Sinh viên: Vũ Thị Hồng Hà Lớp: Ngân hàng 44B
Lời mở đầu
Ngay từ khi ra đời, Ngân hàng thương mại đã luôn chứng tỏ vai trò
quan trọng của nó trên lĩnh vực tiền tệ với nội dung hoạt động chủ yếu là
nhận gửi và cho vay. Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường, khi đồng
vốn được coi là một trong những điều kiện tiên quyết thì nhu cầu về vốn
tín dụng càng cao hơn bao giờ hết.
Công cuộc Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá do Đảng khởi xướng,
nhằm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp vào năm 2020,
tránh nguy cơ tụt hậu ngày càng xa với các nước khác. Trong khi nền
kinh tế còn trong tình trạng lạc hậu, muốn phát triển nhanh, đón đầu công
nghệ, chúng ta cần đầu tư theo chiều sâu, với lượng vốn lớn để thay đổi
máy móc, thiết bị và công nghệ.
Vốn để đầu tư được hình thành từ nhiều nguồn. Với quan điểm
phát huy nội lực thông qua các nguồn trong nước như nguồn từ ngân
sách, dân chúng, các tổ chức trung gian tài chính… trong điều kiện đất
nước còn nghèo, tổng sản phẩm quốc dân (GDP) còn thấp, môi trường
đầu tư còn nhiều hạn chế thì nguồn vốn tín dụng từ các NHTM được coi
là quan trọng nhất.
Muốn đầu tư mang lại hiệu quả cả phương diện vi mô và vĩ mô,
nghĩa là vừa giúp nền kinh tế phát triển, vừa mang lại lợi nhuận cho Ngân
hàng, chúng ta cần có hoạt động tín dụng nói chung, hoạt động tín dụng
trung dài hạn nói riêng, có chất lượng cao. Trên tinh thần đó, em chọn đề
tài:”Chấm điểm tín dụng các doanh nghiệp tại Ngân hàng ngoại
thương Việt Nam”
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
1
Sinh viên: Vũ Thị Hồng Hà Lớp: Ngân hàng 44B
Chương 1/ Tổng quan về phương pháp chấm điểm tín
dụng tại Ngân hàng thương mại(NHTM).
1.1/Sự cần thiết phải chấm điểm tín dụng.
nhiều nước trong khu vực, CĐTD từ lâu đã trở thành một yếu tố thiết yếu
mang tính “truyền thống” trong việc đánh giá rủi ro tín dụng và duy trì kỷ
luật ngân hàng.
1.2/ Khái niệm và mục đích của chấm điểm tín dụng.
1.2.1/ Khái niệm.
CĐTD là một phương thức để đánh giá rủi ro của những đối tượng
đi vay. Theo đó ngân hàng sử dụng phương pháp thông kê, nghiên cứu
dữ liệu để đánh giá rủi ro của người vay. Phương pháp này đưa ra “điểm”
mà ngân hàng có thể sử dụng để xếp loại những người xin vay xét về độ
mạo hiểm. Để tạo dựng một hình mẫu chấm điểm, hay một “bảng điểm”,
thì những nhà kinh tế phân tích những dữ liệu trong quá khứ về sự thực
hiện các khoản vay trước đó để quyết định những đặc điểm của những
người đi vay nào là hữu ích trong việc phỏng đoán xem liệu khoản vay đó
có phát huy tốt tác dụng không. Một hình mẫu được thiết kế tốt sẽ đưa ra
tỷ lệ điểm cao nhiều hơn cho những người đi vay có khả năng sử dụng
vốn vay hiệu quả và ngược lại, tỷ lệ phần trăm điểm thấp nhiều hơn cho
những người đi vay mà những khoản vay ít phát huy tác dụng. Nhưng
không có hình mẫu nào là hoàn hảo, cho nên đôi khi có những đối tác
không tốt lại nhận được điểm cao hơn. Thông tin của những người đi vay
được thu nhận từ những bản đăng ký và từ bưu cục tín dụng những dữ
liệu như thu nhập hàng tháng của doanh nghiệp đi vay, khoản nợ đọng, tài
sản tài chính, khoản thời gian mà doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực
kinh doanh của mình, liệu doanh nghiệp đã từng phạm lỗi trong một
khoản vay trước đó hay không, liệu và loại tài khoản ngân hàng mà doanh
nghiệp đi vay có là tất cả những yếu tố tiềm năng có khả năng đánh giá
được khoản vay mà có thể được sử dụng trong bảng điểm. Phân tích tổng
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
3
Sinh viên: Vũ Thị Hồng Hà Lớp: Ngân hàng 44B
hợp liên quan đến khoản vay từ những biến số ở trên được sử dụng để tìm
phải chịu do khách hàng vay không trả đúng hạn, không trả hoặc không
trả đầy đủ vốn và lãi. Rủi ro này luôn tiềm ẩn và là một tất yếu trong hoạt
động của bất kỳ ngân hàng nào. Các ngân hàng sẽ đặt ra cho mình một
chiến lược quản lý nợ và nếu tỷ lệ tổn thất tín dụng đạt dưới mức dự kiến
của ngân hàng thì đó được coi là một thành công. Để giảm thiểu tổn thất
này , chúng ta cần đi sâu phân tích để tìm ra chiến lược tối thiểu hoá rủi ro
tín dụng.
Rủi ro tín dụng của một khoản vay trong một thời kỳ bao gồm xác
suất vỡ nợ (XSVN) và phần giá trị của khoản vay có thể bị mất nếu
người vay vỡ nợ( GTBM). GTBM của một khoản vay tín dụng phụ thuộc
vào cơ cấu của khoản vay đó , còn XSVN thường phụ thuộc vào người
vay và các ngân hàng thường giả định rằng một con nợ sẽ không trả được
tất cả các khoản nợ của mình nếu người này không trả được khoản nợ
trước đó. Mức tổn thất dự tính (TTDT) bằng tích của XSVN và GTBM
của một khoản vay.
Trong một cuộc nghiên cứu của Ngân hàng Trung ương Australia
được khảo sát đều sử dụng hệ thống xếp hạng theo hai tiêu chi riêng biệt:
một mức xếp hạng phản ánh XSVN, một mức xếp hạng phản ánh GTBM
và một mức xếp hạng tổng hợp phản ánh TTDT. Còn theo một cuộc khảo
sát đối với 50 ngân hàng lớn của Mỹ ( Treasy & Carey, 1998), có khoảng
60% có hệ thống xếp hạng theo một tiêu chí, tức là các ngân hàng này xếp
hạng theo khoản vay(GTBM). Trên thực tế , các ngân hàng nhỏ hơn
thường sử dụng hệthống xếp hạng theo phương thức này. Còn 40% có hệ
thống xếp hạng theo hai tiêu chí, trong đó một mức xếp hạng phản ánh
XSVNcủa người vay và một mức phản ánh TTDT của các khoản vay.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
5
Sinh viên: Vũ Thị Hồng Hà Lớp: Ngân hàng 44B
Những ngân hàng có hệ thống này thường xác định thứ hạng của người
vay trước, sau đó xác định một mức GTBM chuẩn hoặc bình quân. Tuy
suất cho vay, và xác định yêu cầu về tài sản đảm bảo.
- Đánh giá hiện trạng khách hàng trong khi khoản tín dụng chưa
được hoàn trả hết. Những đánh giá này cho phép ngân hàng dự
đoán những rủi ro có thể xảy ra đối với khoản vay và chủ động
trong quản lý danh mục tín dụng từ đó trích dự phòng rủi ro.
- Làm cơ sở để xây dựng chính sách khách hàng ( ví dụ : chính sách
về giá cả, chiến lược marketing nhằm vào khách hàng có ít rủi ro
hơn)
Tóm lại mục đích cuối cùng của chấm điểm tín dụng là nâng cao
chất lượng và hiệu quả của hoạt động tín dụng.
Xếp hạng doanh nghiệp là một đòi hỏi tất yếu khách quan
tronghoạt động kinh tế của bất kỳ quốc gia nào trên thế giới. Kết quả của
hoạt động xếp hạng doanh nghiệp phục vụ không chỉ co một cá nhân, tổ
chức mà còn tác động đến rất nhiều chủ thể khác nhau, có quan hệ kinh
doanh hay tín dụng với doanh nghiệp. Xét đến cùng , mục đích cơ bản ,
quan trọng hàng đầu của xếp hạng doanh nghiệp là đưa ra được thứ hạng
của doanh nghiệp dựa trên việc chấm điểm các chỉ tiêu có sẵn để từ đó
đưa ra các kết luận, nhận xét về doanh nghiệp và ra các quyết định chính
xác, kịp thời. Khi công tác xếp hạng doanh nghiệp đạt được những mục
đích đặt ra, nó sẽ tác động tích cực đến doanh nghiệp và các chủ thể liên
quan, đồng thời tăng tính ổn định cho nền kinh tế. Rõ ràng, xếp hạng
doanh nghiệp đang đóng một vai trò to lớn đối với các chủ thể trong nền
kinh tế, quyết định đến việc ra quyết định kinh doanh và đầu tư , và đối
với mỗi chủ thể khác nhau, vai trò này lại được thể hiện trên những khía
cạnh riêng khác biệt.
1.2.2.2/ Vai trò của CĐTD đối với chính bản thân doanh nghiệp .
Công tác xếp hạng doanh nghiệp có một ý nghĩa vô cùng quan
trọng đối với hoạt động của doanh nghiệp. Là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
8
Sinh viên: Vũ Thị Hồng Hà Lớp: Ngân hàng 44B
nghiệp trong quá khứ và hiện tại dựa trên các tài liệu thu thập đuợc để từ
đó dự đoán được tình hình hoạt động của doanh nghiệp, khả năng thu hồi
vốn gốc, lãi trong thời gian tới. Tuy nhiên, các tài liệu mà các nhà đầu tư
có được thường là rất phức tạp, một nhà đầu tư thông thường thì không
thể đủ khả năng để tiến hành tổng hợp, phân tích được hoặc nếu có phân
tích thì cũng mất nhiều thời gian do đó có thể khi phân tích , xếp hạng
doanh nghiệp xong thì cơ hội đầu tư cũng không còn.
Do vậy việc có sẳn một bảng các chỉ tiêu đánh giá khả năng trả nợ
của doanh nghiệp hoặc kết quả của côngtác xếp hạng doanh nghiệp là cực
kỳ hữu ích đối với các nhà đầu tư . Như vậy khi có bảng các chỉ tiêu xếp
hạng doanh nghiệp hoặc thứ hạng của doanh nghiệp, nhà đầu tư có thể
biết ngay mức độ rủi ro của khoản đầu tư, đây là căn cứ để nhà đầu tư ra
các quyết định đầu tư đúng. Với tư cách là nhà đầu tu, các TCTD cũng sử
dụng xếp hạng doanh nghiệp làm cơ sở cho việc đánh giá rủi ro tronghoạt
động cho vay, là nhân tố quan trọng trong quyết định cho vay. Bên cạnh
đó xếp hạng doanh nghiệp còn là cơ sở để các nhà đầu tư quản lý danh
mục đầu tư. Điều này thực sự có ý nghĩa ở các nước có hoạt động xếp
hạng doanh nghiệp phát triển. Thực vậy, đối với các nước này, việc biết
được một doanh nghiệp đang ở mức độ nào là khá dễ dàng nên sự thay
đổi thứ hạng của doanh nghiệp có ảnh hưởng đến giá trị của doanh
nghiệp( thể hiện thông qua sự lên xuống giá cổ phiếu ). Các nhà đầu tư
dựa vào sự thay đổi này để thay đổi danh mục đầu tư nhằm thu được lợi
nhuận tối đa mà vẫn đảm bảo được mức độ an toàn nhất định.
Các trung gian tài chính là những nhà đầu tư lớn gồm có các tổ
chức chuyên thực hiện bảo lãnh và giao dịch chứng khoán như ngân hàng,
công ty chứng khoán, công ty bảo hiểm…
Do có mối quan hệ thanh toán, tín dụng đối với các doanh nghiệp ,
so với các phương pháp thẩm định rủi ro tín dụng trước đó. Xác định mô
hình có lẽ là bước quan trọng nhất trong các bước xây dựng hệ thống
chấm. Nó đòi hỏi người thực hiện phải tiếp xúc với nhiều đối tượng, phân
tích các dữ liệu sẵn có để trả lời cho câu hỏi: “ Cách chấm này có phù hợp
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
10
Sinh viên: Vũ Thị Hồng Hà Lớp: Ngân hàng 44B
với ngân hàng không?”. Sau đây là một số mô hình đang được sử dụng
rộng rãi bởi nhiều NHTM trong việc xác định thứ hạng rủi ro:
1.3.1/ Mô hình xác định rủi ro theo xác suất vỡ nợ.
Một trong những cách chủ yếu để ước tính được xác suất vỡ nợ
bình quân cho mỗi thứ hạng rủi ro là sử dụng các mô hình thống kê dự
đoán. Các mô hình này được xây dựng trên cơ sở dữ liệu về tổn thất tín
dụng từ các nguồn ( như từ trung tâm tín dụng), thường bao gồm các dữ
liệu tài chính của người vay và thông tin về người vay đã vỡ nợ.Hầu hết
các ngân hàng có hệ thống xếp hạng tín dụng đều dùng những mô hình
này để đưa ra và xem xét lại các thứ hạng tín dụng nội bộ. Để xây dựng
các mô hình này , trứơc hết ngân hàng phải xác định các biến số tài chính
có thể cung cấp các thông tin về XSVN ( như tỉ lệ tài sản Nợ/tài sản Có,
thu nhập ròng/tài sản Có…) BÀng phân tích các số liệu về quá khứ, ngân
hàng ước tính tác động của từng biến số này lên khả năng vỡ nợ của một
mẫu các khoản tín dụng được xem xét. Sau đó những hệ số ước tính này
được áp dụng cho các khoản tín dụng hiện tại để đưa ra một điểm sô phản
ánh về XSVN, tiếp đó, điểm số này được chuyển thành một mức xếp
hạng rủi ro. Mô hình chấm điểm này dựa trên phương pháp xây dựng mô
hình CreditMonitor của KMV hay mô hình RiskCalc của công ty xếp
hạng tín dụng Moody’s.
* Mô hình cơ cấu.
Mô hình của Merton (1974) về dự đoán PD của các công ty có cổ
phiếu được niêm yết trênthị trường chứng khoán đã giúp các NHTM có
vay vốn nên chúng có lợi thế về độ tin cậy thống kê. Nhưng chúng
lại có một nhược điểm là tập hợp khách hàng này có thể khác với
tập hợp khách hàng của ngân hàng. Để chứng minh tính khả dụng
này, các ngân hàng thường tiến hành nghiên cứu các vụ vỡ nợ căn
cứ vào hoạt động tín dụng lịch sử của ngân hàng và so sánh kết quả
này với các kết quả từ mô hình xếp hạng ngân hàng định mua từ
bên ngoài.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
12
Sinh viên: Vũ Thị Hồng Hà Lớp: Ngân hàng 44B
Tuy đa phần các NHTM đều dùng các mô hình thông kê như một
bộ phận của hệ thống XHTD của mình, nhưng họ vẫn đồng thời sử
dụng mô hình xếp hạng định tính( dựa vào sự đánh giá chủ quan)
trong quá trình xếp hạng , mà các mô hình này cho phép người xếp
hạng điều chỉnh các thứ hạng đó tới một mức độ nhất định dựa trên
những yếu tố định tính.
1.3.2/ Định thứ hạng rủi ro theo phần giá trị người vay có thể bị mất
nếu người vay vỡ nợ.
Đối với một khoản tín dụng nhất định, luụn cú:
GTBM = 1 - tỉ lệ thu hồi lại vốn cho vay.
GTBM có thể ở mức từ 0 đến 100%. Tuy nhiên, theo Uỷ ban Basel,
đối với các danh mục tài sản có cả các khoản tín dụng lớn và nhỏ thì các
NHTM nên giả định rằng GTBM là một số không đổi mặc dù điều này có
thể làm hạ thấp khả năng xảy ra tổn thất vốn lớn. Phương pháp xác định
GTBM đơn giản nhất là ước tính một tỉ lệ GTBM duy nhất , số này có thể
là một giá trị trung bình hoặc là một giới hạn trần của giá trị trung bình
này. Một phương pháp khác ước tính GTBM theo một hàm phân bố xác
suất , như hàm phân bố beta.
Bên cạnh các thứ hạng GTBM còn được xác định bởi một trong các
cách sau:
- Phân tích các mô hình áp dụng trước đây, các mẫu và đơn đăng ký
để tìm những điều chưa hợp lý từ đó có những cải tiến cho phù
hợp.
- Phân tích các khoản vay trước đây để xác định xem liệu chấm điểm
tín dụng có thể đảm bảo tính an toàn của các khoản vay tốt hơn các
phương pháp trước đây không.
- Đi thực tế tại các chi nhánh để tìm hiểu quy trình tín dụng được áp
dụng mỗi nơi có gì khác nhau, những điểm không thống nhất và
không hợp lý của chi nhánh trong cùng một hệ thống.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
14
Sinh viên: Vũ Thị Hồng Hà Lớp: Ngân hàng 44B
Cuối cùng , nhà phân tích phải quyết định dữ liệu về các khoản nợ
được lưu trữ như thế nào tại ngân hàng. Các dữ liệu này đóng vai trò khá
quan trọng vì nó là một trong các nguyên liệu bổ trợ cho quá trình chấm
điểm tín dụng.
1.4/ Vị trí của chấm điểm tín dụng trong quy trình tín dụng đối với
khách hàng là doanh nghiệp.
Mỗi ngân hàng thương mại trong quá trình hoạt động đều xác định
riêng cho mình một quy trình tín dụng đối với khách hàng đặc biệt là
khách hàng doanh nghiệp. Quy trình cơ bản gồm:
- Xác định giới hạn tín dụng(GHTD): để xác định GHTD cần qua 4
bước sau
o Đề xuất GHTD: phòng ban liên quan thu thập thông tin và hồ
sơ tài liệu cần thiếtcủa khách hàng và chịu trách nhiệm lập
báo cáo đề xuất GHTD.
o Thẩm định rủi ro- Xác định GHTD: căn cứ vào các thông tin
nêu tại Báo cáo đè xuất GHTD và các thông tin tự thu thập
được, phòng tín dụng sẽ lập báo cáo thẩm định rủi ro và xác
định GHTD đối với doanh nghiệp theo quy định cụ thể của
Trong quy trình nêu trên thì cho điểm tín dụng , xếp hạng doanh
nghiệp nằm được thực hiện khi ngân hàng thẩm định rủi ro, đay là bước
đánh giá rủi ro toàn diện và chi tiết đối với khoản đề xuất tín dụng. Trước
khi chấm điểm, phòng tín dụng của ngân hàng cần :
- Xem xét tính hợp pháp của đối tượng xin vay và khoản vay ví dụ
như thực hiện (i) kiểm tra hồ sơ pháp lý của doanh nghiệp (ii) Sự
hợp pháp của nghành nghề/ mặt hàng sản xuất kinh doanh đang đề
cập (iii) Tỷ lệ vố tự có tối thiểu khách hàng phải tham gia theo quy
định .v.v.
- Kiểm tra sự đầy đủ về số lượng các loại giấy tờ cần phải xuất trình
theo quy định và tính phù hợp giữa các loại giấy tờ trong bộ hồ sơ.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
16
Sinh viờn: V Th Hng H Lp: Ngõn hng 44B
- Nu khon ố xut tớn dng nm ngoi cỏc quy nh cú liờn quan
ca phỏp lut u b t chi.
- Cn c vo chớnh sỏch qun lý ri ro hin hnh ca ngõn hng v
ca chi nhỏnh kim tra (i) khon xut tớn dng cú thuc danh
mc ngnh ngh cm hoc hn ch tớn dng?(ii) Cú vt gii hn
cp tớn dng c phộp? .v.v.
T cỏc thụng tin nờu ti Bỏo cỏo xut tớn dng v cỏc thụng tin
khỏch m cỏn b tớn dng thu thp c, h s tin hnh cho im tớn
dng v phõn loi khỏch hng theo quy nh hin hnh ca ngõn hng.
õy l c s ht sc quan trng i n vic quyt nh cú th chp nh
khon xut tớn dng hay khụng da vo vic thm nh chi tit cỏc
loi ri ro liờn quan n tỡnh hỡnh ti chớnh, tỡnh hỡnh phi ti chớnh v ri
ro ngnh ngh kinh doanh chớnh ca doanh nghip.
hu ht cỏc ngõn hng cỏc nhõn viờn tớn dng l ngi thc hin
vic xp hng tớn dng. Sauk hi khon vay c phờ chun, ngi a ra
mc xp hng ban u thng chu trỏch nhim i vi vic giỏm sỏt
bao cấp cũ, các doanh nghiệp nhà nớc thờng đợc u tiên hơn , nhận đợc
nhiều sự hỗ trợ không nhỏ từ nhà nớc. Những u tiên này đợc thể hiện qua
các chính sách u đãi, các khoản hỗ trợ tài chính .v.v. Việc đợc nhà nớc sở
hữu là một bảo đảm to lớn đối với các doanh nghiệp có tham gia hoạt động
kinh doanh với các doanh nghiệp nhà nớc. Tuy nhiên không hẳn các doanh
nghiệp khác không có u thế. Cỏc cụng ty liên doanh hoc doanh nghip
100% vn nc ngoi khi u t vn vo th trng Vit Nam cú nhiu
thun li nh cú mỏy múc, cụng ngh hin i li c Chớnh ph to
iu kin thụng qua chớnh sỏch khuyn khớch m ca u t. Vi tỏc
phong kinh doanh chuyờn nghip cỏc doanh nghip ny thng lm n cú
hiu qu hn cỏc doanh nghip nh nc. Bờn cnh ú, cỏc doanh nghip
thuc s hu cỏ nhõn li cú s phỏt trin khụng ng u. Thc t ny
phỏt sinh t kh nng qun lý ca lónh o n s vn c u t vo
Chuyờn thc tp tt nghip
18
Sinh viên: Vũ Thị Hồng Hà Lớp: Ngân hàng 44B
doanh nghiệp, ngoài ra cũng vì họ ít nhận được sự hỗ trợ từ phía nhà nước
. Có thể thấy đây là loại hình ít thuận lợi nhất so với các thành phần khác.
Như vậy hình thức sở hữu doanh nghiệp có tác động không nhỏ đến
hiệu quả kinh doanh đồng nghĩa với việc nó cũng ảnh hưởng tới khả năng
trả các món nợ cho ngân hàng. Các tác động này không chỉ do các chính
sách ưu đãi của nhà nước mà còn do chủ thể đứng sau của doanh nghiệp.
Tầm quan trọng của chủ thể này càng cao thì mức độ đảm bảo của các
khoản vay doanh nghiệp do chủ thể sở hữu cũng sẽ càng lớn. Việc quan
tâm đến hình thức sở hữu doanh nghiệp sẽ giúp ngân hàng đánh giá được
trong từng thời kỳ khác nhau, doanh nghiệp nào có ưu thế hơn sẽ được
chấm số điểm cao hơn tương ứng. Đây là một chỉ tiêu cần thiết trong quá
trình chấm điểm doanh nghiệp.
1.5.2/ Nghành nghề kinh doanh.
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, số lượng doanh nghiệp đang
hàng có những khách hàng xin vay thuộc lĩnh vực sinh học cũng sẽ yên
tâm hơn về khoản vay của họ. Tất nhiên ngân hàng sẽ cho điểm cao hơn
đối với các đơn vị này so với các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực
khác, kém nóng hơn.
Một câu hỏi đặt ra là phân chia nghành nghề trong chấm điểm tín
dụng có thật sự quan trọng? Câu trả lời là có. Những nghành nghề mũi
nhọn, hoặc cơ bản chắc chắn sẽ nhận được sự hẫu thuẫn to lớn từ Nhà
nước. Hơn nữa nếu Nhà nước đã lựa chọn đó là nghành trọng điểm nghĩa
là đang có những điều kiện rất thuận lợi để phát triển nghành. Nếu Chính
phủ không đầu tư vào nghành trọng điểm, để nghành kém phát triền sẽ có
tác động tiêu đến tổng thể cả nền kinh tế. Vì vậy khi thẩm định chấm
điểm để cấp tín dụng, việc phân chia nghành nghề là một chỉ tiêu không
thể thiếu. Ngân hàng sẽ xây dựng một khung điểm hợp lýcho các doanh
nghiệp. Nhưng khung điểm này chỉ có giá trị thời kỳ do các nghành cũng
được tập trung phát triển theo chu kỳ. Để lựa chọn mức điểm cho từng
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
20
Sinh viên: Vũ Thị Hồng Hà Lớp: Ngân hàng 44B
nghành nghề trong mỗi giai đoạn là công việc không đơn giản, nó cũng
quyết định một phần sự thành công của bảng chấm tín dụng.
1.5.3/ Quy mô vốn chủ sở hữu.
Quy mô doanh nghiệp là một chỉ tiêu tổng hợp bao gồm nhiều chỉ
tiêu đơn lẻ như tình hình thực hiện nghĩa vụ với nhà nước, tổng giá trị tài
sản, vốn chủ sở hữu, doanh thu .v.v. Trong các chỉ tiêu đó, quy mô vốn
chủ sở hữu là chỉ tiêu được quan tâm hàng đầu. Nó đựơc hiểu là toàn bộ
số vốn mà doanh nghiệp bỏ ra khi tiến hành sản xuất kinh doanh, nguồn
vốn này có thể được bổ sung hoặc giảm bớt trong quá trình hoạt động.
Khoản vốn này không chỉ nhận được sự quan tâm đặc biệt của chủ doanh
nghiệp mà còn được chủ nợ theo dõi sát sao. Trên bảng cân đối kế toán ,
tổng nguồn vốn là các khoản vay ngắn hạn,dài hạn từ các TCTD, các
quan như mùa vụ, giá cả nguyên nhiên liệu .v.v. Nói chung mỗi nghành
nghề có những đặc trưng riêng biệt nên không thể kết luận họ có cùng khả
năng đảm bảo an toàn vốn nếu chúng có cùng quy mô vốn chủ sở hữu,
hay nói cách khác , quy mô vốn lớn hay nhỏ của một nghành phải đặt
trong tương quan với các doanh nghiệp kinh doanh trong nghành thì mới
có thể đánh giá chính xác khả năng của doanh nghiệp đó.
Có thể nói tỷ trọng vốn chủ sở hữu trong doanh nghiệp làm yên
lòng các nhà đầu tư do nó là đảm bảo an toàn nhất đối với họ. Vì vậy đưa
chỉ tiêu này vào khung chấm điểm là hợp lý.
1.5.4/ Chỉ tiêu tài chính .
Đây là các chỉ tiêu phản ánh tổng quát nhất tiềm lực tài chính đồng
thời cũng phản ánh rõ nét nhất khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Các
ngân hàng với mục tiêu cao nhất và cũng là mục tiêu bắt buộc để duy trì
hoạt động của chính mình là phải thu được nợ từ khách hàng, nên việc thu
thập, phân tích và cho điểm các chỉ tiêu tài chính doanh nghiệp là hoạt
động không thể thiếu. Chỉ tiêu này gồm 5 nhóm chỉ tiêu nhỏ:
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
22
Sinh viên: Vũ Thị Hồng Hà Lớp: Ngân hàng 44B
- Nhóm chỉ tiêu phản ánh tốc độ tăng trưởng giúp nhà phân tích so
sánh tình hình hoạt động của doanh nghiệp thông qua doanh thu và
lơi nhuận hai năm. Nhóm gồm 2 chỉ tiêu:
o Tốc độ tăng doanh thu = (DT năm sau- DT năm trước)/ DT
năm trước.
o Tốc độ tăng lợi nhuận = (LN năm sau-LN năm trước)/ LN
năm trước.
- Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng hoạt động gồm có:
o Vòng quay hàng tồn kho= Giá vốn hàng bán/ Hàng tồn kho
bình quân.
o Kỳ thu tiền bình quân = Các khoản phải thu/ Doanh thu bình
này để đưa ra kết luận về doanh nghiệp.
1.5.5/ Chỉ tiêu phi tài chính.
Các chỉ tiêu trên là rất cần thiết nhưng chưa đầy đủ vì đó là các con
số dựa vào báo cáo của doanh nghiệp trong quá khứ, các ngân hàng dựa
vào đó để dự đoán khả năng tài chính của doanh nghiệp nhưng ngoài khả
năng tài chính còn một số yếu tố khác cũng quyết định đến thành công
hay thất bại của doanh nghiệp. Xem xét đến các yếu tố phi tài chính này
sẽ giúp ngân hàng đánh giá chính xác hơn doanh nghiệp yêu cầu vay vốn.
Em xin đưa ra một số chỉ tiêu mà ngân hàng quan tâm khi xây dựng hệ
thống chấm điểm:
- Uy tín trong quan hệ tín dụng bao gồm : số lần gia hạn nợ, số lần
trả chậm lãi vay, các khoản nợ quá hạn… Nếu doanh nghiệp không
thực hiện được nghĩa vụ trả nợ thì cóhai khả năng xảy ra: doanh
nghiệp gặp khó khăn về mặt tài chính hoặc doanh nghiệp không có
ýthức tốt trong việc trả nợ. Cần tìm hiểu xem doanh nghiệp khách
hàng của ngân hàng nằm trong trường hợp nào. Thường thì những
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
24
Sinh viên: Vũ Thị Hồng Hà Lớp: Ngân hàng 44B
khách hàng không có quá khứ tín dụng tốt sẽ không được chấm
điểm cao, khó có thể được cấp tín dụng hoặc nếu có thì không
nhiều.
- Sản phẩm, thị trường tiêu thụ và vị thế của doanh nghiệp:
o Thị trường tiêu thụ: Một doanh nghiệp trước khi đi vào hoạt
động phải xác định nhu cầu của thị trường , từ đó tìm ra cho
mình thị trường mục tiêu để hướng đến phục vụ. Thị trường
này đóng vai trò quyết định đối với sự tồn tại của doanh
nghiệp, vì vậy nó cũng rất được các TCTD quan tâm khi tiến
hành xếp hạng doanh nghiệp. TCTD khi tìm hiểu cần tìm ra
được xu thế phát triển thị trường, quy mô và khả năng tiêu