Hoàn thiện hệ thống tiền lương tối thiểu trong các doanh nghiệp ở Việt Nam - Pdf 26

Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Vũ Xuân Đốc
LỜI MỞ ĐẦU
Chính sách tiền lương có vị trí quan trọng trong hệ thống chính sách kinh tế
xã hội của đất nước, là động lực để sử dụng có hiệu quả nguồn lao động. Tiền lương
tối thiểu là một nội dung cơ bản và quan trọng nhất của chính sách tiền lương trong
kinh tế thị trường. Tiền lương tối thiểu tham gia vào quá trình phân phối, điều tiết vĩ
mô về tiền lương và thu nhập trên phạm vi toàn xã hội; đồng thời là yếu tố tham gia
vào hình thành chi phí đầu vào của doanh nghiệp và phân phối theo kết quả đầu ra
của sản xuất kinh doanh.
Trong kinh tế thị trường, tiền lương tối thiểu là một công cụ quản lý tiền
lương quan trọng của Nhà nước nhằm điều tiết quan hệ cung - cầu lao động và bảo
vệ quyền lợi của người lao động, góp phần ngăn chặn sự nghèo đói, tạo sân chơi
cạnh tranh bình đẳng cho các doanh nghiệp, đây cũng được coi là một trong những
chỉ báo quan trọng để xem xét nền kinh tế là nền kinh tế thị trường hay không.
Đối với nước ta, trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, nhận thức về tiền lương tối thiểu trong kinh tế thị trường
ngày càng rõ nét. Chính sách tiền lương ở Việt Nam nói chung và tiền lương tối thiểu
nói riêng qua 5 lần cải cách và cải tiến đã không ngừng hoàn thiện, phù hợp với mỗi
giai đoạn phát triển của đất nước, đã từng bước đổi mới theo định hướng thị trường,
góp phần thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển dựa trên nguyên tắc coi tiền lương là
yếu tố của sản xuất, là giá cả sức lao động được hình thành thông qua sự thoả thuận
giữa người lao động và người sử dụng lao động, phù hợp với quan hệ cung- cầu trên
thị trường lao động.
Tuy nhiên, trong giai đoạn quá độ chuyển đổi từ cơ chế quản lý tập trung, bao
cấp sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế nước ta ngày
càng hội nhập sâu, rộng với kinh tế quốc tế thì tiền lương tối thiểu đối với các doanh
nghiệp ở Việt Nam hiện nay cần được tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện để đáp ứng yêu
cầu thực tế, đó là:
Thứ nhất, tiền lương tối thiểu còn thấp, mới đáp ứng khoảng 70% mức sống
tối thiểu của người lao động và phân biệt theo loại hình doanh nghiệp (doanh nghiệp
dân doanh, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) tạo ra

cầu đối với tiền lương tối thiểu trong nền kinh tế thị trường, của Tổ chức lao động
quốc tế, khi Việt Nam tham gia Tổ chức Thương mại thế giới, đề tài khuyến nghị các
nội dung cơ bản hoàn thiện tiền lương tối thiểu đối với các doanh nghiệp ở Việt Nam
SV: Phạm Thị Thanh Thủy Lớp: Quản trị Nhân lực 49B
2
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Vũ Xuân Đốc
phù hợp hơn theo kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế, góp phần xây dựng
mối quan hệ lao động trong các doanh nghiệp ổn định, lành mạnh cùng phát triển,
gồm:
Với phạm vi, đối tượng, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu nêu trên, ngoài
phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm 3 chương chính như sau
Chương 1: Cơ sở lý luận về tiền lương tối thiểu đối với các doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng tiền lương tối thiểu trong các doanh nghiệp hiện nay ở
Việt Nam
Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện tiền lương tối thiểu trong
các doanh nghiệp ở Việt Nam
Trong quá trình xây dựng và hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình, em đã
nhận được sự giúp đỡ và tạo điều kiện của Ban lãnh đạo Vụ Lao động – Tiền lương,
đặc biệt là sự hướng dẫn nhiệt tình của các anh chị phòng Tiền lương. Chính sự giúp
đỡ đó đã giúp em có những số liệu cần thiết để hoàn thành chuyên đề, đồng thời nắm
bắt được những kiến thức thực tế về tiền lương tối thiểu trong các doanh nghiệp hiện
nay ở Việt Nam. Những kiến thức này sẽ là hành trang ban đầu cho quá trình công
tác, làm việc của em sau này. Vì vậy, em xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới Ban lãnh
đạo, tới toàn thể cán bộ, nhân viên của Vụ Lao động – Tiền lương, Bộ Lao động –
Thương binh và Xã hội.
Em xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến giáo viên hướng dẫn, Vũ Xuân Đốc. Nhờ
sự quan tâm và hướng dẫn tận tình của thầy mà em có thêm những kiến thức và bài
học quý báu để có thể hoàn thành luận văn của mình.
Sinh viên
Phạm Thị Thanh Thủy

.
Nhưng sức lao động chỉ tồn tại khi người lao động sống và tham gia các quan
hệ xã hội, do đó ngoài yếu tố thuần túy sinh lý, giá trị sức lao động còn có tính lịch
1
C. Mac: Lao động làm thuê và tư bản in lần thứ hai, Nxb Sự thật Hà Nội – 1976, trang 38 – 39
SV: Phạm Thị Thanh Thủy Lớp: Quản trị Nhân lực 49B
4
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Vũ Xuân Đốc
sử xã hội. Giới hạn tột cùng của giá trị sức lao động do yếu tố sinh lý quyết định – đó
là giá trị các tư liệu sinh hoạt cần thiết để người công nhân tự duy trì và tái sinh. Yếu
tố lịch sử xã hội phụ thuộc vào hoàn cảnh sống và tập quán sinh hoạt của mỗi cộng
đồng người, vào công bằng và tiến bộ xã hội đạt được trong mỗi thời kỳ ở mỗi vùng,
mỗi quốc gia; yếu tố lịch sử xã hội thường xuyên thay đổi, nhưng có thể không được
tính đến khi xác định giá trị sức lao động.
1.2. Quan niệm tiền lương tối thiểu của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO):
Năm 1919, trong hiến chương thành lập, ILO đã khuyến cáo “Bảo đảm mức
tiền lương đủ sống cho người lao động” là một trong những nội dung nhằm hoàn
thiện các điều kiện lao động, an sinh xã hội và thúc đẩy hoà bình.
Trong Công ước số 26 ngày 30/5/1928 của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO)
cho rằng: “Tiền lương tối thiểu là mức trả công lao động thấp nhất trả cho người lao
động làm các công việc đơn giản nhất đủ đảm bảo cho họ một mức sống tối thiểu với
tư cách là người chủ gia đình, phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội"
Năm 1970, tại Công ước 131 về tiền lương tối thiểu, ILO đã xác định “Bảo
đảm cho những người làm công ăn lương một sự bảo đảm xã hội cần thiết dưới dạng
mức tiền lương tối thiểu đủ sống”. Hay nói cách khác, tiền lương tối thiểu là mức
tiền lương duy trì cuộc sống ở mức tối thiểu cho người làm công ăn lương.
Năm 1976, trong tuyên bố Chương trình hành động tại hội nghị thế giới 3 bên
về việc làm, phân phối thu nhập và tiến bộ xã hội, ILO đã khuyến nghị “Bảo đảm
mức sống tối thiểu là một trong những nội dung cơ bản của chiến lược phát triển
kinh tế xã hội và chính sách tiền lương của mỗi nước”.

để chống lại xu hướng gia tăng chênh lệch bất hợp lý tiền lương giữa các loại lao
động, vi phạm nguyên tắc phân phối theo lao động.
- Là yếu tố tác động đến mức tiền công trên thị trường lao động, tạo điều kiện
cho các doanh nghiệp tính đủ chi phí đầu vào và đầu tư hợp lý giữa các vùng, ngành,
mở rộng môi trường đầu tư và hội nhập.
- Là công cụ điều tiết của Nhà nước nhằm bảo đảm xã hội đối với người lao
động làm việc trong ngành nghề, khu vực có quan hệ lao động, thiết lập những ràng
buộc kinh tế trong lĩnh vực sử dụng lao động, tăng cường trách nhiệm của các bên
trong quan hệ lao động.
1.4. Quan niệm tiền lương tối thiểu ở Việt Nam:
Ở Việt Nam, năm 1993 khi thực hiện cải cách chính sách tiền lương, mức
lương tối thiểu được quan niệm là căn cứ xây dựng hệ thống trả công lao động cho
SV: Phạm Thị Thanh Thủy Lớp: Quản trị Nhân lực 49B
6
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Vũ Xuân Đốc
các khu vực, ngành nghề; tính mức lương cho các loại lao động khác nhau; Tạo ra
lưới an toàn xã hội cho lao động trong cơ chế thị trường; Thiết lập mối quan hệ ràng
buộc kinh tế giữa người sử dụng lao động và người lao động trong thoả thuận ký kết
hợp đồng lao động (về tiền lương, tiền công).
Điều 56 Bộ Luật lao động của Việt Nam chỉ rõ: "Mức lương tối thiểu được
ấn định theo giá sinh hoạt, bảo đảm cho người lao động làm công việc giản đơn
nhất trong điều kiện lao động bình thường bù đắp sức lao động giản đơn và một
phần tích luỹ tái sản xuất mở rộng và được dùng làm căn cứ để tính các mức lương
cho các loại lao động khác. Chính phủ quyết định và công bố mức lương tối thiểu
chung, mức lương tối thiểu vùng, mức lương tối thiểu ngành cho từng thời kỳ sau khi
lấy ý kiến Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và đại diện của người sử dụng lao
động. Khi chỉ số giá sinh hoạt tăng lên làm cho tiền lương thực tế của người lao động
bị giảm sút, thì Chính phủ điều chỉnh mức lương tối thiểu để bảo đảm tiền lương
thực tế.”
Như vậy, tiền lương tối thiểu (hay mức lương tối thiểu) là số lượng tiền thấp

đây là vấn đề có tính nhận thức đã từ lâu là mối quan tâm của chính phủ và các tổ
chức quốc tế.
Trong nền kinh tế thị trường, mục tiêu xã hội của chính sách tiền lương tối
thiểu là nhằm ngăn chặn bóc lột sức lao động và chống đói nghèo. Có nghĩa là lương
tối thiểu đưa ra một sức mua vừa đủ để giúp người lao động có được mức sống cơ
bản. Lương tối thiểu còn có mục tiêu kinh tế - đó là khuyến khích người lao động và
chia sẻ các lợi ích mà tăng trưởng kinh tế mang lại. Như vậy, có thể rút ra bản chất
hay đặc trưng của tiền lương tối thiểu là:
- Tiền lương tối thiểu được xác định dựa trên sự thỏa mãn nhu cầu tối thiểu
(đủ sống) của người lao động làm công ăn lương, bao gồm nhu cầu của bản thân
người lao động và gia đình họ.
- Đó là sự đảm bảo xã hội cần thiết mà các bên (các chủ thể) trong quan hệ lao
động (nhà nước, người sử dụng lao động, người lao động và các chủ thể xã hội khác)
phải dựa vào nó để thương lượng, thỏa thuận và xử lý hài hòa mối quan hệ lợi ích
giữa các bên.
- Tiền lương tối thiểu vừa có mục tiêu về kinh tế vừa có mục tiêu xã hội. Từ
đó, việc xác định mức tiền lương tối thiểu phải tính đến các yếu tố kinh tế và yếu tố
xã hội, để đảm bảo vai trò, chức năng của tiền lương tối thiểu trong kinh tế thị
trường phát huy một cách hiệu quả nhất.
SV: Phạm Thị Thanh Thủy Lớp: Quản trị Nhân lực 49B
8
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Vũ Xuân Đốc
Xuất phát từ thực tiễn, Bộ luật Lao động Việt Nam năm 1995 đã nâng tầm
quan trọng của tiền lương tối thiểu lên đúng vị trí của nó, để chính thức luật hóa thể
hiện ở một số đặc trưng của tiền lương tối thiểu:
- Một là, tương ứng với trình độ lao động giản đơn nhất, người lao động
không cần qua đào tạo nghề cũng có thể làm được và làm việc trong điều kiện lao
động bình thường không có hại cho sức khỏe của người lao động;
- Hai là, mức lương tối thiểu phải đủ để mua những tư liệu sinh hoạt và dịch
vụ cần thiết bù đắp sức lao động giản đơn và một phần để tích lũy tái sản xuất sức

Tuy nhiên, tuỳ từng nơi, từng lúc, vai trò của tiền lương tối thiểu được thể
hiện khác nhau, nhưng có vai trò chủ yếu như sau:
- Tiền lương tối thiểu là lưới an toàn đối với người lao động. Người sử dụng
lao động không được trả công thấp hơn mức lương tối thiểu, nên loại trừ sự bóc lột
thậm tệ có thể xảy ra đối với những người làm công, ăn lương trước sức ép mức cung
quá lớn của thị trường sức lao động.
- Bảo đảm sức mua cho các mức tiền lương khác trước sự gia tăng của lạm
phát và các yếu tố kinh tế xã hội khác thông qua việc điều chỉnh tiền lương tối thiểu.
- Giảm bớt sự đói nghèo. Vì vậy việc xác định tiền lương tối thiểu được coi là
một trong những biện pháp quan trọng để tiến công trực tiếp vào đói nghèo của một
quốc gia.
- Loại bỏ sự cạnh tranh không công bằng, chống lại xu hướng giảm chi phí
các yếu tố sản xuất tới mức không thoả đáng trong đó có tiền lương. Luật tiền lương
tối thiểu buộc các chủ doanh nghiệp phải tìm mọi cách khác để giảm chi phí và tăng
hiệu quả của sản xuất kinh doanh.
- Bảo đảm sự trả công tương đương cho những công việc tương đương. Luật
tiền lương tối thiểu ở mức độ nào đó là sự điều chỉnh quan hệ về tiền lương trong các
nhóm người lao động mà ở đó tiền lương không được tính đúng mức (phụ nữ- nam
giới, tiền lương ở các vùng khác nhau, giữa các đẳng cấp, nhóm lao động khác nhau).
- Phòng ngừa sự xung đột giữa giới chủ và giới thợ làm ảnh hưởng đến sự
phát triển kinh tế, vì tiền lương tối thiểu là công cụ của nhà nước trong việc điều tiết
thu nhập giữa giới chủ và người lao động.
Tóm lại, mục tiêu có tính khái quát đặt ra của tiền lương tối thiểu là nhằm đáp
ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường trong đó phải tạo điều kiện để tự do dịch
chuyển lao động và khả năng thoả thuận của các bên có liên quan; đồng thời là lưới
an toàn chung cho lao động xã hội. Tiền lương tối thiểu là căn cứ để xác định mức
SV: Phạm Thị Thanh Thủy Lớp: Quản trị Nhân lực 49B
10
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Vũ Xuân Đốc
tiền công của các loại lao động góp phần điều tiết cung cầu lao động, phát triển thị

SV: Phạm Thị Thanh Thủy Lớp: Quản trị Nhân lực 49B
11
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Vũ Xuân Đốc
- Tiền lương tối thiểu thuộc phạm trù phân phối. Mức tiền lương tối thiểu
được quy định hợp lý có chức năng điều tiết thu nhập nhằm thực hiện quan hệ phân
phối công bằng giữa những người lao động, giữa các vùng, các ngành, nhất là đảm
bảo quan hệ cánh kéo giữa nông thôn và thành thị. Tiền lương tối thiểu được coi là
một loại chuẩn trong mối quan hệ với các chuẩn khác thuộc chính sách xã hội như
chuẩn nghèo, chuẩn trợ cấp ưu đãi người có công, trợ cấp xã hội khác
- Mức tiền lương tối thiểu quy định là căn cứ để các bên trong quan hệ lao
động thỏa thuận về tiền lương ghi trong hợp đồng lao động cá nhân và thỏa ước lao
động tập thể nên nó có chức năng xây dựng và phát triển quan hệ lao động hài hòa,
đồng thuận, tham gia phát triển cộng đồng.
II. SƠ LƯỢC VỀ TIỀN LƯƠNG TỐI THIỂU QUA CÁC THỜI KÌ.
1. Tiền lương tối thiểu trong thời chiến (1946 - 1954).
Sau ngày thành lập nước năm 1946, Chính phủ và Hồ Chủ Tịch đã quyết định
bảo lưu lương và phụ cấp của bản thân và gia đình công nhân, viên chức của chính
quyền cũ được giữ lại làm việc dưới chính quyền mới, trong đó mức lương tối thiểu là
180 đồng tương đương với giá của 72 kg gạo. Đến năm 1947 do giá gạo tăng, mức
lương đó chỉ còn ngang giá với 60 kg gạo, nên Chính phủ đã định ra chế độ phụ cấp
đắt đỏ căn cứ vào giá gạo thị trường, đồng thời định thêm chế độ phụ cấp cho vợ, con.
Năm 1948, tiếp thu những yếu tố hợp lý của chế độ tiền lương công chức của
chính quyền cũ và trước tình hình giá cả tiếp tục tăng, Chính phủ đã ban hành Sắc
lệnh số 188/SL ngày 29/5/1948 quy định chế độ tiền lương công chức theo bảng
lương 25 bậc với 5 ngạch (tá sự, cán sự, tham sự, kiểm sự, giám sự), trong đó ấn định
mức lương tối thiểu 220 đồng. Mức lương tối thiểu 220 đồng, chỉ tương đương giá
với 55 kg gạo, nên Chính phủ định thêm chế độ phụ cấp gia đình: vợ 50 đồng/tháng,
con tuỳ theo số lượng phải nuôi được hưởng thêm như sau: con thứ nhất 30
đồng/tháng; con thứ hai 40 đồng/tháng; con thứ ba 50 đồng/tháng; con thứ tư 60
đồng/tháng, đồng thời định ra chế độ phụ cấp đắt đỏ căn cứ vào giá gạo thị trường:

tối thiểu (của bản thân người lao động có tính một phần nuôi con) và quan hệ với thu
nhập của nông dân (khoảng 10,2 đồng/người/tháng), trong đó chi về ăn bằng 73%
(Thực đơn cho nhu cầu ăn phần cơ thể hấp thụ được là 2140 Kcal/24h, chất lượng
chủ yếu là gluxit); mặc bằng 27%. Trên cơ sở đó, mức lương tối thiểu năm 1955
được ấn định là 26.000 đồng/tháng, tương đương 65 kg gạo; đến cuối năm 1955 điều
chỉnh lên 27,3 đồng (giữ như cũ 26.000 đồng/tháng và cộng thêm 5%), ngang giá với
68 kg gạo; nhà ở lúc này được Nhà nước bao cấp ở mức tối thiểu; công nhân viên
chức được hưởng chế độ chữa bệnh không mất tiền và con của cán bộ công nhân
SV: Phạm Thị Thanh Thủy Lớp: Quản trị Nhân lực 49B
13
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Vũ Xuân Đốc
viên đi học cũng không mất tiền. Ngoài ra từ con thứ ba trở đi, mỗi con được phụ cấp
5 đồng/tháng tương đương với giá 12,5 kg gạo.
Mức lương tối thiểu ấn định năm 1958 bảo đảm cho người lao động và gia
đình người lao động một mức sống tối thiểu từ khi thiết kế. Nhưng mấy năm sau, giá
cả ngày một tăng, Nhà nước phải bổ sung vào tiền lương chế độ cung cấp bằng hiện
vật. Chế độ tem, phiếu bắt đầu và ngày càng mở rộng nhằm bảo đảm cho người lao
động một mức sống tối thiểu. Những cố gắng đó ngày càng tỏ ra không thành công,
lương cung cấp bằng hiện vật của nhà nước giảm dần, trong khi đó giá cả thị trường
ngày càng tăng nhanh. Đời sống người lao động gặp nhiều khó khăn, sức mua của
tiền lương giảm xuống một cách rõ rệt, chỉ bằng 10% sức mua ban đầu. Nhà nước đã
điều chỉnh nhiều lần thông qua các loại phụ cấp.
Đến đầu năm 1960 và trong những năm 1960, Nhà nước thực hiện cải tiến
chính sách tiền lương, theo hướng tổ chức lại hệ thống thang, bậc lương, quan hệ tiền
lương (lương tối đa được nâng lên gấp 9 lần so với lương tối thiểu), nhưng vẫn giữ
nguyên mức lương tối thiểu 27,30 đồng/tháng (bao gồm: chi về ăn 64,5%; mặc, nhà
ở 21,8%; chi tiêu dùng thường xuyên 13,7%). Đến năm 1981, Nhà nước tiến hành
điều chỉnh Giá - Lương - Tiền nhằm tạo điều kiện giữ vững tiền lương thực tế cho
người hưởng lương. Tính đến tháng 8/1985, Nhà nước nhiều lần tăng tiền lương
danh nghĩa thông qua các hình thức trợ cấp tạm thời, tiền thưởng, khuyến khích

lao động trong doanh nghiệp FDI. Các doanh nghiệp trong nước vẫn thực hiện theo
mức lương tối thiểu 220 đồng/tháng.
Đến năm 1993, thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung
ương Đảng (khoá VII) và Nghị quyết kỳ họp thứ 2 Quốc hội khoá IX về cải cách tiền
lương trong năm 1993 đối với công nhân, viên chức và những người hưởng lương,
chế độ tiền lương mới trong nền kinh tế thị trường lần đầu tiên được ban hành theo
Quyết định số 69/QĐ-TƯ ngày 17/5/1993 của Ban bí thư, Nghị quyết số 35/NQ-
UBTVQHK9 ngày 17/5/1993 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và các Nghị định số
25/CP, 26/CP ngày 23/5/1993 của Chính phủ. Theo đó mức lương tối thiểu đối với
cán bộ, công nhân, viên chức khu vực nhà nước và người lao động làm việc ở doanh
nghiệp trong nước được ấn định là 120.000 đồng/tháng (tháng 4/1993 thực hiện mức
110.000 đồng, tháng 12/1993 thực hiện mức 120.000 đồng). Doanh nghiệp FDI vẫn
thực hiện theo tiền lương tối thiểu 50 USD/tháng.
Xuất phát từ thực tiễn khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, Bộ luật Lao
động ra đời năm 1995 đã nâng tầm quan trọng của tiền lương tối thiểu lên đúng vị trí
SV: Phạm Thị Thanh Thủy Lớp: Quản trị Nhân lực 49B
15
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Vũ Xuân Đốc
và đã chính thức được luật hóa như sau
2
: “Mức lương tối thiểu được ấn định theo giá
sinh hoạt, bảo đảm cho người lao động làm công việc giản đơn nhất trong điều kiện
lao động bình thường bù đắp sức lao động giản đơn và một phần tích lũy tái sản
xuất sức lao động mở rộng và được dùng làm căn cứ để tính các mức lương cho các
loại lao động khác. Chính phủ quyết định và công bố mức lương tối thiểu chung,
mức lương tối thiểu vùng, mức lương tối thiểu ngành cho từng thời kỳ sau khi lấy ý
kiến Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và đại diên của người sử dụng lao động.
Khi chỉ số giá sinh hoạt tăng lên làm cho tiền lương thực tế của người lao động bị
giảm sút, thì Chính phủ điều chỉnh mức lương tối thiểu để bảo đảm tiền lương thực
tế.”

lương tối thiểu chung để tính đơn giá tiền lương và không hạn chế đối với công ty
trách nhiệm hữu hạn một thành viên 100% vốn nhà nước.
Đến tháng 01/2008, Chính phủ điều chỉnh mức lương tối thiểu chung từ
450.000 đồng lên 540.000 đồng/tháng, đồng thời quy định mức lương tối thiểu theo 3
vùng đối với doanh nghiệp trong nước là: 540.000 - 580.000 - 620.000 đồng/tháng;
điều chỉnh mức lương tối thiểu 3 vùng đối với doanh nghiệp FDI 800.000 - 900.000 -
1.000.000 đồng/tháng.
Đến tháng 01/2009, Chính phủ quy định tiền lương tối thiểu theo 4 vùng
(thống nhất về địa bàn vùng), nhưng mức tiền khác nhau: doanh nghiệp trong nước
650.000 đồng – 690.000 đồng - 740.000 đồng – 800.000 đồng/tháng; doanh nghiệp
FDI 920.000 đồng - 950.000 đồng – 1.080.000 đồng – 1.200.000 đồng/tháng, đồng
thời từ ngày 01/5/2009 điều chỉnh mức lương tối thiểu chung lên 650.000 đồng/tháng
(Tổng hợp các năm tại Phụ lục số 1 kèm theo).
Đến tháng 01/2010, Chính phủ quy định tiền lương tối thiểu theo 4 vùng:
doanh nghiệp trong nước 730.000 đồng – 810.000 đồng - 880.000 đồng – 980.000
đồng/tháng; doanh nghiệp FDI 1.000.000 đồng – 1.040.000 đồng – 1.190.000 đồng –
1.340.000 đồng/tháng, đồng thời từ ngày 01/5/2010 điều chỉnh mức lương tối thiểu
chung lên 730.000 đồng/tháng.
III. SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN ĐỂ HOÀN THIỆN TIỀN LƯƠNG TỐI
THIỂU ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP.
1. Yêu cầu chung của cải cách chính sách tiền lương.
Năm 1986 là một mốc đánh dấu Việt Nam thực hiện chuyển đổi nền kinh tế từ
kế hoạch hoá tập trung, bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận
hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN.
Đây là bước đi quan trọng, làm thay đổi sâu sắc từ nhận thức đến hành động trên mọi
lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực lao động - tiền lương. Sau 20 năm đổi mới, chính sách
SV: Phạm Thị Thanh Thủy Lớp: Quản trị Nhân lực 49B
17
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Vũ Xuân Đốc
tiền lương, tiền công liên tục được điều chỉnh, bổ sung phù hợp với sự phát triển của

SV: Phạm Thị Thanh Thủy Lớp: Quản trị Nhân lực 49B
18
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Vũ Xuân Đốc
và nước ngoài, với mục đích là tạo ra một sân chơi bình đẳng cho các doanh nghiệp.
Chính sách tiền lương nói chung và tiền lương tối thiểu nói riêng hiện nay đang quy
định phân biệt giữa doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp nước ngoài, vì vậy cần
phải điều chỉnh để bảo đảm sự cạnh tranh bình đẳng.
Ngoài những yêu cầu phải tuân theo những luật chơi chung của hội nhập, tiền
lương tối thiểu của Việt Nam phải tuân thủ các công ước của ILO. Theo nội dung
công ước 131 thì mọi nước thành viên của ILO phải luật pháp hoá hệ thống lương tối
thiểu để áp dụng cho mọi nhóm người làm công ăn lương. Hiện nay, Bộ Luật lao
động và các văn bản dưới Luật của Việt Nam về cơ bản đã thể hiện đầy đủ các nội
dung trong Công ước của ILO về vấn đề tiền lương tối thiểu. Tuy nhiên, để phù hợp
với tình hình thực tế và nâng cao vai trò, chức năng của tiền lương tối thiểu trong
việc tạo lưới an toàn xã hội, bảo đảm đủ sống, đáp ứng nhu cầu mức sống tối thiểu
của người lao động và gia đình theo mục tiêu Công ước và các khuyến nghị của ILO
thì chính sách tiền lương tối thiểu cần được tiếp tục Luật hoá ở mức cao hơn theo
hướng quy định một mức lương tối thiểu chung đối với toàn bộ khu vực có quan hệ
lao động, không phân biệt thành phần kinh tế; Mức lương tối thiểu được xác định
trên cơ sở có sự tham gia quyết định của các bên liên quan gồm Chính phủ, đại diện
người lao động và đại diện người sử dụng lao động, phải vừa bảo đảm mục tiêu kinh
tế (tăng khả năng cạnh tranh và tạo sự linh hoạt) vừa bảo đảm mục tiêu xã hội (phân
phối công bằng lợi ích kinh tế, chống bóc lột sức lao động và chống nghèo đói).
3. Quan hệ cung cầu trên thị trường lao động.
Trong những năm qua, nền kinh tế nước ta đã đạt những thành tựu rất quan
trọng, kinh tế tăng trưởng nhanh, giai đoạn 2000 – 2006 GDP bình quân tăng
7,8%/năm, năm 2007 tăng 8,47% (cao nhất trong vòng 20 năm qua), năm 2008 tuy bị
ảnh hưởng bởi suy giảm kinh tế nhưng vẫn tăng trưởng 6,2%; cơ cấu kinh tế chuyển
dịch theo hướng tích cực, vốn đầu tư phát triển liên tục duy trì ở mức cao (35 – 40%
GDP), thực hiện có hiệu quả chính sách thu hút đầu tư nước ngoài (năm 2006: 10 tỷ

đối với cung cầu về lao động. Về cầu lao động, trong những năm qua mặc dù số
lượng doanh nghiệp tăng nhanh nhưng chủ yếu vẫn là doanh nghiệp vừa, nhỏ (chiếm
trên 90%) và siêu nhỏ (dưới 10 lao động và dưới 1 tỷ đồng vốn) nên thu hút, sử dụng
lao động còn hạn chế. Các yếu tố này đang làm cho quan hệ lao động trở nên căng
thẳng, phức tạp hơn.
Để bảo vệ người lao động trong điều kiện cung lao động luôn luôn lớn hơn
cầu lao động, lao động có trình độ thấp, lao động phổ thông vẫn chiếm tỷ trọng lớn,
vai trò của các tổ chức công đoàn chưa đủ mạnh, việc thương lượng, thoả thuận tiền
SV: Phạm Thị Thanh Thủy Lớp: Quản trị Nhân lực 49B
20
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Vũ Xuân Đốc
lương chưa trở thành thông lệ dẫn đến người lao động luôn trong tình trạng yếu thế,
bị ép về tiền lương, về các quyền lợi khác đòi hỏi chính sách tiền lương nói chung và
chính sách tiền lương tối thiểu nói riêng cần được điều chỉnh cho phù hợp, đáp ứng
các yêu cầu của thực tế, xây dựng mối quan hệ lao động ổn định, lành mạnh cùng
phát triển.
4. Chính sách của Đảng và Nhà nước về tiền lương tối thiểu.
Chính sách tiền lương tối thiểu là một nội dung cơ bản của chính sách tiền
lương, vì vậy quan điểm của Đảng về chính sách tiền lương tối thiểu không tách rời
chính sách tiền lương nói chung, cụ thể:
- Đề án cải cách chính sách tiền lương năm 1993 được Trung ương đảng,
Quốc hội thông qua đã khẳng định: Tiền lương là giá cả sức lao động được hình
thành trên cơ sở thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động phù hợp
với quan hệ trong nền kinh tế thị trường. Tiền lương phải bảo đảm tái sản xuất sức
lao động cho người lao động.
- Hội nghị lần thứ 7, Ban chấp hành Trung ương khoá VIII “Tiền lương phải
quán triệt quan điểm tiền lương gắn liền với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước,
trả lương đúng cho người lao động chính là thực hiện đầu tư cho phát triển; góp
phần quan trọng làm lành mạnh, trong sạch đội ngũ cán bộ, nâng cao tinh thần trách
nhiệm và hiệu suất công tác. Bảo đảm giá trị thực của tiền lương và từng bước cải

tiền lương, tiền lương tối thiểu, nhất là việc thiết lập cơ chế xác định tiền lương tối
thiểu theo nguyên tắc thị trường, xác định tiền lương tối thiểu bảo đảm đủ sống và
quy định tiền lương tối thiểu thống nhất (không phân biệt đối xử) giữa các loại hình
doanh nghiệp.
IV. PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH VÀ ĐIỀU CHỈNH TLTT.
1. Tiêu chí xác định tiền lương tối thiểu.
Việc đưa ra tiêu chí xác định tiền lương tối thiểu đến nay vẫn còn nhiều ý kiến
khác nhau, nhưng nhìn chung đều dựa vào 2 nhóm tiêu chí chủ yếu là tiêu chí mang
tính xã hội - nhu cầu cơ bản của con người và tiêu chí kinh tế.
Khuyến nghị số 135 của ILO về xác định mức lương tối thiểu đưa ra các tiêu
chí và giải thích Điều 3 của Công ước 131 về Xác định lương tối thiểu với một số
chú ý đặc biệt về các nước đang phát triển. Các tiêu chí đó là:
(1) Hệ thống nhu cầu của người lao động và gia đình họ
(2) Mức tiền lương chung đạt được
(3) Chi phí sinh hoạt và sự biến động của giá cả sinh hoạt
SV: Phạm Thị Thanh Thủy Lớp: Quản trị Nhân lực 49B
22
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Vũ Xuân Đốc
(4) Các khoản phúc lợi xã hội
(5) Tương quan mức sống giữa các nhóm dân cư
(6) Các yếu tố kinh tế (bao gồm: mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, năng suất
lao động, tổng mức việc làm và khả năng chi trả của các doanh nghiệp).
Theo thống kê của ILO, tiêu chí thường đựơc sử dụng nhất ở các nước trên thế
giới là tỉ lệ lạm phát/chi phí sinh hoạt, sau đó là điều kiện kinh tế và mức lương; tiếp
đến là nhu cầu của người lao động, năng suất và tỉ lệ có việc làm; cuối cùng là khả
năng chi trả của doanh nghiệp và trợ cấp xã hội. Tiêu chí nhu cầu của người lao động
và gia đình chỉ đứng hàng thứ 4 và năng lực chi trả của doanh nghiệp đứng cuối
cùng. Tuy nhiên hai tiêu chí này rất quan trọng khi xác định tiền lương tối thiểu
nhằm bảo vệ mức sống của người lao động và hiệu quả sản xuất kinh doanh, năng
lực chi trả của doanh nghiệp.

Đây là phương pháp rất cơ bản và đang được áp dụng khá phổ biến ở nhiều
nước trên thế giới. Bản chất của phương pháp này là xác định nhu cầu cơ bản, tối
thiểu, đủ sống của người lao động và gia đình thông qua định lượng và giá trị “rổ
hàng hóa” lương thực thực phẩm và phi lương thực thực phẩm theo giá hiện hành.
Nhu cầu này ở các nước khác nhau là khác nhau, phụ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã
hội, văn hóa, phong tục tập quán của mỗi nước. Đồng thời trong một nước nhu cầu
này cũng khác nhau tùy thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội của nước đó
qua các thời kỳ. Nhưng xu hướng chung nhu cầu cơ bản, tối thiểu, đủ sống của người
lao động ngày một tăng và đa dạng, phong phú, có chất lượng hơn. Nội dung và trình
tự của phương pháp như sau:
- Xác định nhu cầu lương thực, thực phẩm cho một lao động:
Nhu cầu lương thực, thực phẩm cho một lao động làm công việc giản đơn,
trong điều kiện lao động bình thường được tính trên cơ sở lượng Calory cần thiết
cung cấp cho họ trong một ngày. Nhu cầu này đối với người lao động ở các nước là
rất khác nhau (ví dụ, ở Indonesia là 3000Kcal/ngày/người, các nước phương tây và
Châu Âu trên 3500Kcal/ngày/người ). Theo kiến nghị của Viện dinh dưỡng Việt
Nam, hiện nay mức nhu cầu dinh dưỡng tối thiểu cho một lao động làm công việc
nhẹ nhàng khoảng từ 2200 - 2300 Kcal/ngày/người. Nhu cầu dinh dưỡng
2300Kcal/ngày/người dùng để tính ra số lượng và cơ cấu “rổ hàng hóa” lương thực,
thực phẩm cần thiết trong cơ cấu tiền lương tối thiểu chung.
SV: Phạm Thị Thanh Thủy Lớp: Quản trị Nhân lực 49B
24
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Vũ Xuân Đốc
- Xác định chi phí cho rổ hàng hóa lương thực, thực phẩm thỏa mãn nhu cầu
cung cấp năng lượng được chọn để đưa vào cơ cấu lương tối thiểu cho người lao động.
Nhu cầu về lương thực, thực phẩm trong “rổ hàng hóa” được xác định trên cơ
sở định lượng các mặt hàng lương thực thực phẩm theo một cơ cấu hợp lý trong khẩu
phần ăn của người lao động trong một ngày, bao gồm lipit, protit và gluxit. Quan hệ
giữa 3 nhóm này có sự khác nhau giữa các nước, thông thường tỷ lệ đó là 50% gluxit
- 30% protit - 20% lipit. Khi xác định được định lượng rổ hàng hóa lương thực thực

cầu tối thiểu của một lao động.
SV: Phạm Thị Thanh Thủy Lớp: Quản trị Nhân lực 49B
25

Trích đoạn Các nguyên tắc điều chỉnh tiền lương tối thiểu Thu nhập bình quân thực tế của người lao động
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status