MỤC LỤC Trang
I. TÓM TẮT ĐỀ TÀI 03
II. GIỚI THIỆU 04
1. Thực trạng 04
2. Vai trò, tác dụng của trò chơi dân gian trong việc phát triển ngôn ngữ cho
trẻ
05
3. Vấn đề nghiên cứu 06
4. Dữ liệu sẽ được thu thập 06
5.Giả thuyết nghiên cứu 06
III.PHƯƠNGPHÁP 07
1. Khách thể nghiên cứu 07
2. Thiết kế nghiên cứu 07
3. Quy trình nghiên cứu 08
4. Đo lường và thu thập dữ liệu 08
IV.PHÂN TÍCH DỮ LIỆU & BÀN LUẬN KẾT QUẢ 09
1. Phân tích dữ liệu 09
2. Bàn luận kết quả 09
V. KẾT LUẬN & KIẾN NGHỊ 10
1. Kết luận 10
2. Kiến nghị 10
VI. TÀI LIỆU THAM KHẢO 11
VII. CÁC PHỤ LỤC CỦA ĐỀ TÀI 12
PHỤ LỤC I: Phiếu quan sát đánh giá mức độ hứng thú và phát triển ngôn ngữ của
trẻ ( Đối với lớp thực nghiệm trước khi tác động)
12
PHỤ LỤC II: Phiếu quan sát đánh giá mức độ hứng thú và phát triển ngôn ngữ của
trẻ ( Đối với lớp đối chứng trước khi tác động)
14
PHỤ LỤC III: Giáo án TCDG: “Trồng đậu-trồng cà, lộn cầu vồng” 16
PHỤ LỤC IV: Giáo án TCDG: “Rồng rắn lên mây” 18
nghĩa của người muốn nói gì từ đó giúp trẻ tích cực hoạt động giao tiếp với
mọi người. Trong công tác giáo dục mầm non, ngôn ngữ có vai trò rất lớn
trong việc phát triển trí tuệ cho trẻ. Trước hết ngôn ngữ là phương tiện để
giúp trẻ nhận thức thế giới xung quanh, bởi vì sự phát triển trí tuệ của trẻ
chỉ diễn ra khi các cháu lĩnh hội các tri thức về sự vật và hiện tượng xung
quanh. Song sự lĩnh hội các tri thức đó lại không thể thực hiện được khi
không có ngôn ngữ. Ngôn ngữ đã góp phần đào tạo các cháu trở thành
những con người phát triển toàn diện. Vì vậy việc phát triển ngôn ngữ cho
trẻ đúng lúc và kịp thời là nhiệm vụ nặng nề của giáo dục - nếu lơ là công
tác này tức là đã bỏ qua một cơ hội tốt để phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
Muốn phát triển kỹ năng nghe, hiểu và nói được ngôn ngữ cho trẻ đòi
hỏi người giáo viên mầm non dạy trẻ thông qua các hoạt động khác nhau,
bằng nhiều phương pháp và phương tiện khác nhau. Trong đó hoạt động trò
chơi dân gian là một nhu cầu không thể thiếu được đối với trẻ cũng giống
như nhu cầu cơm ăn nước uống hàng ngày của trẻ. Trò chơi dân gian không
đơn thuần là một trò chơi của trẻ con mà nó chứa đựng cả một nền văn hóa
dân tộc Việt Nam độc đáo và giàu bản sắc. Trò chơi dân gian không chỉ nâng
cánh cho tâm hồn trẻ, giúp trẻ phát triển khả năng tư duy, sáng tạo, sự khéo
léo mà còn giúp các em hiểu về tình bạn, tình yêu gia đình, quê hương, đất
nước. Tuy nhiên trong thực tế hiện nay ở trường mầm non tổ chức TCDG
chưa có hiệu quả do nhiều nguyên nhân: Giáo viên chưa quan tâm nhiều đến
việc sử dụng các biện pháp hướng dẫn TCDG cho trẻ và chưa duy trì hứng
thú cho trẻ, do đặc thù trường mầm non Hoàng Oanh đa số các cháu là
người dân tộc thiểu số, phụ huynh học sinh chưa quan tâm nhiều đến việc
phát triển ngôn ngữ cho trẻ, môi trường giao tiếp hạn hẹp, ít chú ý đến việc
rèn luyện kỹ năng phát âm trong quá trình chơi, việc tổ chức cho trẻ chơi trò
chơi dân gian chỉ là hình thức. Chưa thực sự dựa trên sự hứng thú của trẻ,
chưa kích thích được tính tích cực hoạt động trí tuệ của trẻ chỉ chú trọng
vào phát triển thể chất là chính. Chính vì vậy mà ngôn ngữ của trẻ còn nhiều
hạn chế. Thiết nghĩ nếu cứ sử dụng phương pháp dạy và học như thế này sẽ
giáo viên chưa có kinh nghiệm trong tổ chức các hoạt động phát triển ngôn
ngữ cho trẻ, giáo viên thường sử dụng các phương pháp khi phát triển ngôn
ngữ cho trẻ với các hình thức dạy như: dạy chay, cô nói trước trẻ nói sau sẽ
khiến trẻ thụ động, đồng thời trẻ sẽ mau quên.
Với thực trạng trên, là một giáo viên mầm non tôi luôn trăn trở mình
phải làm thế nào và lựa chọn phương pháp, hình thức nào để việc phát triển
ngôn ngữ cho trẻ đạt hiệu quả cao nhất đồng thời làm tăng hứng thú của trẻ khi
tham gia hoạt động.
Chính vì điều băn khoăn, trăn trở ấy tôi đã tìm tòi, nghiên cứu và tìm ra
biện pháp “Vận dụng trò chơi dân gian trong việc phát triển ngôn ngữ cho
trẻ”, cũng chính phương pháp này đã làm tăng hứng thú của trẻ, đồng thời phát
4
triển ngôn ngữ cho trẻ một cách nhẹ nhàng, không bị gò bó. Từ đó kết quả
trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ mang lại rất cao.
2. Vai trò, tác dụng của trò chơi dân gian trong việc phát triển ngôn
ngữ cho trẻ:
MACXIM GOOKI đã viết: “Vui chơi là con đường để trẻ nhận thức thế
giới, trong đó trẻ em có nhiệm vụ sống và cải tạo nó” và trong đó có trò chơi
dân gian-không đơn thuần là một trò chơi của trẻ con mà nó chứa đựng cả một
nền văn hóa dân tộc Việt Nam độc đáo và giàu bản sắc. Trò chơi dân gian
không chỉ nâng cánh cho tâm hồn trẻ, giúp trẻ phát triển khả năng tư duy, sáng
tạo, sự khéo léo mà ngôn ngữ - thành tựu lớn nhất của con người - là một hệ
thống tín hiệu đặc biệt. Nó là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của các
thành viên trong xã hội loài người, nhờ có ngôn ngữ con người có thể trao đổi
cho nhau những hiểu biết, truyền cho nhau những kinh nghiệm, bày tỏ với
nhau những nguyện vọng, ý muốn và cùng nhau thực hiện những dự định
tương lai.
Ngay từ những năm tháng đầu tiên của cuộc đời, ngôn ngữ phát triển rất
mạnh mẽ, tạo ra những điều kiện cơ hội để trẻ lĩnh hội những kinh nghiệm lịch
sử - xã hội của nền văn hoá loài người. Nó giúp trẻ tích luỹ kiến thức, phát
đó trẻ học được nhiều ”từ” từ bạn. Trẻ được giao lưu và thể hiện được hành
động chơi thông qua bài đồng dao.
3. Vấn đề nghiên cứu:
Việc sử dụng trò chơi dân gian vào việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ có
làm tăng hứng thú và phát triển vốn từ cho trẻ sở tại lớp Chồi 1 trường Mầm
Non Hoàng Oanh không?
4. Dữ liệu sẽ được thu thập :
Kết quả qua các phiếu đánh gía về mức độ hứng thú và phát triển ngôn
ngữ của trẻ
5. Giả thiết nghiên cứu:
Có, việc sử dụng trò chơi dân gian vào phát triển ngôn ngữ cho trẻ có
làm tăng hứng thú và phát triển ngôn ngữ cho trẻ lớp Chồi 1 trường MN Hoàng
Oanh.
III. PHƯƠNG PHÁP :
1. Khách thể nghiên cứu :
Tôi lựa chọn hai lớp Chồi 1 và Chồi 2 để thực hiện nghiên cứu vì đó là
hai lớp có sự tương đồng về dân tộc, giới tính, khả năng giao tiếp và sĩ số lớp.
Những yếu tố đó sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu khoa học sư
phạm ứng dụng của tôi.
Tôi chọn lớp Chồi 2 làm lớp đối chứng, lớp Chồi 1 làm lớp thực nghiệm.
Các cháu hai lớp này có vốn từ là tương đương nhau.
Số trẻ sở tại ở các nhóm lớp
Tổng số Nam Nữ
Lớp Chồi 1 17 09 08
Lớp Chồi 2 17 10 07
2. Thiết kế nghiên cứu :
6
Chọn tất cả trẻ sở tại của 2 lớp Chồi 1 và Chồi 2 để thực hiện nghiên
cứu. Lớp Chồi 2 là lớp được chọn làm nhóm đối chứng, lớp Chồi 1 là lớp được
chọn làm nhóm thực nghiệm. Tôi sử dụng phiếu đánh giá về mức độ hứng thú
- Chuẩn bị bài của giáo viên : Để có sự so sánh một cách khách quan tôi
đã liên kết với cô Nguyễn Mai Bích Trân là giáo viên trực tiếp giảng dạy lớp
đối chứng. Khi tổ chức các hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ cô không áp
dụng trò chơi dân gian vào việc tăng cường vốn từ cho trẻ mà hình thức tổ
chức của cô vẫn theo phương pháp cũ: Giáo viên cho trẻ chơi một cách tự phát,
trẻ chỉ hành động chơi mà giáo viên không tập cho trẻ đọc thuộc bài đồng dao.
- Đối với lớp thực nghiệm: Tôi tổ chức các hoạt động phát triển ngôn
ngữ cho trẻ với hình thức trò chơi dân gian.
- Tiến hành thực hiện : Thời gian tôi tiến hành dạy thực nghiệm bắt đầu
từ chủ điểm "thế giới thực vật"
Chủ điểm Hoạt động/lớp Tên bài dạy
7
Thế giới thực
vật
30/12/2013-
24/01/2014)
Phát triển ngôn ngữ thông qua trò
chơi dân gian được tổ chức ở hoạt
động mọi lúc, mọi nơi.
( Lớp Chồi 1)
Bé yêu thích đồng dao
(Trồng đậu, trồng cà-
Lộn cầu vồng)
Thế giới động
vật
(10/02-
7/03/2014)
Phát triển ngôn ngữ thông qua trò
chơi dân gian được tổ chức ở hoạt
động ngoài trời
trung bình bằng phép kiểm chứng t-test đã cho ta kết quả p = 0,0008 (mà p <=
0,05 là có nghĩa). Như vậy sự chênh lệch là có ý nghĩa giữa hai nhóm thực
nghiệm và đối chứng. Điều này đã chứng tỏ rằng việc tác động bằng cách sử
dụng trò chơi dân gian vào việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ là có ý nghĩa. Hay
nói cách khác điểm trung bình của nhóm thực nghiệm lớn hơn nhóm đối chứng
sau khi tác động không phải là ngẫu nhiên mà đó chính là kết quả của cả quá
trình tác động.
Chênh lệch giá trị trung bình chuẩn (SMD) = 7.5- 6.3 = 1.2
1.0
Biểu đồ so sánh điểm trung bình trước tác động và sau tác động của
nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng.
Theo bảng tiêu chí Cohen, chênh lệch giá trị trung bình chuẩn (SMD) =
1.2 cho thấy mức độ ảnh hưởng của việc áp dụng trò chơi dân gian để phát
triển ngôn ngữ cho trẻ là có ảnh hưởng và kết quả mà nó mang lại là rất lớn.
Như vậy giả thiết của đề tài là việc vận dụng trò chơi dân gian để phát triển
ngôn ngữ cho trẻ có làm tăng hứng thú và phát triển vốn từ cho trẻ sở tại lớp
Chồi 1 trường Mầm Non Hoàng Oanh hay không? Giờ đây đã được kiểm
chứng trong thực tế và cho thấy rằng việc vận dụng trò chơi dân gian để phát
triển ngôn ngữ cho trẻ là biện pháp đạt hiệu quả cao, có tác động tích cực đến
ngôn ngữ của trẻ người sở tại lớp Chồi 1 trường Mầm Non Hoàng Oanh đồng
thời cũng làm tăng sự hứng thú của trẻ khi tham gia vào hoạt động mà mức độ
ảnh hưởng của nó là rất lớn.
V. KẾT LUẬN & KIẾN NGHỊ :
9
1. Kết luận :
Với đề tài: “Phát triển ngôn ngữ cho trẻ sở tại lớp Chồi 1 trường Mầm
Non Hoàng Oanh thông qua trò chơi dân gian” tôi đã tập trung nghiên cứu
những vấn đề sau :
+ Tìm hiểu điểm khái quát nhất về lí luận phát triển ngôn ngữ cho các
cháu sở tại lớp Chồi 1 Trường Mầm Non Hoàng Oanh, những điểm chủ yếu
1. Một số trò chơi dân gian cho trẻ mầm non
2. Sách hướng dẫn tổ chức các trò chơi dân gian cho trẻ ở trường mầm
non.
3. Quyển tuyển tập trò chơi dân gian phát triển ngôn ngữ cho trẻ lứa tuối
mầm non.
4. Internet.
VII. CÁC PHỤ LỤC CỦA ĐỀ TÀI:
PHỤ LỤC I
PHIẾU QUAN SÁT
ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ HỨNG THÚ VÀ PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ
CỦA TRẺ THÔNG QUA TRÒ CHƠI DÂN GIAN
( Đối với lớp thực nghiệm trước khi tác động )
Thang xếp hạng để đo hành vi trẻ sở tại tham gia hoạt động phát triển
ngôn ngữ qua trò chơi dân gian:
STT
Câu hỏi
Rất
thường
xuyên
Thường
xuyên
Đôi
khi
Hiếm
khi
Không
bao giờ
11
1 Tần suất trẻ đọc thuộc bài đồng dao
và chơi trò chơi dân gian ?
* Ghi chú:
1/ Mỗi câu hỏi tương ứng với điểm số (từ 0 đến 02đ), thang điểm là 10;
5 câu hỏi mỗi câu tối đa đạt 2 điểm.
2/Thang xếp hạng:
Rất thường xuyên ( 2đ)
Thường xuyên (1.5đ)
Đôi khi ( 1đ)
Hiếm khi ( 0.5đ)
Không bao giờ ( 0đ)
3/ Bảng kiểm quan sát:
“ Có” ( 2đ)
“ Không” (1đ)
4/ Thang đo thái độ :
Rất đồng ý ( 2đ)
Đồng ý (1.5đ)
Bình thường ( 1đ)
12
Không đồng ý ( 0.5đ)
Rất không đồng ý ( 0đ)
PHỤ LỤC II
PHIẾU QUAN SÁT
ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ HỨNG THÚ VÀ PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ
CỦA TRẺ THÔNG QUA TRÒ CHƠI DÂN GIAN
( Đối với lớp đối chứng trước khi tác động )
Thang xếp hạng để đo hành vi trẻ sở tại tham gia hoạt động phát triển
ngôn ngữ qua trò chơi dân gian:
STT
Câu hỏi
Rất
thường
Không
đồng ý
Rất
không
đồng ý
3 Trẻ hứng thú khi tham gia trò chơi dân
gian
4 Trẻ tự tin khi đọc bài đồng dao và kết
hợp chơi trò chơi dân gian
5 Trẻ có khả năng tập trung khi học bài
đồng dao và chơi trò chơi dân gian
* Ghi chú:
1/ Mỗi câu hỏi tương ứng với điểm số (từ 0 đến 02đ), thang điểm là 10;
5 câu hỏi mỗi câu tối đa đạt 2 điểm.
2/Thang xếp hạng:
Rất thường xuyên ( 2đ)
Thường xuyên (1.5đ)
Đôi khi ( 1đ)
Hiếm khi ( 0.5đ)
Không bao giờ ( 0đ)
3/ Bảng kiểm quan sát:
“ Có” ( 2đ)
“ Không” (1đ)
4/ Thang đo thái độ :
Rất đồng ý ( 2đ)
Đồng ý (1.5đ)
Bình thường ( 1đ)
14
Không đồng ý ( 0.5đ)
co lại hết, lại bắt đầu từ đầu.
- Với những trẻ chậm hơn cô có thể chú ý động viên trẻ chơi nhiều
lần không chỉ trong một lúc mà trong nhiều lúc, nhiều ngày để trẻ
có thể vừa đọc vừa chơi cùng cô và các bạn.
2. Trò chơi: “ Lộn cầu vồng”
- Trong giờ hoạt động chiều cô có thể dạy cho trẻ chơi, trước tiên
cô cũng cho trẻ đọc theo cô các lời:
“ Lộn cầu vồng
Nước sông nước chảy
Có cô mười bảy
Có chị mười ba
Hai chị em ta
Cùng lộn cầu vồng”
- Sau đó cô cho trẻ bắt cặp với nhau, cùng cầm tay đưa qua đưa lại,
16
khi đến câu: ‘ Cùng lộn cầu vồng” thì 2 trẻ sẽ lộn ngược lại, quay
lưng vào nhau và chơi tiếp cùng đồng thời đọc lại bài đồng dao.
- Ngoài ra cô cũng có thể cho trẻ ra ngòai trời chơi, tổ chức cho trẻ
chơi với nhiều hình thức.
- Với những trẻ nhút nhát, nói tiếng việt chưa rõ, cô cùng cầm tay
chơi với trẻ và đọc to lời đồng dao, khuyến khích trẻ đọc theo cô,
ngoài ra cô cũng có thể chọn bạn chơi giỏi, đọc to, rõ ràng cầm tay
cùng chơi và cùng đọc với bạn.
PHỤ LỤC IV
TRÒ CHƠI DÂN GIAN
RỒNG RẮN LÊN MÂY
(Chủ điểm: Thế giới động vật )
I. Mục đích:
- Trẻ đọc thuộc các câu thơ theo đúng vần, đúng nhịp
- Thực hiện được các động tác phù hợp với lời đồng dao. Phát triển ngôn ngữ
- Rồng rắn đi lấy thuốc để chữa bệnh cho con.
- Con lên mấy ?
- Con lên một
- Thuốc chẳng hay
- Con lên hai.
- Thuốc chẳng hay
Cứ thế cho đến khi:
- Con lên mười.
18
- Thuốc hay vậy.
Kế đó, thì thầy thuốc đòi hỏi:
+ Xin khúc đầu.
- Những xương cùng xẩu.
+ Xin khúc giữa.
- Những máu cùng me.
+ Xin khúc đuôi.
- Tha hồ mà đuổi.
Lúc đó thầy thuốc phải tìm cách làm sao mà bắt cho được người
cuối cùng trong hàng.
- Ngược lại thì người đứng đầu phải dang tay chạy, cố ngăn cản
không cho người thầy thuốc bắt được cái đuôi của mình, trong
lúc đó cái đuôi phải chạy và tìm cách né tránh thầy thuốc. Nếu
thầy thuốc bắt được người cuối cùng thì người đó phải ra thay
làm thầy thuốc.
- Nếu đang chơi dằng co giữa chừng, mà rồng rắn bị đứt ngang
thì tạm ngừng để nối lại và tiếp tục trò chơi.
- Với những trẻ chậm hơn cô có thể chú ý động viên trẻ chơi
nhiều lần không chỉ trong một lúc mà trong nhiều lúc, nhiều ngày
để trẻ có thể vừa đọc vừa chơi cùng cô và các bạn.
- Cô tổ chức cho trẻ chơi
Tha tội / đàn ông
Cơm trắng / gạo
trắng
Gạo thuyền như
nước
Ðổ mắm / đổ muối
Ðổ chuối / hạt tiêu
Ðổ niêu / nước chè
Ðổ phải nhà nào
Nhà ấy chịu
- Khia đọc đến từ "chịu" thì trúng em nào thì em ấy xuống
sông làm "đỉa". Trẻ đứa chạy đầu này, đứa băng qua sông góc
nọ. Trẻ làm "Ðỉa" rượt để bắt. Các trẻ lại hát bài hát ghẹo
Sang sông / về sông / trồng cây / ăn quả / nhả hạt. "Ðỉa" rượt
bên này thì bên kia xuống sông. "Ðỉa" quay lại bên kia thì lũ
bên nọ lại réo lên: "ăn quả / nhả hạt" rồi ào xuống. Chẳng may
ai bị "đỉa" vớ phải thì trở thành "đỉa"
- Sau đó cô cho trẻ chơi
- Ngoài ra cô cũng có thể cho trẻ ra ngòai trời chơi, tổ chức cho
trẻ chơi với nhiều hình thức.
- Với những trẻ nhút nhát, khuyến khích trẻ đọc theo cô, ngoài
ra cô cũng có thể chọn các bạn chơi giỏi, đọc to, rõ ràng cùng
chơi và cùng đọc với bạn
- Kết thúc nhận xét tuyên dương trẻ
21
PHỤ LỤC VI
PHIẾU QUAN SÁT
ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ HỨNG THÚ VÀ PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ
CỦA TRẺ THÔNG QUA TRÒ CHƠI DÂN GIAN
( Đối với lớp thực nghiệm sau khi tác động )
Rất
đồng ý
Đồng
ý
Bình
thường
Không
đồng ý
Rất
không
đồng ý
3 Trẻ hứng thú khi tham gia trò chơi dân
gian
4 Trẻ tự tin khi đọc bài đồng dao và kết
hợp chơi trò chơi dân gian
5 Trẻ có khả năng tập trung khi học bài
đồng dao và chơi trò chơi dân gian
* Ghi chú:
1/ Mỗi câu hỏi tương ứng với điểm số (từ 0 đến 02đ), thang điểm là 10;
5 câu hỏi mỗi câu tối đa đạt 2 điểm.
2/Thang xếp hạng:
Rất thường xuyên ( 2đ)
Thường xuyên (1.5đ)
Đôi khi ( 1đ)
Hiếm khi ( 0.5đ)
Không bao giờ ( 0đ)
3/ Bảng kiểm quan sát:
“ Có” ( 2đ)
“ Không” (1đ)
Bảng kiểm quan sát để đo hành vi trẻ sở tại tham gia hoạt động phát triển
ngôn ngữ:
STT
Câu hỏi Có Không
2 Trẻ có đọc to rõ lời, thuộc lưu loát và thực hiện hành động
một cách phù hợp hay không?
Thang đo thái độ đối tượng trẻ sở tại tham gia trò chơi dân gian phát
triển ngôn ngữ:
STT
Mệnh đề
Rất
đồng ý
Đồng
ý
Bình
thường
Không
đồng ý
Rất
không
đồng ý
3 Trẻ hứng thú khi tham gia trò chơi dân
gian
4 Trẻ tự tin khi đọc bài đồng dao và kết
hợp chơi trò chơi dân gian
5 Trẻ có khả năng tập trung khi học bài
đồng dao và chơi trò chơi dân gian