Tuyển tập các đề thi học sinh giỏi môn ngữ văn lớp 11 (kèm đáp án chi tiết)
Đề số 1:
SỞ GD&ĐT VĨNH PHÚC
ĐỀ ĐỀ XUẤT
KỲ THI CHỌN HSG LỚP 11 THPT NĂM HỌC
2014-2015
ĐỀ THI MÔN: NGỮ VĂN
(Dành cho học sinh THPT không chuyên)
Thời gian làm bài: 180 phút, không kể thời gian phát
đề
Câu 1 (3,0 điểm).
Trong thư gửi thầy hiệu trưởng của con trai mình, Tổng thống Mĩ A.Lin – côn
viết:
“ Xin dạy cho cháu biết đến thế giới kì diệu của sách, nhưng cũng để cho
cháu đủ thời gian để lặng lẽ suy tư về sự bí ẩn muôn thuở của cuộc sống: đàn chim
tung cánh trên bầu trời, đàn ong bay lượn trong nắng, và những bông hoa nở ngát
trên đồi xanh…”
(Ngữ văn 10, tập 2, NXBGD, 2006)
Suy nghĩ của anh (chị) về đoạn thư trên.
Câu 2 (7,0 điểm).
Đặc điểm nổi bật của tập thơ Nhật kí trong tù của Hồ Chí Minh: Mọi hình
tượng trong tác phẩm thường luôn vận động, hướng về sự sống, ánh sáng và tương
lai.
Hết
Thí sinh không được sử dụng tài liệu. Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm.
Họ và tên thí sinh……… …….…….….….; Số báo danh……………………
Tuyển tập 15 các đề thi học sinh giỏi môn ngữ văn lớp 11 (kèm đáp án chi tiết)
SỞ GD&ĐT VĨNH
PHÚC
KỲ THI CHỌN HSG LỚP 11 THPT NĂM HỌC 2014-
2015
không kém, bởi đó là “sự bí ẩn muôn thuở” mà con người luôn cần khám phá, hiểu
biết. Nó cần thiết và bổ ích cho con người, có tác động tích cực trong việc vun đắp
bồi dưỡng tâm hồn, khơi dậy tình yêu cuộc sống.
2
(Đáp án có 04 trang)
Tuyển tập 15 các đề thi học sinh giỏi môn ngữ văn lớp 11 (kèm đáp án chi tiết)
+ Vai trò của người thầy trong việc khơi dậy tinh thần tự học, lòng ham hiểu
biết khám phá, chiêm nghiệm và “ lặng lẽ suy tư” trước mọi vấn đề của đời sống của
học sinh. Đó là điều quan trọng để học sinh có thói quen quan tâm đến mọi điều trong
đời sống.
- Phê phán quan điểm phiến diện: hoặc chỉ thấy vai trò của kiến thức sách vở,
hoặc chỉ quan tâm đến thực tiễn.
3. Bài học nhận thức và hành động:
- Biết học trong sách vở nhưng cũng cần biết học ở cuộc sống, quan tâm đến
đời sống xã hội. Đó là chìa khóa dẫn đến thành công của mỗi con người.
- Biết yêu cuộc sống, nhận ra vẻ đẹp từ những điều bình dị nhất của vạn vật
quanh ta. Học kiến thức song song với rèn luyện đạo đức, bồi dưỡng tâm hồn. Đó là
sự phát triển toàn diện nhân cách của con người.
III. Biểu điểm:
- Điểm 3,0: Đáp ứng được các yêu cầu nêu trên; Văn viết có cảm xúc. Dẫn chứng
chọn lọc và thuyết phục.
- Điểm 2,0: Cơ bản đáp ứng được các yêu cầu nêu trên. Dẫn chứng chưa thật phong
phú. Có thể còn một vài sai sót nhỏ.
- Điểm 1,0: Chưa hiểu chắc yêu cầu của đề bài. Kiến thức sơ sài. Còn mắc nhiều lỗi.
- Điểm 0: Không hiểu đề, sai lạc phương pháp.
Câu 2 (7,0 điểm)
I. Yêu cầu về kĩ năng
Hiểu đề, biết cách làm bài văn nghị luận văn học. Biết phân tích dẫn chứng để
làm sáng tỏ vấn đề. Bố cục rõ ràng, lập luận chặt chẽ. Hành văn trôi chảy. Văn viết có
cảm xúc. Không mắc các lỗi diễn đạt, dùng từ, ngữ pháp, chính tả.
người chiến sĩ – thi sĩ Hồ Chí Minh. Vì vậy mọi suy nghĩ, tư tưởng, tình cảm của Người
đều hướng ra bên ngoài song sắt nhà tù: Thân thể ở trong lao/Tinh thần ở ngoài lao.
- Hướng về tổ quốc, bộc lộ tấm lòng yêu nước, khát khao tự do, khát khao chiến
đấu, cách mạng. (Không ngủ được, Tiếc ngày giờ…)
- Hướng về ánh sáng, niềm vui của một nghệ sĩ tài hoa (Ngắm trăng, Chiều tối,
Giải đi sớm )
- Hướng từ sự sống lầm than trong nhà tù, của nhân dân Trung Quốc đến với
tương lai, hi vọng vào cuộc sống cách mạng: Cháu bé trong nhà lao Tân Dương; Đánh
bạc; Lai tân…)
Tóm lại: Hình tượng thơ trong “Nhật ký trong tù” không tĩnh tại mà luôn luôn vận động,
hướng về sự sống, ánh sáng và tương lai. Đó chính là “tinh thần thời đại” mà Hồ Chí
Minh thổi vào tập thơ.
3. Lý giải sự vận động của hình tượng thơ:
- Sự vận động của các hình tượng thơ hướng về sự sống, ánh sáng và tương lai là
hệ quả tất yếu của hoàn cảnh khách quan:
+ Những năm 1942 – 1943, Bác bị giam cầm và đầy đọa dã man trong nhà tù
Tưởng Giới Thạch.
+ Suốt 13 tháng lao tù, chờ đợi ngày tự do, Người làm thơ như một hoạt động giải
trí đồng thời để tỏ chí và trang trải nỗi lòng.
4
Tuyển tập 15 các đề thi học sinh giỏi môn ngữ văn lớp 11 (kèm đáp án chi tiết)
- Sự vận động của các hình tượng thơ còn là dụng ý của nhà thơ, bắt nguồn từ
nguyên nhân chủ quan:
+ “Nhật ký trong tù” chính là cuộc vượt ngục tinh thần của Hồ Chí Minh, vượt
lên trên cảnh tăm tối, đau khổ của nhà tù mà hướng đến lý tưởng cách mạng.
+ Một tâm hồn yêu nước thiết tha, khao khát tự do, nhạy cảm trước cái đẹp,
thương yêu con người vô hạn như Người luôn hướng tác phẩm của mình đến với những
tư tưởng, tình cảm tốt đẹp, những vẻ đẹp của con người, cuộc sống.
4. Đánh giá:
- Sự vận động của hình tượng thơ trong “Nhật ký trong tù” thể hiện ý chí, nghị
ĐỀ THI MÔN:NGỮ VĂN
Dành cho học sinh các trường THPT
Thời gian làm bài: 180 phút (không kể thời gian giao đề)
Câu 1: Nghị luận xã hội (3,0 điểm)
Hãy viết một bài văn trình bày suy nghĩ của anh (chị) về vấn đề lựạ chọn nghề nghiệp
của thanh niên hiện nay.
Câu 2: Nghị luận văn học (7,0 điểm)
Cảm nhận của anh (chị) về vẻ đẹp độc đáo trong truyện ngắn Chữ người tử tù
(Nguyễn Tuân)
Hết
Thí sinh không được sử dụng tài liệu.
Giám thị không giải thích gì thêm.
Họ và tên học sinh……………………………….Số báo danh……………….
6
Tuyển tập 15 các đề thi học sinh giỏi môn ngữ văn lớp 11 (kèm đáp án chi tiết)
SỞ GD&ĐT VĨNH PHÚC
HƯỚNG DẪN CHẤM ĐỀ THI ĐỀ XUẤT HSG LỚP 11
Môn: NGỮ VĂN - THPT - NĂM HỌC 2014 - 2015
(Gồm 06 trang)
Câu 1 (3,0 điểm )
Yêu cầu về kĩ năng
Biết cách làm bài nghị luận xã hội. Bố cục và hệ thống ý sáng rõ. Biết vận dụng và
phối hợp nhiều thao tác nghị luận. Hành văn trôi chảy. Lập luận chặt chẽ. Dẫn chứng
chọn lọc, thuyết phục. Không mắc các lỗi diễn đạt, dùng từ, ngữ pháp, chính tả.
Yêu cầu về kiến thức
HS có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng cần đảm bảo nhưng ý cơ bản
sau:
1. Giải thích
- Chọn nghề là cách lựa chọn công việc sẽ gắn bó với ta suốt đời. Nghề nghiệp
- Điểm 2,0: Cơ bản đáp ứng được yêu cầu cơ bản nói trên. Dẫn chứng chưa thật
phong phú. Còn sai sót nhỏ.
- Điểm 1,0: Chưa hiểu chắc yêu cầu của đề bài. Kiến thức sơ sài. Còn mắc nhiều lỗi.
- Điểm 0 :Không hiểu đề, sai lạc phương pháp.
Câu 2 (7,0 điểm)
Yêu cầu kĩ năng
Hiểu đề, biết cách làm bài nghị luận văn học. Vận dụng linh hoạt các thao tác làm văn
để làm sáng tỏ vấn đề. Bố cục rõ ràng, lập luận chặt chẽ. Hành văn trôi chảy. Văn viết
có cảm xúc. Không mắc các lỗi diễn đạt, dùng từ, ngữ pháp, chính tả.
Yêu cầu về kiến thức
Học sinh hiểu đúng vấn đề:
- Đây là dạng đề cho phép học sinh có thể lựa chọn nhiều thao tác nghị luận để
làm nổi bật vẻ đẹp độc đáo trong tác phẩm truyện ngắn trước cách mạng của Nguyễn
Tuân.
1.Giải thích:
Vẻ đẹp độc đáo: là những nét riêng biệt, duy nhất do tác giả sáng tạo trong tác phẩm,
thể hiện rõ phong cách nghệ thuật của nhà văn. Trước cách mạng, Nguyễn Tuân là
8
Tuyển tập 15 các đề thi học sinh giỏi môn ngữ văn lớp 11 (kèm đáp án chi tiết)
nhà văn lãng mạn, ông đề cao chủ nghĩa duy mĩ. Truyện Chữ người tử tù là tác phẩm
thể hiện rõ vẻ đẹp độc đáo trong sáng tạo của nhà văn.
2.Biểu hiện của vẻ đẹp độc đáo trong tác phẩm
a, Đề tài: Truyện viết về một thú chơi độc đáo – thú chơi chữ, mang tính nghệ
thuật cao (nghệ thuật thư pháp).
b, Nhan đề độc đáo: Chữ là cái đẹp, tử tù là hình ảnh của cái chết. Đặt cái đẹp
bên cạnh cái chết để khẳng định sức mạnh bất tử của cái đẹp.
c, Tình huống truyện độc đáo:
+ Tình huống truyện ở đây là mối quan hệ đặc biệt éo le giữa những tâm hồn tri
kỉ (Huấn Cao, quản ngục và thầy thơ lại). Nhà văn đặt các nhân vật trong tình thế đối
địch: Tử tù và viên quản ngục. Chính tình huống này đã làm nổi rõ tính cách của
Biểu điểm:
- Điểm 7,0: Đáp ứng được yêu cầu nêu trên, văn viết sâu sắc, diễn đạt trong sáng. Bài
viết thể hiện sự sáng tạo, cảm thụ riêng. Có thể còn một vài sai sót.
- Điểm 5-6: Cơ bản đáp ứng được yêu cầu nêu trên, văn viết chưa thật sâu sắc nhưng
diễn đạt trong sáng. Có thể mắc một vài sai sót nhỏ.
- Điểm 3-4: Cơ bản hiểu yêu cầu của đề. Bố cục bài viết rõ ràng. Chọn và phân tích
được dẫn chứng song ý chưa sâu sắc. Có thể còn sai sót nhỏ.
- Điểm 1-2: Chưa hiểu rõ yêu cầu của đề. Diễn đạt lúng túng, trình bày cẩu thả.
- Điểm 0: Sai lạc cả nội dung và phương pháp.
Lưu ý:
- Giám khảo nắm vững yêu cầu của hướng dẫn chấm để đánh giá tổng quát bài
làm của thí sinh. Cần khuyến khích những bài viết có chất văn.
- Việc chi tiết hóa điểm số của các câu, các ý phải đảm bảo không sai lệch với
tổng điểm của câu. Điểm lẻ được làm tròn đến 0,5 điểm sau khi đã chấm và cộng
điểm toàn bài.
Đề số 3:
10
Tuyển tập 15 các đề thi học sinh giỏi môn ngữ văn lớp 11 (kèm đáp án chi tiết)
SỞ GD&ĐT VĨNH
PHÚC
ĐỀ CHÍNH THỨC
KÌ THI CHỌN HSG LỚP 11 THPT NĂM HỌC 2011-2012
ĐỀ THI MÔN: NGỮ VĂN
(Dành cho học sinh các trường THPT)
Thời gian làm bài: 180 phút (Không kể thời gian giao đề).Câu 1 (3,0 điểm).
1. Giải thích ý nghĩa của bài thơ.
- Bài thơ đề cập đến hiện tượng tự nhiên: Nếu không có cảnh mùa đông tàn thì cũng
không có được cảnh huy hoàng của mùa xuân. Đông qua rồi mới đến xuân, đó là qui
luật tất yếu của tự nhiên.
- Từ qui luật tự nhiên, bài thơ liên tưởng đến con người: Trong khó khăn gian khổ,
nếu con người chịu đựng được, vượt qua được những khó khăn thử thách thì sẽ đến
được với cảnh huy hoàng của cuộc sống.
- Những bước gian truân, tai ương gặp phải là những thử thách, rèn luyện làm cho tinh
thần thêm hăng. Bài thơ thể hiện tinh thần lạc quan của người chiến sĩ cách mạng.
2. Bàn luận, mở rộng vấn đề.
- Khẳng định quan niệm của Bác trong bài thơ là hoàn toàn đúng:
+ Trong cuộc sống, không mấy ai không gặp khó khăn, gian khổ. Trước những
trở ngại không được bi quan, chán nản mà phải giữ vững niềm tin vào lí tưởng, mục
đích cuộc sống của mình.
+ Những vất vả, khó khăn gặp phải như cơn gió lạnh mùa đông . Nếu chịu
đựng và vượt qua được mùa đông lạnh lẽo thì sẽ được sống trong cảnh huy hoàng của
ngày xuân. Điều đó có nghĩa vượt qua gian khổ sẽ đến được với thành công. Niềm tin
đó sẽ giúp chúng ta vươn lên trong cuộc sống. Chính trong gian khổ con người sẽ
vững vàng hơn. Tai ương gặp trong cuộc đời sẽ sẽ giúp tinh thần thêm hăng hái. HS
12
Tuyển tập 15 các đề thi học sinh giỏi môn ngữ văn lớp 11 (kèm đáp án chi tiết)
có thể lấy dẫn chứng (cuộc đời Bác Hồ và các chiến sĩ cách mạng trong đấu tranh là
dẫn chứng hùng hồn về sự kiên trì, nhẫn nại, về quyết tâm vượt qua những thử thách,
về niềm tin và tinh thần lạc quan cách mạng).
- Phê phán những kẻ sợ khó khăn gian khổ, hay nản chí ngã lòng, bi quan trước
những khó khăn thử thách trong cuộc sống.
3. Bài học nhận thức và hành động.
- Sống ở trên đời, khi đã xác định được mục đích đúng đắn, muốn đi đến thành công
thì phải trải qua những gian nan thử thách. Nếu vượt qua được chắc chắn sẽ đạt được
điều ta mong muốn.
thuyền nước mắt như mưa).
- Trong văn học trung đại: Nguyễn Bỉnh Khiêm nhận thấy họ chỉ là những con người
thụ động, yếu đuối, mong sự ban ơn của bề trên (Mong mưa chan chứa lòng dân
vọng/Trừ bạo tưng bừng đạo nghĩa binh). Nguyễn Trãi đã khẳng định vị trí, vai trò to
lớn của họ đối với thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn nhưng cũng chỉ chung
chung (Nhân dân bốn cõi một nhà/ Dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới).
2. Hình tượng người nông dân nghĩa sĩ trong “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc”.
- Hoàn cảnh xuất thân: là những người lao động sống cuộc đời lam lũ, cơ cực (Cui cút
làm ăn; toan lo nghèo khó); Họ chỉ quen với công việc đồng áng (chỉ biết ruộng trâu, ở
trong làng bộ), hoàn toàn xa lạ với công việc binh đao (Chưa quen cung ngựa, đâu tới
trường nhung; tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó).
- Những chuyển biến khi giặc Pháp xâm lược:
+ Tình cảm: Có lòng yêu nước (Trông tin quan như trời hạn trông mưa), căm
thù giặc sâu sắc (Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan; Ngày xem ống
khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ).
+ Nhận thức: Có ý thức trách nhiệm với Tổ quốc trong lúc lâm nguy (Một mối
xa thư đồ sộ….treo dê bán chó).
+ Hành động tự nguyện và ý chí quyết tâm tiêu diệt giặc (Nào đợi ai đòi ai
bắt, phen này xin ra sức đoạn kình; chẳng thèm trốn ngược, trốn xuôi, chuyến này
dốc ra tay bộ hổ…)
- Vẻ đẹp hào hùng của người nông dân nghĩa sĩ:
+ Bằng bút pháp hiện thực, hình ảnh người nông dân nghĩa sĩ hiện lên với vẻ
đẹp mộc mạc, giản dị (gắn với những chi tiết chân thực: manh áo vải, ngọn tầm vông,
14
Tuyển tập 15 các đề thi học sinh giỏi môn ngữ văn lớp 11 (kèm đáp án chi tiết)
lưỡi dao phay, rơm con cúi) nhưng không kém chất anh hùng bởi tấm lòng mến
nghĩa, tư thế hiên ngang, lẫm liệt, coi thường mọi khó khăn thiếu thốn (nào đợi tập
rèn, không chờ bày bố, nào đợi mang, chi nài sắm…).
+ Hình tượng người anh hùng được khắc họa trên cái nền của một trận công
đồn đầy khí thế tiến công: một loạt động từ mạnh (đánh, đốt, chém, đạp, xô…), dứt
0,5 điểm sau khi đã chấm xong và cộng tổng điểm toàn bài.
Đề số 4:
SỞ GD&ĐT VĨNH PHÚC
ĐỀ CHÍNH
THỨC
KỲ THI CHỌN HSG LỚP 11 THPT NĂM HỌC
2012-2013
ĐỀ THI MÔN: NGỮ VĂN
(Dành cho học sinh THPT không chuyên)
Thời gian làm bài: 180 phút, không kể thời gian phát
đề
Câu 1 (3,0 điểm).
Suy nghĩ của anh (chị) về vấn đề bạo lực học đường hiện nay?
Câu 2 (7,0 điểm).
Trong truyện ngắn Chữ người tử tù nhà văn Nguyễn Tuân viết:
…Trong hoàn cảnh đề lao, người ta sống bằng tàn nhẫn, bằng lừa lọc, tính
cách dịu dàng và lòng biết giá người, biết trọng người ngay của viên quản ngục này
là một thanh âm trong trẻo chen vào giữa một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn
xô bồ…
(Chữ người tử tù - Nguyễn Tuân,
Ngữ văn 11, tập một, NXB Giáo dục
2007)
16
Tuyển tập 15 các đề thi học sinh giỏi môn ngữ văn lớp 11 (kèm đáp án chi tiết)
Phân tích nhân vật viên quản ngục trong truyện ngắn Chữ người tử tù của
Nguyễn Tuân để làm sáng tỏ nhận xét trên.
Hết
Thí sinh không được sử dụng tài liệu. Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm.
Họ và tên thí sinh……… …….…….….….; Số báo danh………………………….
SỞ GD&ĐT VĨNH
+ Một bộ phận thanh niên coi đó là thú vui…
3. Hậu quả:
- Với nạn nhân: tổn thương về thể xác, tinh thần, gây tâm lý nặng nề, ảnh
hưởng đến cuộc sống, học tập.
- Làm biến thái môi trường giáo dục.
- Với xã hội: tạo tâm lý bất ổn, lo lắng, hoang mang.
- Với người gây ra hành vi bạo lực: con người phát triển không toàn diện; mầm
mống của tội ác; làm hỏng tương lai của chính mình; bị mọi người lên án, xa lánh,
căm ghét.
4. Nguyên nhân:
- Sự phát triển thiếu toàn diện, thiếu hụt về nhân cách, thiếu khả năng kiểm
soát hành vi ứng xử của bản thân, thiếu kỹ năng sống, sai lệch trong quan điểm sống.
- Có những căn bệnh tâm lý.
- Do ảnh hưởng của môi trường văn hóa bạo lực từ cuộc sống và phim ảnh.
- Thiếu sự quan tâm của gia đình.
- Sự giáo dục trong nhà trường: nặng về dạy kiến thức văn hóa, chưa thật chú
trọng dạy kỹ năng sống cho học sinh.
- Xã hội chưa có sự quan tâm đúng mức, chưa có những giải pháp thiết thực,
đồng bộ, triệt để.
5. Giải pháp:
- Xã hội cần có những giải pháp đồng bộ. Cần phối hợp chặt chẽ giữa gia đình,
nhà trường và xã hội trong việc giáo dục học sinh.
- Tăng cường giáo dục đạo đức, dạy kỹ năng sống, vươn tới những giá trị chân,
thiện, mỹ.
- Có những biện pháp quyết liệt để giáo dục, răn đe, làm gương cho người khác.
6. Liên hệ bản thân:
- Có quan điểm nhận thức hành động đúng đắn, hình thành những quan niệm
sống tốt đẹp.
- Đấu tranh, tố cáo những hành vi bạo lực học đường.
III. Biểu điểm:
- Quản ngục của Nguyễn Tuân có một tính cách khác thường. Chức vụ quản
ngục chỉ là “cái áo khoác ngoài của một tâm hồn đẹp”.
b. Quản ngục là người có tấm lòng biệt nhỡn liên tài, biết quý trọng cái đẹp.
- Biệt nhỡn: là cái nhìn trân trọng đặc biệt, liên tài là biết quý cái tài. Biệt nhỡn
liên tài là cái nhìn quý trọng đặc biệt với tài hoa.
- Sống trong cảnh ngục tù tăm tối, quản ngục vẫn biết trân trọng tài năng của
Huấn Cao, vẫn hướng về cái đẹp ở ngoài đời để biết được Huấn Cao là người viết
chữ đẹp nổi tiếng ở tỉnh Sơn.
- Mặc dù chọn nhầm nghề, nhưng quản ngục có một sở nguyện cao quý. Ngay
từ khi mới “biết đọc vỡ nghĩa sách thánh hiền” ông ao ước một ngày nào đó được
treo ở nhà riêng của mình một câu đối do tay ông Huấn Cao viết vì chữ Huấn Cao
đẹp lắm vuông lắm là vật báu trên đời. Say mê nghệ thuật thư pháp tột cùng như vậy,
chứng tỏ quản ngục là người có tâm hồn nghệ sĩ.
- Ngục quan trân trọng Huấn Cao, trân trọng cái tài, cái đẹp, nhẫn nại để đạt
được sở nguyện.
+ Ngục quan đăm chiêu nghĩ ngợi, thao thức giữa đêm khuya, kín đáo để nghĩ
về tử tù khi nhận được tấm phiến trát.
19
Tuyển tập 15 các đề thi học sinh giỏi môn ngữ văn lớp 11 (kèm đáp án chi tiết)
+ Lúc nhận tù, quản ngục nhìn Huấn Cao với ánh mắt kiêng nể.
+ Bỏ qua những lời khích bác của lũ lính áp giải, muốn hành hạ Huấn Cao để
làm đòn phủ đầu, quản ngục nghiêm nét mặt nói rằng đã có phép nước.
+ Khi Huấn Cao vào ngục, ngục quan đã biệt đãi Huấn Cao một cách chu đáo.
+ Quản ngục nhún nhường “Xin lĩnh ý” khi Huấn Cao đuổi ra khỏi phòng giam.
+ Chưa xin được chữ Huấn Cao, nên tâm trạng của ngục quan đầy bi kịch.
Quản ngục khổ tâm vì có một ông Huấn Cao trong tay mình, dưới quyền mình mà
không biết làm thế nào để xin được chữ. Chỉ lo mai mốt ông Huấn Cao bị hành hình
mà không xin được chữ thì ân hận suốt đời.
c. Quản ngục là người không sợ cường quyền.
- Dám chơi chữ của một kẻ đại nghịch là Huấn Cao.
Tuyển tập 15 các đề thi học sinh giỏi môn ngữ văn lớp 11 (kèm đáp án chi tiết)
- Qua nhân vật quản ngục, Nguyễn Tuân gửi gắm lòng yêu quê hương đất
nước, niềm trân trọng vẻ đẹp của con người và văn hoá dân tộc.
4. Đánh giá.
- Nếu Huấn Cao là người sở hữu cái đẹp, sáng tạo ra cái đẹp thì quản ngục là
người trân trọng, tôn thờ cái đẹp, người bảo vệ, giữ gìn và lưu truyền cái đẹp, ông mang
tâm hồn của người nghệ sĩ. Quản ngục là người “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”.
- Cùng với nhân vật Huấn Cao, nhân vật quản ngục góp phần làm nên sức hấp
dẫn của tác phẩm Chữ người tử tù – một tác phẩm gần đạt đến sự “toàn thiện, toàn
mĩ”, “ Đó không phải là người viết mà là thần viết”.
III. Biểu điểm:
- Điểm 7,0: Đáp ứng được yêu cầu nêu trên, văn viết sâu sắc, diễn đạt trong sáng. Bài
viết thể hiện sự sáng tạo, cảm thụ riêng.
- Điểm 5-6: Cơ bản đáp ứng được yêu cầu trên, văn viết chưa thật sâu sắc nhưng diễn
đạt trong sáng. Có thể mắc một vài sai sót nhỏ.
- Điểm 3-4: Cơ bản hiểu yêu cầu của đề. Bố cục bài viết rõ ràng. Chọn và phân tích
được dẫn chứng song ý chưa sâu sắc. Có thể mắc một vài sai sót nhỏ.
- Điểm 1-2: Chưa hiểu rõ yêu cầu của đề. Diễn đạt lúng túng, trình bày cẩu thả.
- Điểm 0: Sai lạc cả nội dung và phương pháp.
* Lưu ý:
- Giám khảo nắm vững yêu cầu của hướng dẫn chấm để đánh giá tổng quát
bài làm của thí sinh. Cần khuyến khích những bài viết có chất văn, có những suy
nghĩ sáng tạo.
- Việc chi tiết hóa điểm số của các câu, các ý phải đảm bảo không sai lệch với
tổng điểm của câu và được thống nhất trong hội đồng chấm. Điểm lẻ được làm tròn
đến 0,25 điểm sau khi đã chấm xong và cộng tổng điểm toàn bài.
HẾT
Đề số 5:
SỞ GD&ĐT VĨNH PHÚC
ĐỀ CHÍNH
Tuyển tập 15 các đề thi học sinh giỏi môn ngữ văn lớp 11 (kèm đáp án chi tiết)
Biết cách làm bài văn nghị luận xã hội. Bố cục và hệ thống ý sáng rõ. Biết vận dụng
phối hợp nhiều thao tác nghị luận. Hành văn trôi chảy. Lập luận chặt chẽ. Dẫn chứng
chọn lọc, thuyết phục. Không mắc các lỗi diễn đạt, dùng từ, ngữ pháp, chính tả.
II. Yêu cầu về kiến thức
Thí sinh có thể trình bày theo các cách khác nhau nhưng phải đảm bảo được những
nội dung cơ bản sau:
1 Giải thích.
- Cuộc sống là nguyên liệu thô: Cách nói hình ảnh để chỉ những bộn bề phức
hợp của cuộc sống: thuận lợi và khó khăn, tốt đẹp và ác xấu, bình lặng và bão giông.
- Nghệ nhân: con người tài năng, tâm huyết đạt đến độ tinh tuý trong công việc của
mình.
- Nhào nặn nên một tác phẩm tuyệt đẹp hay một vật thể xấu xí tất cả đều nằm
trong tay chúng ta: Từ nguyên liệu cuộc sống mỗi người sẽ tạo nên tác phẩm cuộc
đời của mình.
- Câu nói đã khẳng định và đề cao vai trò quyết định của mỗi cá nhân đối với
cuộc sống của chính mình. Chính thái độ sống, năng lực sống của bản thân sẽ làm
nên giá trị, ý nghĩa cuộc sống của mỗi người.
2. Bàn luận, mở rộng.
- Đây là một quan điểm sống tích cực, mạnh mẽ và sâu sắc.
- Cuộc sống luôn mang trong mình những bộn bề, phức tạp, nếu chúng ta sống
một cách chủ động và tích cực, biết gạn lọc những cái xấu, tận dụng và phát huy
những điều tốt đẹp, biến khó khăn, thử thách thành cơ hội thì ta sẽ có một tác phẩm
cuộc đời mình thật tuyệt đẹp.
- Nếu buông xuôi và phó mặc, bị động và để cuộc sống trôi đi, khi ấy tác phẩm
cuộc đời của mỗi chúng ta chỉ là những vật thể xấu xí.
- Mở rộng và nêu phản đề: Tuy nhiên, không phải lúc nào, không phải với bất
cứ ai, muốn trở thành thế nào cũng được. Tác phẩm cuộc đời của mỗi người còn chịu
sự tác động không nhỏ của hoàn cảnh khách quan.
3. Liên hệ bản thân và rút ra bài học.
chà đạp con người; trân trọng những phẩm chất và khát vọng tốt đẹp của con người,
đòi quyền sống, quyền hạnh phúc cho con người Đồng thời, tư tưởng nhân đạo
được thể hiện qua các hình tượng nghệ thuật, qua cảm hứng, cảm xúc, giọng điệu
- Cảm hứng nhân đạo cùng với cảm hứng yêu nước là hai sợi chỉ đỏ xuyên suốt
toàn bộ nền văn học Việt Nam. Về cơ bản có những biểu hiện chung song ở mỗi thời
kì, giai đoạn, do hoàn cảnh lịch sử xã hội, do ý thức hệ tư tưởng của các nhà văn khác
nhau nên có những biểu hiện riêng. Hai đứa trẻ của Thạch Lam và Đời thừa của Nam
Cao là những tác phẩm điển hình thể hiện cảm hứng nhân đạo sâu sắc, mới mẻ của
văn học hiện đại Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945.
2. Tư tưởng nhân đạo của nhà văn Thạch Lam và Nam Cao qua Hai đứa trẻ và
Đời thừa.
2.1, Sự gặp gỡ:
a. Thạch Lam và Nam Cao đều thể hiện thái độ đồng cảm, xót thương với những
số phận bất hạnh trong xã hội cũ trước năm 1945.
- Hai đứa trẻ: Qua khung cảnh phố huyện nghèo đói, lụi tàn, Thạch Lam muốn
bày tỏ niềm xót thương đối với những kiếp người nhỏ bé vô danh, không bao giờ biết
đến ánh sáng hạnh phúc. Họ phải sống cuộc đời tẻ nhạt, vô nghĩa, đời sống cạn kiệt,
mỏi mòn về cả vật chất và tinh thần.
- Đời thừa: Qua số phận nhân vật văn sĩ Hộ, một con người có khát vọng, có
ước mơ hoài bão cao đẹp. Con người coi tình thương là lẽ sống, nhưng vì gánh nặng
cơm áo mà phải chịu tấn bi kịch đời thừa, vi phạm lẽ sống tình thương. Nam cao bày
tỏ niềm xót thương với người trí thức tiểu tư sản.
b. Gián tiếp tố cáo, lên án xã hội thực dân nửa phong kiến đẩy con người vào cuộc
sống khốn cùng.
- Hai đứa trẻ: Gián tiếp tố cáo, lên án xã hội thực dân nửa phong kiến đẩy con
người vào cuộc sống mòn mỏi, vô nghĩa nơi phố huyện , miền đất bị lãng quên trong
đói nghèo tăm tối.
- Đời thừa: Gián tiếp tố cáo xã hội thực dân nửa phong kiến đày đoạ con người
trong sự nghèo đói, vùi dập những ước mơ làm chết mòn đời sống tinh thần, lẽ sống,
nhân cách cao đẹp của con người.
những hoàn cảnh khác nhau.
- Hai đứa trẻ: Thạch Lam sống gắn bó và nặng lòng với tầng lớp thị dân
nghèo, những kiếp người nhỏ bé sống quẩn quanh. Nên ông viết về họ với một niềm
chân tâm, chân cảm, thấu hiểu tột cùng với muôn nỗi khốn khó trong cuộc sống của
họ.
- Đời thừa: Nam Cao viết về người tri thức tiểu tư sản trong trạng thái căng
nọc mình trên trang giấy, nên mỗi trang văn của ông đã khơi dậy những bi kịch tinh
thần thầm kín, day dứt của người trí thức tiểu tư sản hay cũng chính là những day dứt
của nhà văn.
b. Khám phá những sắc thái, cung bậc khác nhau trong nỗi đau tinh thần của con người.
- Hai đứa trẻ: Trước đây văn học chú ý đến cái đói vật chất (như nỗi đau dân
nô, thời thế ) giờ văn học của ý thức cá nhân mới chạm đến được cái buồn chán cá
nhân, tới nỗi đau riêng của mỗi người. Cái nghèo là cái đói vật chất, cái buồn chán là
cái đói tinh thần, âm ỉ hơn, tê tái hơn. Nỗi đau tinh thần của con người nơi phố huyện
được Thạch Lam miêu tả trong một sắc thái nhẹ nhàng nhưng gieo vào lòng người
đọc rất nhiều bận bịu.
- Đời thừa: Nam Cao cũng miêu tả cái nghèo đói về vật chất và tinh thần
nhưng cả cuộc đời Hộ đau nỗi đau triền miên dai dẳng, âm ỉ và dày vò. Nó tàn phá
cuộc sống của Hộ khiến cuộc sống của anh mòn mục, rỉ ra trong kiếp đời thừa.
25