ĐẤT NƯỚC
Nguyễn Khoa Điềm
Đề 1: Phân tích đoạn thơ mở đầu đoạn trích Đất Nước của Nguyễn Khoa
Điềm.
“Khi ta lớn lên đất nước đã có rồi
Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa…” mẹ thường hay kể
Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn
Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc
Tóc mẹ thì bới sau đầu
Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn
Cái kèo cái cột thành tên
Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng
Đất Nước có từ ngày đó”.
MỞ BÀI
1. Dẫn dắt vào vấn đề:
- “Có mối tình nào cao hơn là Tổ quốc?” - Trần Mai Ninh. Bằng tình cảm yêu
thương sâu nặng ấy, các nhà thơ - chiến sĩ đã có biết bao bài thơ rất hay về Tổ quốc,
đất nước Việt Nam thương yêu.
- Nếu như các nhà thơ khác thường dùng những hình ảnh kì vĩ, mĩ lệ mang tính
biểu tượng, tạo ra một khoảng cách để cảm nhận, chiêm ngưỡng về đất nước thì
Nguyễn Khoa Điềm lại cảm nhận về đất nước qua những gì hết sức gần gũi, đơn sơ,
bình dị .
2. Tác giả, tác phẩm:
- Vị trí: Nguyễn Khoa Điềm là một trong số những nhà thơ tiêu biểu nhất của thế
hệ các nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mĩ.
- Phong cách điển hình:
+ Thơ ông giàu chất suy tư, xúc cảm dồn nén, thể hiện tâm tư, ý thức của một
công dân yêu nước về vai trò, trách nhiệm của thế hệ trẻ trong cuộc chiến đấu chung
của cả dân tộc
+ Thơ ông còn thể hiện những nhận thức sâu sắc về nhân dân, đất nước qua
những trải nghiệm của chính mình.
thuỷ chung của cha mẹ, hạt gạo, hòn than, cái kèo, cái cột trong nhà…
- Bằng giọng tâm tình, dịu ngọt như lời kể truyện cổ tích, Nguyễn Khoa Điềm đã
thể hiện những cảm nhận, suy tưởng của mình về cội nguồn sâu xa của đất nước.
“Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi
Đất Nước có trong những cái "ngày xửa ngày xưa…" mẹ thường hay kể”
+ Lịch sử sâu thẳm của đất nước ta được tác giả cắt nghĩa không phải bằng sự nối tiếp
của các vương triều hay các sự kiện lịch sử trọng đại như Nguyễn Trãi đã từng
viết trong “Bình Ngô Đại
Cáo”:
“Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông bờ cõi đã chia
Phong tục Bắc – Nam cũng khác
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền độc lập
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương”
mà bằng những hình ảnh gần gũi, thân quen, bằng cách nói rất dung dị.
+ Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi. Hình như nhà thơ không cố tình làm thơ.
Nhà thơ như chỉ muốn nói lên điều mà bất kì ai cũng có thể nói lên. Nhà thơ nói lên
cho mình mà cũng cho tất cả mọi người, cho tất cả bạn bè cùng trang lứa với mình.
+ Lắng nghe cho kĩ, người đọc có thể nghe xôn xao trong câu thơ là cả một niềm
tự hào mãnh liệt và niềm biết ơn mênh mông.
. “Lớn lên” thì “Đất Nước đã có rồi”, Đất Nước có trong lịch sử hàng ngàn năm,
điều mà không phải bất kì Đất Nước nào trên mặt đất này cũng có được.
. “Đất Nước đã có rồi”: bất cứ con người Việt Nam khi sinh ra ngay lập tức đã
được bao bọc, đã được nâng niu, chở che trong một cái nôi ấm áp, thân yêu vô cùng là
Đất Nước.
. “Lớn lên” thì “Đất Nước đã có rồi”, ta đang có được Đất Nước từ công lao của
hàng ngàn thế hệ con người, với bao nhiêu hi sinh xương máu, bao nhiêu nước mắt và
mồ hôi.
+ Từ cảm xúc tự hào và biết ơn của mình, nhà thơ tìm cho mình những điều khẳng
người”.
. Đất Nước thật lớn lao kì vĩ nhưng chẳng phải bắt đầu từ những điều bé nhỏ đó
sao!
+ Đất Nước còn lớn lên cùng truyền thống đấu tranh giữ nước của dân tộc.
“Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc”
+ Nhà thơ thật sâu sắc khi nói đến việc “dân mình đánh giặc” mà nhắc đến việc
“trồng tre”.
. Từ muôn đời nay, con người Việt Nam trồng tre là để có lũy tre bao bọc làng
quê, để có bóng tre xanh mát rượi con đường làng, để lấy cây tre làm nên nhà cửa,
làm nên những dụng cụ sinh hoạt hàng ngày như chiếc đòn gánh tre, cái cối xay tre,
cái chõng tre, chiếc nôi tre, con sáo diều tre lơ lửng lưng trời…
. Đúng như nhà thơ Nguyễn Duy đã viết:
“Tre xanh, xanh tự bao giờ
Chuyện ngày xưa đã có bờ tre xanh”
+ Con người Việt Nam trồng nên cây tre còn để khi cần thì biến cây tre thành vũ
khí đánh giặc.
. Câu thơ của Nguyễn Khoa Điềm phải chăng gợi lên truyền thuyết Thánh Gióng -
Hình ảnh cậu bé vươn vai thành tráng sĩ nhổ tre đánh đuổi giặc Ân ra khỏi bờ cõi là
tinh thần yêu nước kiên cường, bất khuất chống ngoại xâm để bảo vệ nền độc lập dân
tộc hơn bốn ngàn năm lịch sử.
. Truyền thuyết Thánh Gióng nhổ tre đánh đuổi giặc Ân đã trở thành bài ca giữ
nước hào hùng của nhân dân ta, đã trở thành lịch sử đất nước:
“Ta như thuở xưa thần Phù Đổng
Vụt lớn lên đánh đuổi giặc Ân
Sức nhân dân khoẻ như ngựa sắt
Chí căm thù ta rèn thép làm roi
Lửa chiến đấu ta phun vào mặt
Lũ sát nhân cướp nước hại nòi”
(Tố Hữu)
+ Như vậy, lịch sử lâu đời của đất nước được kết tinh trong từng câu chuyện kể,
Dù ba vạn sáu ngàn ngày cũng chẳng xa”
Gừng bao giờ cũng cay, muối bao giờ cũng mặn. Đó là một giá trị, một đạo lí
của gia đình Việt Nam. Ý thơ nhằm ca ngợi lối sống giàu tình nghĩa và tấm lòng thuỷ
chung son sắt của người Việt Nam.
- Tiếp tục suy nghĩ về những giá trị mà các thế hệ cha anh đã tạo dựng nên, đến
đây nhà thơ lại có một phát hiện bất ngờ mà thú vị:
“Cái kèo, cái cột thành tên”
+ “Cái kèo, cái cột” là tên gọi những bộ phận quan trọng trong cấu trúc ngôi nhà
truyền thống Việt Nam:
“Có cây thì dây mới leo,
Có cột có kèo mới có đòn tay”
(Ca dao)
+ Như vậy là, từ thuở xa xưa, con người Việt Nam, không chờ ai dạy bảo, đã biết
tự mình làm nên nhà cửa để che mưa trú nắng, ổn định nơi ăn chốn ở để có thể tồn
tại vững bền trên dải đất bên bờ biển Đông quanh năm đầy nắng mưa giông bão này.
+ Lại còn chuyện này nữa: “Cái kèo, cái cột thành tên”, bởi đó là những tên gọi
quen thuộc mà người Việt Nam ngày trước đã dùng để đặt tên cho con cái mình,
những tên gọi hồn nhiên lấy từ những sự vật quen thuộc, như tên Cột, Kèo, Chanh,
Khế, Nụ, Búp, Khoai, Sắn… Đó là những tên gọi không thể viết bằng chữ Hán,
những tên gọi hoàn toàn Việt Nam.
Như thế là từ mấy nghìn năm trước, không đợi tới người Hán đến đây, dân tộc ta
đã có tiếng nói riêng mà bây giờ ta gọi là tiếng mẹ đẻ.
- Tạo nơi ăn chốn ở, tạo nên tiếng nói, tạo nên Đất Nước, tổ tiên ta còn tạo nên
một điều vô cùng quan trọng:
“Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng”
+ Với người Việt Nam vốn gắn bó lâu đời với nền văn minh lúa nước, hạt
gạo trở thành gia bảo vô cùng cần thiết cho cuộc sống. Cho nên ngay khi còn là đứa
trẻ mới lớn, cảm nhận về vật chất đầu tiên phải là hạt gạo trải qua một quá trình lam
lũ, vất vả kết tinh mồ hôi, nước mắt của người lao động.
+ Câu thơ của Nguyễn Khoa Điềm như gói gọn cả quy trình lao động vất vả của
quan hệ nghĩa tình của cha mẹ “thương nhau bằng gừng cay muối mặn”.
+ Đất Nước luôn hiện hữu trong hình ảnh của ông bà, cha mẹ, cháu con. Đó
cũng là khởi nguồn cho đất nước. Bởi nói như nhân vật chú Năm “con sông gia
đình cũng chảy về biển, mà biển thì rộng lắm, rộng bằng nước ta” (Những đứa con
trong gia đình – Nguyễn Thi).
KẾT LUẬN
- Tóm lại, bằng những hình ảnh gần gũi, quen thuộc thường ngày, bằng chất liệu
văn hoá dân gian, truyền thuyết, cổ tích, chỉ qua một đoạn thơ ngắn, Nguyễn Khoa
Điềm đã trình bày được một ý niệm về đất nước thật độc đáo, hấp dẫn; vừa thiêng
liêng, vừa hiện hữu rõ ràng, vừa có chiều sâu văn hoá lịch sử , vừa bình dị thân
quen với cuộc sống nhân dân hàng ngày.
- Đó là một đóng góp quan trọng của Nguyễn Khoa Điềm làm sâu thêm ý niệm
về đất
nước của nhân dân cho thơ ca hiện đại.
RA: Phân tích o n th sau trong bài th t N c c a Nguy nĐỀ đ ạ ơ ơ Đấ ướ ủ ễ
KHoa i m.Đề
Khi ta l n lên t N c ã có r iớ Đấ ướ đ ồ
t N c có trong nh ng cái “ngày x a ngày x a” m th ng hay k .Đấ ướ ữ ử ư ẹ ườ ể
t N c b t u v i mi ng tr u bây gi bà nĐấ ướ ắ đầ ớ ế ầ ờ ă
t N c l n lên khi dân mình bi t tr ng tre mà ánh gi cĐấ ướ ớ ế ồ đ ặ
Tóc m thì b i sau uẹ ớ đầ
Cha m th ng nhau b ng g ng cay mu i m nẹ ươ ằ ừ ố ặ
Cái kèo, cái c t thành tênộ
H t g oạ ạ ph i m t n ng hai s ng xay, giã, gi n, sàngả ộ ắ ươ ầ
t N c có t ngày ó…Đấ ướ ừ đ
H NG D N PHÂN TÍCHƯỚ Ẫ
I. M BÀIỞ
t N c là ngu n c m h ng b t t n c a th ca và ngh thu t. M i nhà Đấ ướ ồ ả ứ ấ ậ ủ ơ ệ ậ ỗ
th u có nh ng c m nh n r t riêng v t N c, b i th t N c, ơ đề ữ ả ậ ấ ề Đấ ướ ở ế Đấ ướ
T qu c hi n lên muôn màu muôn v . N u nh các nhà th cùng th i ổ ố ệ ẻ ế ư ơ ờ
n cướ .
t N c có trong nh ng cái “ngày x a ngày x a” m th ng hay k .Đấ ướ ữ ử ư ẹ ườ ể
t N c b t u v i mi ng tr u bây gi bà nĐấ ướ ắ đầ ớ ế ầ ờ ă
- Câu th th nh t, tác gi cho r ng t N c có trong cái “ngày x a ơ ứ ấ ả ằ Đấ ướ ử
ngày x a”. Ngh a là t N c có t r t lâu i, có t ngày x a. t ư ĩ Đấ ướ ừ ấ đờ ự ư Đấ
N c có t tr c khi nh ng câu truy n c ra i r i khi nh ng câu ướ ừ ướ ữ ệ ổ đờ ồ ữ
truy n c có m t trong i s ng tinh th n c a ta, ta l i th y t N c ệ ổ ặ đờ ố ầ ủ ạ ấ Đấ ướ
hi n di n trong truy n c . ó là t N c c a m t ệ ệ ệ ổ Đ Đấ ướ ủ ộ n n v n h c dân ề ă ọ
gian c s c v i nh ngđặ ắ ớ ữ câu chuy n c tích, th n tho i, truy n thuy t. ệ ổ ầ ạ ề ế
Chính nh ng câu chuy n c và nh ng bài hát ru thu ta còn n m nôi là ữ ệ ổ ữ ở ằ
ngu n s a ng t lành ch m b m cho ta cái chân thi n m và l n lên ta ồ ữ ọ ă ẵ ệ ĩ ớ
bi t yêu t n c con ng i. V ý ngh a c a truy n c v i i s ng tinh ế đấ ướ ườ ề ĩ ủ ệ ổ ớ đờ ố
th n con ng i, nhà th Lâm Th M D ã xúc ng mà vi t nên:ầ ườ ơ ị ỹ ạ đ độ ế
Tôi yêu truy n c n c tôiệ ổ ướ
V a nhân h u l i tuy t v i sâu xaừ ậ ạ ệ ờ
Th ng ng i r i m i th ng taươ ườ ồ ớ ươ
Yêu nhau dù m y cách xa c ng g nấ ũ ầ
(Truy n c n c mình)ệ ổ ướ
- Câu th th hai, nhà th di n t t N c có trong “mi ng tr u bây giơ ứ ơ ễ ả Đấ ướ ế ầ ờ
bà n”. G i nh c phong t c n tr u c a ng i Vi t.ă ợ ắ ụ ă ầ ủ ườ ệ Câu th g i nh v ơ ợ ớ ề
câu truy n c tích “S tích tr u cau” c xem là x a nh t trong nh ng ệ ổ ự ầ đượ ư ấ ữ
câu truy n c . T c n tr u c ng t câu truy n này mà nên. Nh v y là ệ ổ ụ ă ầ ũ ừ ệ ư ậ
th m th u vào trong mi ng tr u dung d y là 4000 n m phong t c, 4000 ẩ ấ ế ầ ị ấ ă ụ
n m dân ta gìn gi phong t c n tr u. Mi ng tr u là bi u t ng c a tình ă ữ ụ ă ầ ế ầ ể ượ ủ
yêu, v t ch ng cho l a ôi c ng là bi u t ng tâm linh c a ng i Vi t. ậ ứ ứ đ ũ ể ượ ủ ườ ệ
T phong t c n tr u, t c nhu m r ng en c ng ra i:ừ ụ ă ầ ụ ộ ă đ ũ đờ
Nh ng cô hàng xén r ng enữ ă đ
C i nh mùa thu t a n ngườ ư ỏ ắ
(Hoàng C m)ầ
4. Câu th th t , nhà th di n t s tr ng thành c a t N c. ơ ứ ư ơ ễ ả ự ưở ủ Đấ ướ
Cái kèo, cái c t thành tênộ
H t g oạ ạ ph i m t n ng hai s ng xay, giã, gi n, sàngả ộ ắ ươ ầ
- ó là v p gi n d c a ng i ph n Vi t Nam. Không ai khác là Đ ẻ đẹ ả ị ủ ườ ụ ữ ệ
nh ng ng i m v i phong t c “búi tóc sau u” (tóc cu n thành búi sauữ ườ ẹ ớ ụ đầ ộ
gáy t o cho ng i ph n m t v p n tính, thu n h u r t riêng). Nét ạ ườ ụ ữ ộ ẻ đẹ ữ ầ ậ ấ
p y g i nh ca dao:đẹ ấ ơ ớ
Tóc ngang l ng v a ch ng em b iư ừ ừ ớ
chi dài cho r i lòng anhĐể ố
- Nguy n Khoa i m ti p t c g n dòng suy t ng n con ng i ngàn ễ Đ ề ế ụ ắ ưở đế ườ
i c trú, lao ng, chi n u trên m nh t Vi t gi gìn tôn t o đờ ư độ ế đấ ả đấ ệ để ữ ạ
m nh t thân yêu. ó o lí ân ngh a th y chung ã tr thành truy n ả đấ Ở đ đạ ĩ ủ đ ở ề
th ng ngàn i c a dân t c: "Cha m th ng nhau b ng g ng cay mu i ố đờ ủ ộ ẹ ươ ằ ừ ố
m n". Ý th c toát lên t nh ng câu ca dao p:ặ ơ đượ ừ ữ đẹ
“Tay b ng a mu i chén g ngư đĩ ố ừ
G ng cay mu i m n xin ng quên nhau”ừ ố ặ đừ
- Thành ng “g ng cay mu i m n” c v n d ng m t cách c s c ữ ừ ố ặ đượ ậ ụ ộ đặ ắ
trong câu th nh nhàng mà th m m bi t bao ân tình. Nó g i lên ơ ẹ ấ đượ ế ợ
c ân ngh a th y chung i: g ng càng già càng cay, mu i càng lâuđượ ĩ ủ ở đờ ừ ố
n m càng m n, con ng i s ng v i nhau lâu n m thì tình ngh a càng ă ặ ườ ố ớ ă ĩ
ong y. Có l chính vì v y mà t N c còn ghi d u n c a cha c a đ đầ ẽ ậ Đấ ướ ấ ấ ủ ủ
m b ng Hòn tr ng mái, núi V ng Phu, Hòn Tr ng Mái… i vào n m ẹ ằ ố ọ ố đ ă
tháng.
- Câu th "Cái kèo cái c t thành tên", g i nh c cho ng i c nh n ơ ộ ợ ắ ườ đọ ớ đế
t c làm nhà c c a ng i Vi t. ó là t c làm nhà s d ng kèo c t gi ng ụ ổ ủ ườ ệ Đ ụ ử ụ ộ ằ
gi vào nhau làm cho nhà v ng chãi, b n ch t tránh c m a gió, thú ữ ữ ề ặ đượ ư
d . ó c ng là ngôi nhà t m cho m i gia ình oàn t bên nhau; siêng ữ Đ ũ ổ ấ ọ đ đ ụ
n ng tích góp m màu d n thành s s ng. T ó, t că ỡ ồ ự ố ừ đ ụ t tên con “cái đặ
Kèo, cái C t” c ng ra i.ộ ũ đờ
- âu ch có nh ng v p trên, dân t c ta còn có truy n th ng lao ng Đ ỉ ữ ẻ đẹ ộ ề ố độ
c n cù, ch u th ng ch u khó “H t g o ph i m t n ng hai s ng xay giã ầ ị ươ ị ạ ạ ả ộ ắ ươ
th th tâm tình nh ng v n mang m h n th tri t lí.ủ ỉ ư ẫ đậ ồ ơ ế
III. K T BÀIẾ
Tóm l iạ , o n th ta v a phân tích trên là o n th hay nh t trong bàiđ ạ ơ ừ ở đ ạ ơ ấ
th t N c. Qua o n th , nhà th ã mang n cho ng i c v ơ Đấ ướ đ ạ ơ ơ đ đế ườ đọ ẻ
p c a m t t N c giàu v n hóa c truy n. t N c c a truy n đẹ ủ ộ Đấ ướ ă ổ ề Đấ ướ ủ ề
th ng, phong t c t i p mang m d u n c a t t ng t N c ố ụ ươ đẹ đậ ấ ấ ủ ư ưở Đấ ướ
c a nhân dân.ủ
ĐẤT NƯỚC
Nguyễn Khoa Điềm
Phân tích đoạn thơ sau để làm rõ tư tưởng “Đất Nước của nhân dân” trong đoạn
trích Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm:
“Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu
Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái
Người học trò nghèo góp cho Đất nước mình núi Bút non Nghiên
Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại
Chín mươi chín con voi góp mình dựng đất Tổ Hùng Vương
Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm
Con cóc, con gà quê hương cùng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh
Những người dân nào đã góp tên ông Đốc, ông Trang, bà Đen, bà Điểm
Và ở đâu trên khắp ruộng đồng, gò bãi
Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha
Ôi đất nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy
Những cuộc đời đã hoá núi sống ta…”
MỞ BÀI
1. Dẫn dắt vào đề:
Hình ảnh đất nước đã khơi nguồn cảm hứng vô tận cho biết bao thi sĩ Cách
mạng để sáng tạo nên những vần thơ đẹp tuyệt vời. Nhà thơ Chế Lan Viên đã nhìn
suốt chiều dài lịch sử oanh liệt để khẳng định: “Tổ quốc bao giờ đẹp thế này
chăng?”. Lê Anh Xuân đã tạc vào thơ một dáng đứng Việt Nam với hình ảnh: “Từ
dáng đứng của anh giữa đường băng Tân Sơn Nhất; Tổ quốc bay lên bát ngát mùa
lí giải đầy sức thuyết phục của mình, Nguyễn Khoa Điềm đã khẳng định: Nhân dân
làm nên đất nước, “Đất Nước này là đất nước của nhân dân”.
a. Nguyễn Khoa Điềm đã có những phát hiện mới mẻ về thiên nhiên địa
lí của đất nước:
- Để nói lên công lao to lớn của nhân dân trong quá trình dựng nước và giữ
nước, nhà thơ đã nhắc đến những danh lam thắng cảnh, những tên đất, tên làng trên
mọi miền đất nước từ Nam chí Bắc.
+ Nguyễn Khoa Điềm đã nhìn thấy hình sông, thế núi là sự kết tinh đời sống
tâm hồn của nhân dân. Xuất phát từ quan niệm của nhà Phật (hóa thân), tác giả đã
trình bày những cảm xúc, suy tưởng của mình: chính nhân dân đã hoá thân thành
đất nước “hóa thân cho dáng hình xứ sở” làm nên đất nước vĩnh hằng.
+ Qua cảm nhận của Nguyễn Khoa Điềm, những danh lam thắng cảnh không
còn là những cảnh thú thiên nhiên thuần tuý nữa mà đã được cảm nhận thông qua
những cảnh ngộ, số phận của nhân dân, được nhìn nhận như là những đóng góp của
nhân dân, sự “hoá thân” của những con người không tên không tuổi.
Chúng chỉ trở thành thắng cảnh khi đã gắn liền với cuộc sống của nhân dân,
với con người, được tiếp nhận, cảm thụ quan tâm hồn nhân dân và qua lịch sử của
dân tộc.
- Tư tưởng “Đất Nước của nhân dân” khiến cho những địa danh ngàn đời của
Tổ quốc qua cái nhìn sắc sảo đầy khám phá của nhà thơ chính là sự hoá thân của
những con người bình dị, vô danh những con người “không ai nhớ mặt đặt tên”
“nhưng họ đã làm ra đất nước”:
“Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất nước những núi Vọng Phu
Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái”
+ Những địa danh, những hình sông thế núi mang hình người, linh hồn dân
tộc. Chúng là sự tượng hình kết tinh đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân mang
đậm chủ nghĩa nhân văn, nhân đạo Việt Nam.
+ Núi Vọng Phu ở Lạng Sơn, Thanh Hóa, Bình Định…, hòn Trống Mái ở
Sầm Sơn là do "những người vợ nhớ chồng" hoặc những "cặp vợ chồng yêu nhau"
mà "góp cho", "góp thêm", làm đẹp thêm, tô điểm cho Đất Nước. Núi Vọng Phu,
và truyền thống. Chính cái "gót ngựa của Thánh Gióng" đã "để lại" cho đất nước
bao ao đầm ở vùng Hà Bắc ngày nay. "Chín mươi chín" núi con Voi đã quần tụ,
chung sức chung lòng "góp mình dựng đất tổ Hùng Vương”.
- Cho đến “những con rồng nằm im” cũng góp phần làm nên “dòng sông
xanh thẳm”, “con cóc, con gà quê hương cũng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh”
và cả những địa danh thật nôm na, bình dị “những ông Đốc, ông Trang, bà Đen, bà
Điểm”.
+ “Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm”. Những dòng sông
trên đất nước ta là do rồng "nằm im" từ bao đời nay. Nhờ đó mà quê hương ta có
"dòng sông xanh thẳm", thơ mộng cho nước ngọt phù sa, nhiều tôm cá, mênh mông
biển lúa bốn mùa.
+ Tư tưởng "Đất Nước của nhân dân" cũng thể hiện trong kì quan nổi tiếng,
những tên tuổi có công với dân với nước:
"Con cóc con gà quê hương cùng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh
Những người dân nào đã góp tên ông Đốc, ông Trang, bà Đen, bà Điểm"
Theo cảm nhận của Nguyễn Khoa Điềm, Hạ Long trở thành kì quan, thắng
cảnh là nhờ có "con cóc, con gà quê hương cùng góp cho".
Những tên làng, tên núi, tên sông như "Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà
Điểm " là do những con người vô danh, bình dị làm nên.
+ Nguyễn Khoa Điềm đã đặt cái nhìn trân trọng của mình vào nhân dân
không tên không tuổi, “những người dân nào” không ai biết cũng làm nên tên núi,
tên sông và tất cả những cái bình thường trong cuộc sống hàng ngày của nhân dân
cũng hoá thân thành “dáng hình xứ sở”. Những địa danh ở vùng cực Nam đất nước
xa xôi này tượng trưng cho tinh thần xả thân vì cộng đồng, đức tính cần cù, siêng
năng, dũng cảm trong lao động sáng tạo của nhân dân ta.
+ Để khẳng định và nhấn mạnh tư tưởng "Đất nước của nhân dân " và chính
nhân dân vô tận, những người vô danh không tên không tuổi đã làm nên đất nước, ở
đoạn thơ trên tác giả đã sử dụng rất thành công điệp từ "góp", một động từ diễn đạt
hành động "cùng mọi người đưa cái riêng của mình vào thành cái chung" (Từ điển
Tiếng Việt - trang 758)
A.TÁC GIẢ
– Nguyễn Khoa Điềm là một trong những nhà thơ tiêu biểu của thế hệ nhà
thơ trẻ, có những đóng góp nổi bật cho thơ ca Việt Nam trong những năm kháng
chiến chống Mỹ cứu nước.
– Thơ ông giàu chất suy tư, trầm lắng, cảm xúc dồn nén, thể hiện tâm tư của
người trí thức tham gia tích cực vào cuộc kháng chiến.
– Tác phẩm tiêu biểu: Đất ngoại ô, trường ca Mặt đường khát vọng, Ngôi
nhà có ngọn lửa ấm…
B. Đoạn trích ĐẤT NƯỚC
1. HOÀN CẢNH SÁNG TÁC:
- Sáng tác vào mùa đông năm 1971, tại chiến trường Trị – Thiên. Đây
là thời điểm mà cuộc chiến tranh chống Mỹ đang hồi quyết liệt.
- Trích chương V trong trường ca “Mặt đường khát vọng” (1971).
- “ Mặt đường khát vọng” là bản trường ca viết về sự thức tỉnh của tuổi
trẻ các thành thị vùng tạm bị chiếm miền Nam, nhận rõ bộ mặt xâm
lược của Đế quốc Mĩ, hướng về nhân dân, đất nước, xuống đường đấu
tranh hòa nhịp với cuộc chiến đấu chung của dân tộc.
2. ĐỀ TÀI:
- ĐẤT NƯỚC là đề tài quen thuộc, phổ biến trong thơ ca, nhạc họa…
- Đối với các nhà thơ trẻ thời chống Mỹ, đề tài Đất nước được cảm
nhận theo cách riêng mang dấu ấn của sự trải nghiệm bằng cuộc sống
của chính mình.
- Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã dóng góp một tiếng nói rất riêng về
đề tài quen thuộc này.
C. NỘI DUNG
1. Cảm nhận và lý giải của nhà thơ về đất nước
a. Đất nước có từ bao giờ? Đất nước ở đâu?
– Đất nước có trong nhận thức, tình cảm của mỗi người như một
điều hiển nhiên “Khi ta lớn lên dất nước đã có rồi”.
– Đi tìm nguồn cội của Đất nước nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm
cảm nhận Đất nước có cội nguồn từ xa xưa, có trong chiều sâu của nền
văn hóa dân tộc, trong bề dày của văn học dân gian và ngay trong
những sự vật gần gũi với mỗi người, mỗi gia đình. Đất nước trong cảm
nhận của nhà thơ thật gần gũi, dung dị, đời thường.
- Qua đoạn thơ, tác giả bày tỏ niềm tự hào về một đất nước có một nền
văn hóa lâu đời mang những nét đặc thù riêng.
b. Đất nước là gì?
v Đất nước là không gian địa lý mênh mông, bao la:
- Trong không gian cụ thể, gần gũi, gắn bó với kỷ niệm, với tình yêu
của mỗi người:
+ Đất là nơi anh đến trườngà không gian quen thuộc gắn liền với
thời thơ ấu của mỗi người.
+ Nước là nơi em tắm à Không gian nhỏ bé,gần gũi trong đời sống,
phải chăng còn gợi liên tưởng những giếng làng, những ao hồ, sông
nước của làng quê VN?
+Đất nước là nơi ta hò hẹn…là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong
nỗi nhớ thầmàKhông gian gần gũi gắn liền với kỉ niệm tình yêu đôi
lứa. Câu thơ mang hơi thở dân gian, gợi nhớ bài ca dao Khăn thương
nhớ ai…
- Trong không gian mênh mông, bao la gắn liền với đời sống của một
dân tộc àLà những không gian quen thuộc mà thiêng liêng, lớn lao:
+ Lãnh thổ của một quốc gia: Đất là nơi “con chim phượng hoàng
bay về hòn núi bạc”/ Nước là nơi “con cá như ông móng nước biển
khơi”àMượn lời bài dân ca Bình Trị Thiên nhà thơ cảm nhận về đất
nước với niềm tự hào vô hạn về một quốc gia có chủ quyền. Ý thơ
gợi nhớ bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên trong văn học nước nhà “
Sông núi nước Nam” của Lý Thường kiệt.
+ Không gian sinh tồn của cộng đồng dân tộc “ Đất nước là nơi dân
mình đoàn tụ”.
v Đất nước là thời gian lịch sử “ đằng đẵng” của quá khứ, hiện