa sự cố môi trường. Tuy nhiên, các quy
định này còn chung chung, chưa xác định được mức độ như thế nào là có nguy cơ
gây ra sự cố môi trường hoặc tiêu chí đánh giá cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ,
phương tiện vận tải có nguy cơ gây ra sự cố môi trường. Luật không quy định về
trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền trong quá trình xem xét, thẩm định báo cáo
đánh giá tác động môi trường của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có trách
nhiệm yêu cầu chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có biện pháp phòng ngừa,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status