Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lời mở đầu
Bảo hiểm nhân thọ là lĩnh vực kinh doanh đã xuất hiện từ rất lâu trên thế
giới, nhng lĩnh vực này chỉ mới xuất hiện ở Việt Nam từ năm 1996.
Đây là một hoạt động kinh doanh bảo hiểm mang lại nhiều lợi ích cho con
ngời và nền kinh tế, xã hội. Đối với con ngời, bên cạnh yếu tố bảo hiểm (bên mua
bảo hiểm đợc doanh nghiệp bảo hiểm chi trả để bù đắp những thiệt hại khi rủi ro
xảy ra), bảo hiểm nhân thọ còn có tính tiết kiệm, giúp bên mua bảo hiểm có thể
thực hiện đợc mục đích của mình khi đợc doanh nghiệp bảo hiểm trả số tiền bảo
hiểm. Đối với nền kinh tế, cùng với các thị trờng ngân hàng, bất động sản, chứng
khoán, thị trờng bảo hiểm là công cụ huy động vốn nhàn rỗi trong dân chúng, đầu
t phát triển sản xuất thông qua việc doanh nghiệp bảo hiểm thu phí bảo hiểm từ
bên mua bảo hiểm và dùng số tiền này để đầu t. Doanh nghiệp bảo hiểm do đó đã
trở thành một trong những tổ chức tài chính hữu hiệu trong công cuộc đầu t, phát
triển kinh tế đất nớc. Trớc xu thế hội nhập của nền kinh tế nớc ta với nền kinh tế
thế giới, thông qua hình thức nớc ta gia nhập các tổ chức AFTA, APEC, WTO,
việc huy động vốn để đầu t phát triển nền kinh tế cần thiết hơn bao giờ hết. Bên
cạnh đó, bảo hiểm nhân thọ góp phần tạo nên một lối sống mới trong dân chúng,
đó là ý thức, thói quen về việc dành ra một phần thu nhập để có một tơng lai an
toàn hơn. Bảo hiểm nhân thọ cũng góp phần giải quyết một số vấn đề xã hội: ph-
ơng thức phục vụ tại nhà của doanh nghiệp bảo hiểm cần tuyển dụng lực lợng lớn
đại lý khai thác bảo hiểm sẽ giải quyết việc làm cho xã hội, thông qua giải quyết
việc làm sẽ hạn chế tệ nạn xã hội; bảo hiểm nhân thọ góp phần tăng vốn đầu t cho
giáo dục, bảo hiểm nhân thọ ra đời và đợc triển khai nh loại hình an sinh giáo dục
là giải pháp hiệu quả huy động nguồn vốn dài hạn để gia đình đầu t cho việc học
tập của con cái, đảm bảo đợc quỹ gia đình dành cho con cái ngay cả khi rủi ro xảy
ra.
Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ thể hiện mối quan hệ giữa doanh nghiệp bảo
hiểm và bên mua bảo hiểm là vấn đề chính đợc quan tâm trong lĩnh vực kinh
doanh này. Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ đợc các bên thoả thuận, vừa là công cụ
thực hiện pháp luật, vừa là một sản phẩm của thị trờng bảo hiểm nhân thọ. Mỗi
Chơng III: Thực trạng pháp luật về chấm dứt hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
và một số kiến nghị
2
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Chơng I
Những vấn đề lý luận cơ bản
về chấm dứt hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
1. Những vấn đề cơ bản về hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
1.1. Khái niệm hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
Bảo hiểm nhân thọ là loại nghiệp vụ bảo hiểm cho trờng hợp ngời đợc bảo
hiểm sống hoặc chết trong một thời hạn nhất định theo sự thoả thuận của bên mua
bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ.
Nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ đã xuất hiện cách đây khá lâu và sau nghiệp
vụ bảo hiểm phi nhân thọ. Theo nhiều nhà nghiên cứu thì hợp đồng bảo hiểm nhân
thọ đầu tiên đợc ký kết tại Luân - đôn năm 1583. Do sự hoàn thiện và tác dụng của
loại hình bảo hiểm này nên ngày càng có nhiều ngời tham gia. Năm 1762, doanh
nghiệp bảo hiểm nhân thọ đầu tiên đợc thành lập tại Luân - đôn (Anh) chính thức
đánh dấu sự ra đời của loại nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ. Sau đó, hàng loạt công
ty bảo hiểm nhân thọ đã ra đời ở Anh, Đức, Pháp, Thuỵ Sĩ, Mĩ. Tại châu á, các
công ty bảo hiểm nhân thọ ở Nhật và Hàn Quốc cũng ra đời vào năm 1888-1889.
Nh vậy, bảo hiểm nhân thọ đã có sự phát triển hơn 400 năm, trong đó thị trờng bảo
hiểm nhân thọ lớn là Châu Âu, Nhật và Mĩ. Cho đến nay, thị trờng bảo hiểm nhân
thọ phát triển rất sôi động tại các nớc phát triển trên thế giới, đồng thời hệ thống
pháp luật điều chỉnh hoạt động của thị trờng tơng đối hoàn thiện tại các quốc gia
này.
Tại Việt Nam, bảo hiểm nhân thọ cũng đã từng xuất hiện trong thời kì Pháp
thuộc và ở miền Nam trớc năm 1975[tr10,18]. Năm 1965, công ty bảo hiểm Việt
Nam (gọi tắt là Bảo Việt) ra đời, đánh dấu một bớc phát triển trong lịch sử của
ngành bảo hiểm Việt Nam. Tuy nhiên trong giai đoạn này, bảo hiểm Việt Nam
hoàn toàn mang tính bao cấp, chỉ có 5 nghiệp vụ bảo hiểm và không có nghiệp vụ
khoẻ, bệnh tật
Trong nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ, nghĩa vụ khai báo đúng tuổi của ngời
đợc bảo hiểm là rất quan trọng, vì xét về mặt lý thuyết, mức độ rủi ro sẽ khác nhau
đối với các độ tuổi khác nhau.
Bảo vệ cho tuổi thọ của con ngời trong nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ có 2
dạng cơ bản[18]:
4
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Dạng thứ nhất là bảo vệ cho ngời thân của ngời đợc bảo hiểm về mặt kinh tế
nếu nh ngời đợc bảo hiểm qua đời hoặc không còn khả năng lao động.
Dạng thứ hai là bảo vệ cho chính ngời đợc bảo hiểm cho thời gian sống sau
khi kết thúc hợp đồng bảo hiểm.
Thứ hai, hợp đồng bảo hiểm nhân thọ là hợp đồng có thời hạn dài. Thời
hạn ngắn nhất của bảo hiểm nhân thọ là 5 năm. Vì vậy, việc ký kết hợp đồng bảo
hiểm nhân thọ chủ yếu đợc tiến hành với từng cá nhân, việc ký kết theo nhóm rất
ít và chủ yếu là loại bảo hiểm tử kỳ có thời hạn xác định trớc.
Thời hạn hợp đồng dài có thể ảnh hởng tới nghĩa vụ nộp phí của bên mua
bảo hiểm, vì không thể chắc chắn rằng tình hình tài chính của bên mua bảo hiểm
trong tơng lai sẽ nh lúc mà bên mua bảo hiểm giao kết hợp đồng bảo hiểm nhân
thọ với doanh nghiệp bảo hiểm. Đồng thời vì thời hạn của hợp đồng kéo dài nên
trong quá trình thực hiện hợp đồng, bên mua bảo hiểm đợc quyền thay đổi nội
dung hợp đồng nh đề nghị giảm bớt số tiền bảo hiểm, thay đổi loại hình bảo hiểm
nhân thọ, điều chỉnh thời hạn nộp phí và phơng thức nộp phí
Thứ ba, hợp đồng bảo hiểm nhân thọ là hợp đồng có tính tiết kiệm. Tính
tiết kiệm của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ đợc thể hiện ở việc bên mua bảo hiểm
dùng những khoản tiền nhỏ để nộp phí bảo hiểm có thể là hàng tháng, hàng quý,
hàng năm, cho tới khi ngời đợc bảo hiểm qua đời hoặc ngời đó vẫn còn sống khi
hết thời hạn quy định trong hợp đồng, bản thân ngời đợc bảo hiểm hoặc ngời thân
của ngời đó sẽ nhận đợc một khoản tiền đáng kể (thờng nhiều hơn tổng số phí bảo
hiểm phải nộp) giống nh tiền gửi tiết kiệm. Việc đợc nhận số tiền bảo hiểm và việc
lợi thế cạnh tranh, thu hút khách hàng mua sản phẩm bảo hiểm nhân thọ của
doanh nghiệp đó.
Từ những đặc trng của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ cùng với bản chất của
một loại hợp đồng bảo hiểm, có thể đa ra định nghĩa về hợp đồng bảo hiểm nhân
thọ nh sau:
Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ là sự cam kết giữa hai bên, theo đó bên
nhận bảo hiểm (công ty bảo hiểm) có trách nhiệm và nghĩa vụ chi trả cho bên đ-
ợc bảo hiểm khi có các sự kiện bảo hiểm xảy ra, còn bên đợc bảo hiểm có trách
nhiệm và nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm nh đã thoả thuận theo quy định pháp luật
[14] .
6
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ là sự thoả thuận giữa bên mua bảo hiểm và
doanh nghiệp bảo hiểm về việc doanh nghiệp bảo hiểm cam kết bảo hiểm cho
tuổi thọ của ngời đợc bảo hiểm, theo đó, bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo
hiểm và tơng ứng doanh nghiệp bảo hiểm sẽ trả tiền bảo hiểm cho ngời đợc bảo
hiểm hoặc ngời thụ hởng nếu ngời đợc bảo hiểm sống hoặc chết trong thời hạn
thoả thuận[18].
Cách định nghĩa này cho thấy trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ những ng-
ời liên quan gắn với các nghĩa vụ hoặc quyền lợi là: doanh nghiệp bảo hiểm, bên
mua bảo hiểm, ngời đợc bảo hiểm và ngời thụ hởng, trong đó trách nhiệm cơ bản
của bên mua bảo hiểm là nộp phí bảo hiểm và trách nhiệm của doanh nghiệp bảo
hiểm là trả tiền bảo hiểm .
Doanh nghiệp bảo hiểm là doanh nghiệp đợc thành lập, tổ chức và hoạt
động theo quy định pháp luật của các quốc gia để kinh doanh bảo hiểm. Theo quy
định của Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 của Việt Nam, doanh nghiệp bảo
hiểm nhân thọ không đợc đồng thời kinh doanh các sản phẩm bảo hiểm phi nhân
thọ, ngoại trừ các sản phẩm bổ trợ cho hoạt động kinh doanh chính.
Bên mua bảo hiểm là chủ thể giao kết hợp đồng bảo hiểm nhân thọ với
doanh nghiệp bảo hiểm và đóng phí bảo hiểm. Bên mua bảo hiểm có thể đồng thời
ợc bảo hiểm còn sống thì quan hệ hợp đồng bảo hiểm nhân thọ giữa các bên sẽ
chấm dứt.
* Bảo hiểm trờng sinh: doanh nghiệp bảo hiểm cam kết trả tiền bảo hiểm
khi ngời đợc bảo hiểm tử vong vào bất cứ thời điểm nào kể từ ngày hợp đồng bảo
hiểm nhân thọ có hiệu lực.
* Bảo hiểm tử kỳ có điều kiện: tơng tự bảo hiểm tạm thời, việc thanh toán
trợ cấp chỉ đợc thực hiện khi ngời đợc bảo hiểm chết nhng ngời thụ hởng đợc chỉ
định phải còn sống.
Hợp đồng bảo hiểm sinh kỳ là loại hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, theo đó
doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho ngời thụ hởng, nếu ngời đợc
bảo hiểm vẫn sống đến thời hạn đợc thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm. Sự kiện
bảo hiểm trong hợp đồng loại này là sự kiện sau khi kết thúc thời hạn quy định
trong hợp đồng, ngời đợc bảo hiểm vẫn còn sống. Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
sinh kỳ có 3 dạng hợp đồng cơ bản sau:
8
Website: Email : Tel : 0918.775.368
* Bảo hiểm có số tiền bảo hiểm đợc trả sau: doanh nghiệp bảo hiểm sẽ trả
số tiền bảo hiểm ấn định, nếu ngời đợc bảo hiểm sống đến kỳ hạn đợc xác định tại
ngày ký kết hợp đồng.
* Bảo hiểm trợ cấp trả sau (bảo hiểm niên kim trả sau): doanh nghiệp bảo
hiểm cam kết thanh toán những khoản trợ cấp định kỳ thờng niên hoặc định kỳ
hàng tháng cho ngời đợc bảo hiểm. Các khoản trợ cấp này chỉ bắt đầu đợc thanh
toán vào một ngày ấn định (thờng là ngày về hu của ngời đợc bảo hiểm) và chỉ đợc
chi trả khi ngời đợc bảo hiểm còn sống. Tuỳ theo thoả thuận trong hợp đồng bảo
hiểm nhân thọ mà các khoản trợ cấp này sẽ đợc thanh toán cho đến khi ngời đợc
bảo hiểm qua đời (hợp đồng bảo hiểm nhân thọ loại này đợc gọi là niên kim nhân
thọ) hoặc chỉ đợc thanh toán trong một thời kỳ nhất định.
* Bảo hiểm trợ cấp trả ngay: theo quy định tại hợp đồng loại này, bên mua
bảo hiểm nộp một khoản phí bảo hiểm duy nhất khi ký kết hợp đồng bảo hiểm. Số
phí bảo hiểm này là một số tiền bảo hiểm, nó tạo nên các khoản trợ cấp mà doanh
2.1. Khái niệm chấm dứt hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ nói riêng và hợp đồng bảo hiểm nói chung
đều là một dạng của hợp đồng dân sự. Để đa ra định nghĩa chấm dứt hợp đồng bảo
hiểm nhân thọ, trớc hết cần xây dựng định nghĩa về chấm dứt hợp đồng dân sự.
Hợp đồng dân sự bao giờ cũng đợc phát sinh từ những hành vi có ý thức
của các chủ thể tham gia. Vì vậy, các sự kiện làm chấm dứt một hợp đồng dân sự
không phải là sự biến mà đó là những sự kiện đợc xuất hiện từ hành vi có ý thức
của các chủ thể hoặc do pháp luật quy định. Các căn cứ chấm dứt hợp đồng cũng
là các căn cứ chấm dứt nghĩa vụ dân sự (nghĩa vụ theo hợp đồng). Điều 424 Bộ
luật dân sự năm 2005 của Việt Nam có quy định về các trờng hợp chấm dứt hợp
đồng dân sự nh sau:
Hợp đồng chấm dứt trong các trờng hợp sau đây:
1. Hợp đồng đã đợc hoàn thành;
2. Theo thoả thuận của các bên;
3. Cá nhân giao kết hợp đồng chết, pháp nhân hoặc chủ thể khác chấm
dứt mà hợp đồng phải do chính cá nhân, pháp nhân hoặc chủ thể đó thực hiện;
4. Hợp đồng bị huỷ bỏ, bị đơn phơng chấm dứt thực hiện;
10
Website: Email : Tel : 0918.775.368
5. Hợp đồng không thể thực hiện đợc do đối tợng của hợp đồng không còn
và các bên có thể thoả thuận thay thế đối tợng khác hoặc bồi thờng thiệt hại;
6. Các trờng hợp khác do pháp luật quy định.
Từ những điều trên có thể định nghĩa chấm dứt hợp đồng dân sự nh sau:
Chấm dứt hợp đồng dân sự là hành vi pháp lý của các bên tham gia hoặc
theo quy định pháp luật, theo đó quan hệ hợp đồng dân sự đã đợc xác lập giữa
các bên sẽ chấm dứt; kể từ thời điểm hợp đồng chấm dứt, các bên không tiếp tục
thực hiện quyền và nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng đó nữa, nói cách khác,
các bên không còn chịu sự ràng buộc bởi hợp đồng.
Chấm dứt hợp đồng bảo hiểm nhân thọ hoàn toàn phù hợp với định nghĩa
trên và có những đặc trng sau đây:
bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm hoặc theo quy định của pháp luật, theo đó
quan hệ hợp đồng bảo hiểm nhân thọ đã đợc xác lập giữa các bên sẽ chấm dứt;
kể từ thời điểm hợp đồng chấm dứt, các bên không tiếp tục thực hiện các quyền
và nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ đó nữa, nói cách
khác, các bên không còn chịu sự ràng buộc bởi hợp đồng.
2.2. Các nguyên tắc cơ bản trong việc chấm dứt hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
Chấm dứt hợp đồng bảo hiểm nhân thọ phải tuân thủ các nguyên tắc sau:
2.2.1. Nguyên tắc đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong
hợp đồng
Khi chấm dứt hợp đồng bảo hiểm nhân thọ phải tuân thủ nguyên tắc này,
bởi vì trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ tồn tại sự không cân xứng lợi ích giữa
các bên, tức là chỉ duy nhất một bên có lợi. Điều này thể hiện nh sau: nếu sự kiện
bảo hiểm nhân thọ xảy ra trong thời hạn thực hiện hợp đồng thì doanh nghiệp bảo
hiểm thờng phải trả tiền bảo hiểm nhiều hơn số phí mà bên mua bảo hiểm nộp cho
họ; còn nếu sự kiện bảo hiểm không xảy ra trong thời gian đó thì bên mua bảo
hiểm sẽ nhận đợc một khoản tiền ít hơn nhiều số phí mà họ phải đóng, thậm chí là
không nhận đợc bất kỳ khoản tiền nào nh trong trờng hợp ngời đợc bảo hiểm chết
trong thời gian thực hiện hợp đồng bảo hiểm sinh kỳ.
Do vậy nên khi tham gia bảo hiểm nhân thọ, khách hàng luôn muốn nhận đ-
ợc số tiền bảo hiểm nhiều nhất, còn doanh nghiệp bảo hiểm thì lại muốn trả số tiền
bảo hiểm ít nhất.
12
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong hợp đồng là một
trong những nguyên tắc giao kết hợp đồng dân sự, do đó khi chấm dứt hợp đồng
cũng phải đảm bảo nguyên tắc này. Cần xây dựng các quy định pháp luật để bảo
vệ quyền, lợi ích chính đáng của một bên khi bên kia đơn phơng chấm dứt thực
hiện hợp đồng. Hành vi pháp lý của một bên dẫn đến việc chấm dứt hợp đồng là
những hành vi đợc pháp luật cho phép thực hiện và quy định thủ tục chặt chẽ để
thực hiện hành vi đó, đồng thời Nhà Nớc cũng đa ra các quy định để bảo vệ quyền
Đối với các hợp đồng bảo hiểm con ngời nói chung, hợp đồng bảo hiểm
nhân thọ nói riêng, doanh nghiệp bảo hiểm không đợc yêu cầu ngời thứ ba bồi
hoàn. Nếu họ trực tiếp hoặc gián tiếp gây nên cái chết, thơng tật hoặc ốm đau cho
ngời đợc bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm vẫn thực hiện nghĩa vụ trả tiền bảo
hiểm theo đúng thoả thuận đã ghi trong hợp đồng. Đồng thời, ngời thứ ba phải
chịu trách nhiệm bồi thờng cho ngời đợc bảo hiểm theo quy định pháp luật. Ngời
thứ ba đợc hiểu là các chủ thể khác không phải là bên mua bảo hiểm và cũng
không phải là ngời thụ hởng (trờng hợp ngời đợc bảo hiểm không phải là bên mua
bảo hiểm hoặc ngời thụ hởng). Nếu bên mua bảo hiểm, ngời thụ hởng trực tiếp
hoặc gián tiếp gây nên cái chết, thơng tật hoặc ốm đau cho ngời đợc bảo hiểm thì
doanh nghiệp bảo hiểm không phải trả tiền bảo hiểm, vì đây là trờng hợp loại trừ
trách nhiệm bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm.
Có nguyên tắc này xuất phát từ đặc điểm của đối tợng của hợp đồng bảo
hiểm nhân thọ. Xét về khía cạnh vật chất, ta không thể xác định đợc giá trị của
tuổi thọ con ngời, tuổi thọ con ngời trị giá bao nhiêu là xứng đáng; và rõ ràng là
không phải bất cứ một tổ chức bảo hiểm nào cũng có thể cung cấp cho một ngời
một "giá trị" tơng đơng với việc mất đi một sinh mạng. Một hợp đồng bảo hiểm
nhân thọ không phải là một hợp đồng bồi thờng. Các hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
đều dựa trên một số tiền cụ thể, mục đích của nó là cung cấp một khoản tiền cụ
thể khi xảy ra những trờng hợp nêu trong hợp đồng bảo hiểm. Khoản tiền bảo
hiểm cụ thể trong hợp đồng là bao nhiêu phụ thuộc vào sự lựa chọn của bên mua
bảo hiểm trên cơ sở đánh giá khả năng tài chính của bản thân. Trên thực tế, doanh
nghiệp bảo hiểm có định mức sẵn số tiền bảo hiểm từng loại để ngời tham gia bảo
hiểm nhân thọ dễ dàng lựa chọn số tiền bảo hiểm phù hợp.
2.3. Những yếu tố chi phối đến việc chấm dứt hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ chấm dứt trong những trờng hợp khác nhau,
các yếu tố chi phối việc chấm dứt đó cũng rất nhiều, hai yếu tố chủ yếu là:
14
Website: Email : Tel : 0918.775.368
*Khả năng kinh tế khả năng tài chính) của bên mua bảo hiểm
15
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ chấm dứt khi hợp đồng đã hoàn thành; theo
thoả thuận của các bên; doanh nghiệp bảo hiểm chấm dứt hoạt động, bên mua bảo
hiểm là cá nhân chết hoặc là tổ chức chấm dứt hoạt động; khi mất đi đối tợng của
hợp đồng hoặc bên mua bảo hiểm không còn quyền lợi liên quan có thể đợc bảo
hiểm là các trờng hợp mà hợp đồng bảo hiểm nhân thọ chấm dứt không có sự vi
phạm hợp đồng từ phía các bên. Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ chấm dứt trong các
trờng hợp này đều nhằm bảo vệ quyền lợi của cả hai bên: bên mua bảo hiểm và
doanh nghiệp bảo hiểm.
Còn các các trờng hợp hợp đồng bảo hiểm nhân thọ chấm dứt khi có sự vi
phạm hợp đồng của một bên là trờng hợp đơn phơng chấm dứt thực hiện hợp đồng,
đơn phơng huỷ bỏ hợp đồng hoặc hợp đồng bị Toà án tuyên vô hiệu. Việc chấm
dứt hợp đồng trong các trờng hợp này là biện pháp chế tài đối với hành vi vi phạm
hợp đồng của một bên, và để bảo vệ quyền lợi cho bên bị vi phạm.
16
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Chơng II
Pháp luật hiện hành
về chấm dứt hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
1. Pháp luật hiện hành điều chỉnh việc chấm dứt hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
Luật về kinh doanh bảo hiểm hiện hành của Việt Nam đợc Quốc hội chính
thức thông qua ngày 9/12/2000 đã bao quát gần nh toàn bộ các nghiệp vụ cơ bản
của thị trờng bảo hiểm. Luật là một phần kết quả của sự hợp tác giữa Bộ Tài chính
Việt Nam với Liên minh Châu Âu trong dự án Euro - Tapviet. Nội dung của luật tỏ
ra tơng đối hiện đại và phù hợp với thông lệ quốc tế về thị trờng bảo hiểm. Luật
kinh doanh bảo hiểm năm 2000 quy định về hợp đồng bảo hiểm từ Điều 12 đến
Điều 57, chiếm 46/129 điều, điều này đã thể hiện rõ tầm quan trọng của những
quy định này. Tuy nhiên, Luật kinh doanh bảo hiểm không có điều khoản nào quy
định cụ thể các trờng hợp chấm dứt hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, việc chấm dứt
2.1. Khi hợp đồng đã đợc hoàn thành
Khoản 1 Điều 424 Bộ luật dân sự năm 2005 về chấm dứt hợp đồng dân sự
quy định hợp đồng chấm dứt khi "hợp đồng đợc hoàn thành".
Hợp đồng đợc coi là hoàn thành khi các bên tham gia hợp đồng đã thực hiện
toàn bộ nội dung của nghĩa vụ, do đó mỗi bên đều đã đáp ứng đợc quyền dân sự
của mình.
Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ đợc coi là hoàn thành khi sự kiện bảo hiểm đã
xảy ra, doanh nghiệp bảo hiểm đã chi trả số tiền bảo hiểm cho ngời đợc bảo hiểm
hoặc ngời thụ hởng (nếu ngời đợc bảo hiểm không đồng thời là ngời thụ hởng). Sự
kiện bảo hiểm theo quy định tại Khoản 10 Điều 3 Luật kinh doanh bảo hiểm năm
2000 là: "sự kiện khách quan do các bên thoả thuận hoặc pháp luật quy định mà
khi sự kiện đó xảy ra thì doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho ngời
thụ hởng hoặc bồi thờng cho ngời đợc bảo hiểm". Sự kiện bảo hiểm trong hợp
đồng bảo hiểm nhân thọ là sự kiện ngời đợc bảo hiểm chết trong thời hạn đợc thoả
thuận trong hợp đồng bảo hiểm (đối với hợp đồng bảo hiểm tử kỳ); là sự kiện ngời
đợc bảo hiểm vẫn sống đến thời hạn thoả thuận trong hợp đồng (đối với hợp đồng
bảo hiểm sinh kỳ); và là sự kiện ngời đợc bảo hiểm sống hoặc chết trong thời hạn
thoả thuận trong hợp đồng (đối với hợp đồng bảo hiểm hỗn hợp). Thời hạn hợp
18
Website: Email : Tel : 0918.775.368
đồng đợc tính từ ngày hợp đồng bảo hiểm nhân thọ có hiệu lực. Hiệu lực của hợp
đồng bảo hiểm thờng đợc tính từ ngày nộp phí bảo hiểm đầu tiên.
Ví dụ: Anh Q ký kết hợp đồng bảo hiểm An Khang Thịnh Vợng với công ty
Bảo Việt nhân thọ thời hạn 5 năm (1998 - 2003). Anh Q sẽ đợc nhận toàn bộ số
tiền bảo hiểm đã chọn khi anh sống đến ngày đáo hạn hợp đồng (vào năm 2003)
và đợc hởng lãi chia hàng năm. Phí bảo hiểm phải nộp mỗi tháng không thay đổi
trong suốt thời hạn của hợp đồng. Sau 5 năm, anh Q vẫn sống khoẻ mạnh và đợc
nhận tiền bảo hiểm. Anh Q sử dụng số tiền đó để chi trả học phi và nuôi cậu em
trai học đại học. Em trai anh Q vào đại học năm 2003. Khi doanh nghiệp bảo hiểm
thanh toán số tiền bảo hiểm cho anh Q, quan hệ hợp đồng giữa anh Q và Bảo Việt
tình trạng của ngời đợc bảo hiểm , địa chỉ và những thông tin cần thiết khác. Và
trên thực tế, các doanh nghiệp bảo hiểm cũng quy định thời hạn để bên mua bảo
hiểm thực hiện nghĩa vụ thông báo cho doanh nghiệp bảo hiểm biết sự kiện bảo
hiểm đã xảy ra.
Khi sự kiện bảo hiểm xảy ra, doanh nghiệp bảo hiểm có quyền: "từ chối trả
tiền bảo hiểm cho ngời thụ hởng trong tr ờng hợp không thuộc phạm vi trách
nhiệm bảo hiểm hoặc trờng hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm theo thoả thuận
trong hợp đồng bảo hiểm" (quy định tại Điểm d Khoản 1 Điều 17 Luật kinh
doanh bảo hiểm năm 2000). Các trờng hợp không trả tiền bảo hiểm đối với hợp
đồng bảo hiểm con ngời đợc Luật kinh doanh bảo hiểm quy định tại Khoản 1 Điều
39.
Doanh nghiệp bảo hiểm không phải trả tiền bảo hiểm trong các trờng hợp
sau đây:
- Ngời đợc bảo hiểm chết do tự tử trong thời hạn hai năm, kể từ ngày nộp
khoản phí bảo hiểm đầu tiên hoặc kể từ ngày hợp đồng bảo hiểm tiếp tục có hiệu
lực;
- Ngời đợc bảo hiểm chết hoặc bị thơng tật vĩnh viễn do lỗi cố ý của bên
mua bảo hiểm hoặc lỗi cố ý của ngời thụ hởng;
- Ngời đợc bảo hiểm chết do bị thi hành án tử hình.
Trong các trờng hợp này, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả cho bên mua bảo
hiểm giá trị hoàn lại của hợp đồng bảo hiểm hoặc toàn bộ số phí bảo hiểm đã đóng
sau khi đã trừ các chi phí hợp lý có liên quan; nếu bên mua bảo hiểm chết thì số
tiền trả lại đợc giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế. Nếu một hoặc
một số ngời thụ hởng cố ý gây ra cái chết hay thơng tật vĩnh viễn cho ngời đợc bảo
20
Website: Email : Tel : 0918.775.368
hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm vẫn phải trả tiền bảo hiểm cho những ngời thụ hởng
khác theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm.
Doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ: "trả tiền bảo hiểm kịp thời cho ngời
thụ hởng khi xảy ra sự kiện bảo hiểm " (quy định tại Điểm c Khoản 2 Điều 17
trị hoàn lại.
Thuật ngữ "giá trị hoàn lại" là thuật ngữ quan trọng và đợc sử dụng rất phổ
biến trong nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ; nhng thuật ngữ này lại cha đợc các quy
định của Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 giải thích. Tuy nhiên, thuật ngữ
"giá trị hoàn lại"( còn đợc gọi là giá trị giải ớc) lại đợc các doanh nghiệp bảo hiểm
giải thích rất chi tiết, rõ ràng trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ. Giá trị hoàn lại là
số tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm sẽ trả cho bên mua bảo hiểm khi hợp đồng
chấm dứt hiệu lực mà sự kiện bảo hiểm cha xảy ra.
Thông qua quy định tại Điều 35 Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000, có
thể hiểu là hợp đồng bảo hiểm nhân thọ sẽ có giá trị hoàn lại khi thực hiện đợc 2
năm. Điều 35 quy định nếu bên mua bảo hiểm không thực hiện nộp phí bảo hiểm
trong thời gian gia hạn đóng phí, thì doanh nghiệp bảo hiểm có quyền đơn phơng
đình chỉ thực hiện hợp đồng, bên mua bảo hiểm không có quyền đòi lại khoản phí
bảo hiểm đã đóng nếu thời gian đã đóng phí bảo hiểm dới 2 năm, trừ trờng hợp các
bên có thoả thuận khác; trong trờng hợp bên mua bảo hiểm đã nộp phí bảo hiểm từ
2 năm trở lên, thì khi hợp đồng bị doanh nghiệp bảo hiểm đơn phơng đình chỉ,
doanh nghiệp bảo hiểm phải trả cho bên mua bảo hiểm giá trị hoàn lại của hợp
đồng bảo hiểm nếu không có thoả thuận gì khác. Giá trị hoàn lại của hợp đồng đợc
doanh nghiệp bảo hiểm thông báo hàng năm cho khách hàng biết.
Ví dụ: Chị H ký hợp đồng bảo hiểm nhân thọ Phú - Tích Luỹ An Khang với
công ty bảo hiểm Prudential thời hạn 10 năm. Thực hiện hợp đồng đợc 3 năm, chị
H theo chồng sang làm ăn tại Đức. Chị H yêu cầu Prudential huỷ bỏ hợp đồng đã
giao kết. Prudential đồng ý và trả cho chị H tổng số phí bảo hiểm mà chị H đã nộp
(vì tổng số phí bảo hiểm này lớn hơn giá trị hoàn lại của hợp đồng).
* Khi bên mua bảo hiểm quyết định không tiếp tục tham gia bảo hiểm trong
khoảng thời gian cân nhắc thì hợp đồng bảo hiểm nhân thọ sẽ chấm dứt.
Thời gian cân nhắc là một khoảng thời gian sau khi hợp đồng có hiệu lực,
để bên mua bảo hiểm xem xét, cân nhắc về quyết định mua bảo hiểm của mình.
Điều khoản thời gian cân nhắc là điều khoản đặc thù của hợp đồng bảo hiểm nhân
thọ. Khoảng thời gian này theo thông lệ thờng đợc các doanh nghiệp bảo hiểm quy
Khoản 5 Điều 424 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định hợp đồng dân sự sẽ
chấm dứt khi "hợp đồng không thể thực hiện đợc do đối tợng của hợp đồng
không còn và các bên có thể thoả thuận thay thế đối tợng khác hoặc bồi thờng
23
Website: Email : Tel : 0918.775.368
thiệt hại". Trong những trờng hợp đối tợng của hợp đồng là một vật đặc định hoặc
đơn chiếc mà do bị mất hoặc bị tiêu huỷ hay các lý do khác nên vật đó không còn
thì hợp đồng đó đơng nhiên đợc coi là chấm dứt vào thời điểm vật là đối tợng của
hợp đồng không còn. Song, các bên có thể thoả thuận vẫn duy trì hợp đồng đó
bằng cách thay thế vật không còn bằng một vật khác.
Đối tợng của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ là tuổi thọ của một con ngời cụ
thể. Khi đối tợng đó mất đi thì hợp đồng bảo hiểm nhân thọ đơng nhiên chấm dứt ,
không thể thay thế bằng đối tợng khác.
Trờng hợp bên mua bảo hiểm và ngời đợc bảo hiểm là hai chủ thể khác
nhau, nếu ngời đợc bảo hiểm từ chối sau khi hợp đồng đã đợc ký kết thì hợp đồng
bảo hiểm nhân thọ sẽ chấm dứt do mất đi đối tợng của hợp đồng, vì tuổi thọ của
ngời đợc bảo hiểm mới là đối tợng của hợp đồng đó. Tuy nhiên, quyền từ chối của
ngời đợc bảo hiểm chỉ nên đợc thực hiện trong thời hạn theo thoả thuận hoặc theo
quy định pháp luật, và phải thể hiện dới hình thức văn bản gửi trực tiếp cho doanh
nghiệp bảo hiểm để đảm bảo quyền lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm.
Đối với nghiệp vụ bảo hiểm sinh kỳ, nếu ngời đợc bảo hiểm chết trớc ngày
đến hạn thanh toán thì hợp đồng bảo hiểm sẽ chấm dứt vì mất đi đối tợng của hợp
đồng. Bên mua bảo hiểm không đợc trả bất cứ khoản tiền nào (tuy nhiên, một số
công ty bảo hiểm sẽ hoàn lại phí bảo hiểm nếu trờng hợp chết xảy ra). Trờng hợp
bảo hiểm cho hai ngời hôn phối thì có thể chỉ mất một đối tợng và khi đó bên mua
bảo hiểm có hai sự lựa chọn: tiếp tục thực hiện hợp đồng cho đến khi hết hạn hoặc
ngời thứ hai chết; hoặc yêu cầu trả tiền bảo hiểm theo thoả thuận.
Khoản 1 Điều 23 Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 quy định:"nếu bên
mua bảo hiểm không còn quyền lợi liên quan có thể đợc bảo hiểm thì hợp đồng
sẽ chấm dứt". Hậu quả pháp lý của trờng hợp chấm dứt này là doanh nghiệp bảo
là chấm dứt. Theo quy định trên, chỉ những hợp đồng nào mà do tính chất của
nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đó hoặc do các bên đã thoả thuận trớc là ngời có
nghĩa vụ phải trực tiếp thực hiện nghĩa vụ đó hoặc chỉ ngời có quyền mới đợc h-
ởng lợi ích phát sinh từ hợp đồng thì khi họ chết, hợp đồng mới chấm dứt. Bởi lúc
đó, nghĩa vụ theo hợp đồng không thể đợc thực hiện.
Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ đợc ký kết giữa doanh nghiệp bảo hiểm và
bên mua bảo hiểm. Theo đó, "doanh nghiệp bảo hiểm chịu trách nhiệm duy nhất
đối với bên mua bảo hiểm, kể cả trong trờng hợp tái bảo hiểm những trách
25