Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng trung dài hạn tại Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam. - Pdf 26

Khóa luận tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế thị trường khi mà các mối quan hệ hàng hoá tiền tệ
ngày càng được mở rộng thì nhu cầu giao lưu kinh tế xã hội giữa các nước
ngày càng trở nên cần thiết và cấp bách. Việc phát triển kinh tế của mỗi quốc
gia luôn gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế thế giới và là một bộ phận
cấu thành nên sự phát triển đó. Vì vậy nền tài chính của mỗi nước cũng phải
hòa nhập với nền tài chính quốc tế và NHTM cùng các hoạt động kinh doanh
của mình đã đóng góp một vai trò vô cùng quan trọng trong sự hoà nhập này.
Đặc biệt trong năm 2006 vừa qua với một loạt sự kiện quan trọng như:
Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới
(WTO) và tổ chức thành công Hội nghị cấp cao APEC lần thứ 14, Quốc hội
Mỹ thông qua dự luật quan hệ thương mại bình thường vĩnh viễn (PNTR) đối
với Việt Nam… Các doanh nghiệp Việt Nam, trong đó có các Ngân hàng
thương mại, sẽ có nhiều cơ hội để mở rộng hoạt động kinh doanh trên thị
trường quốc tế. Trong bối cảnh hội nhập đó, các Ngân hàng thương mại nước
ta sẽ phải đối mặt với những khó khăn, thách thức mới.
Hội nhập đồng nghĩa với việc Nhà nước ta phải xoá bỏ chính sách bảo
hộ các Ngân hàng trong nước và dỡ bỏ các rào cản thương mại đối với các
Ngân hàng nước ngoài theo lộ trình thực hiện cam kết gia nhập WTO. Từ
ngày 01/04/2007, nước ta sẽ cho phép các Ngân hàng nước ngoài thành lập
Ngân hàng con 100% vốn nước ngoài, đồng thời tạo điều kiện cho các Ngân
hàng nước ngoài có quyền bình đẳng với các Ngân hàng Việt Nam trong quá
trình huy động vốn và các hoạt động Ngân hàng khác. Do đó, các Ngân hàng
nước ta sẽ vừa cạnh tranh, vừa hợp tác với các Ngân hàng nước ngoài trên thị
trường Việt Nam và thị trường quốc tế.
Nguyễn Thuỳ Linh Lớp: NHA - K6
1
Tín dụng, trong đó tín dụng trung dài hạn là một lĩnh vực có vai trò đặc
biệt quan trọng đối với nền kinh tế, và cũng là lĩnh vực mà các Ngân hàng

trung dài hạn đối với các tổ chức kinh tế, phạm vi nghiên cứu là các dự án
được thực hiện tại Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam trong những năm gần
đây.
4. Phương pháp nghiên cứu
Khoá luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng,
duy vật lịch sử. Sử dụng các số liệu thực tế để luận chứng thông qua các
phương pháp so sánh, thống kê, đồ thị…
5. Kết cấu của đề tài
Đề tài được kết cấu gồm 3 phần:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về rủi ro tín dụng trung dài hạn của
Ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường
Chương 2: Thực trạng rủi ro tín dụng trung dài hạn tại Ngân hàng
Ngoại Thương Việt Nam
Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm hạn chế rủi ro tín dụng
trung dài hạn tại Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam
Hoàn thành khoá luận này, em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn,
chỉ bảo tận tình của cô giáo, Tiến sĩ Lê Thị Tuấn Nghĩa, chủ nhiệm bộ môn
tiền tệ khoa Ngân hàng cùng các anh chị cán bộ phòng Đầu tư dự án Ngân
hàng Ngoại thương Việt Nam. Do còn nhiều hạn chế về trình độ cũng như
thời gian nghiên cứu, bài khoá luận chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót, em
mong được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo cùng các anh chị.
Hà Nội, ngày tháng năm 2007
Sinh viên
Nguyễn Thuỳ Linh Lớp: NHA - K6
3
Nguyễn Thuỳ Linh
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ RỦI RO
TÍN DỤNG TRUNG DÀI HẠN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

đích sử dụng vốn… Nếu sử dụng tiêu thức thời hạn cho vay để phân loại tín
dụng, ta có thể đưa ta khái niệm về tín dụng trung dài hạn của các NHTM như
sau:
Tín dụng trung dài hạn là hình thức cấp tín dụng có thời hạn từ một
năm trở lên.
Trong đó, các NHTM thường qui định:
 Tín dụng trung hạn: là loại tín dụng có thời hạn từ 1 đến 5 năm.
 Tín dụng dài hạn: là các khoản tín dụng có thời hạn trên 5 năm.
Tín dụng trung dài hạn có các loại sau : tín dụng trung và dài hạn theo
dự án đầu tư, tín dụng thuê mua, tín dụng tuần hoàn, cho vay đồng tài trợ.
Tín dụng trung dài hạn là một nghiệp vụ chủ yếu của NHTM. Mục đích
của tín dụng trung dài hạn là đầu tư cho các dự án xây mới, hoặc tài trợ cho
các chương trình mở rộng, cải tạo khôi phục, ứng dụng khoa học, đổi mới kỹ
thuật… của doanh nghiệp.
1.1.2. Đặc điểm của tín dụng trung dài hạn
Tín dụng trung dài hạn có các đặc trưng riêng so với các loại tín dụng
khác bao gồm:
+ Vốn đầu tư lớn
Nguyễn Thuỳ Linh Lớp: NHA - K6
5
Việc đầu tư trung dài hạn nhằm vào các dự án lớn như xây dựng nhà
máy, cầu cảng, cơ sở hạ tầng, hoặc dây chuyền sản xuất… do đó mà số vốn
cần thiết cho mỗi dự án lớn gấp nhiều lần cho vay ngắn hạn.
+ Thời hạn đầu tư dài
Các dự án đầu tư thường là để tài trợ nhu cầu vốn cố định của doanh
nghiệp, tuy toàn bộ số vốn tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh nhưng
nó chỉ chuyển một phần giá trị vào các sản phẩm được sản xuất ra trong suốt
quá trình khấu hao. Do đó, việc thu nợ phải thực hiện trong thời gian dài qua
nhiều kỳ hạn nợ.
+ Tính rủi ro cao

+ Tín dụng trung dài hạn góp phần phát triển kinh tế theo chiều sâu
Một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển phải biết nắm bắt và tìm
mọi cách thoả mãn những nhu cầu không ngừng nâng cao của xã hội. Điều đó
đồng nghĩa với việc doanh nghiệp cần có vốn để không ngừng đổi mới, nâng
cao chất lượng sản phẩm. Nguồn vốn ngắn hạn sẽ chỉ đáp ứng được nhu cầu
thiếu vốn tạm thời trong doanh nghiệp chứ không thể giúp doanh nghiệp trong
việc mở rộng vốn trung dài hạn. Đối với Việt Nam, số các doanh nghiệp lớn
có khả năng kêu gọi vốn trung dài hạn trực tiếp từ thị trường chứng khoán
không nhiều, nên vay vốn từ Ngân hàng được coi là giải pháp tối ưu nhất cho
nhu cầu vốn của các doanh nghiệp. Nguồn vốn tín dụng trung dài hạn của
Ngân hàng sẽ tạo nền tảng cơ sơ vật chất kỹ thuật cho sự tăng trưởng thực sự
vững bền, đó chính là đảm bảo phát triển kinh tế theo chiều sâu.
+ Tín dụng trung dài hạn góp phần thúc đẩy, mở rộng sản xuất phát
triển
Đầu tư nhằm mở rộng sản xuất, tăng quy mô, nâng cao năng lực sản
xuất…, đòi hỏi một lượng vốn rất lớn mà không phải chủ đầu tư nào cũng có
thể đáp ứng được. Vì thế, tín dụng trung dài hạn của Ngân hàng thực sự là
một cứu cánh khi doanh nghiệp có tiềm năng mở rộng sản xuất mà chưa có
Nguyễn Thuỳ Linh Lớp: NHA - K6
7
vốn đầu tư. Khi một dự án đầu tư đi vào hoạt động, nó cũng tạo cơ hội mở
rộng sản xuất cho các nhà cung cấp nguyên liệu đầu vào, cung cấp máy móc
thiết bị, giải quyết nhân lực… Ngoài ra nhờ việc đầu tư vào máy móc, thiết bị
hiện đại, năng lực sản xuất của doanh nghiệp được tăng lên, sản phẩm sản
xuất ra có chất lượng cao, mẫu mã đẹp đáp ứng yêu cầu của thị trường nội địa
và nước ngoài, kích thích nhu cầu tiêu dùng của xã hội, tăng khả năng xuất
khẩu…
+ Tín dụng trung dài hạn góp phần tạo thị trường sử dụng vốn ngắn
hạn.
Tín dụng trung dài hạn đầu tư vào máy móc thiết bị và xây dựng cơ bản

khẩu, cân bằng cán cân thanh toán quốc tế…
Tóm lại, vốn trung dài hạn có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển của
nền kinh tế. Các NHTM ở các nước đang phát triển đều cố gắng tăng tỷ lệ dư
nợ tín dụng trung dài hạn để phục vụ quá trình CNH-HĐH đất nước.
1.2. Rủi ro tín dụng trung dài hạn của NHTM trong nền kinh tế thị
trường
1.2.1. Bản chất rủi ro tín dụng trung dài hạn
Hiện nay, hoạt động tín dụng của các NHTM Việt Nam vẫn chiếm tỷ
trọng lớn nhất trong danh mục tài sản có (trên 60%), nguy cơ phát triển tín
dụng nóng vẫn chưa được ngăn chặn hữu hiệu, kinh doanh tín dụng là hoạt
động tạo ra thu nhập chủ yếu của các Ngân hàng trong khi đó môi trường kinh
doanh tín dụng còn nhiều rủi ro. Do đó, rủi ro lớn nhất mà các NHTM Việt
Nam gặp phải chính là rủi ro tín dụng.
Vậy rủi ro tín dụng là gì?
Trong tài liệu “Công nghệ Ngân hàng dành cho các nước đang phát
triển” rủi ro tín dụng được định nghĩa là: Thiệt hại kinh tế của Ngân hàng do
một khách hàng hoặc nhóm khách hàng không hoàn trả được nợ vay của
Ngân hàng”.
Nguyễn Thuỳ Linh Lớp: NHA - K6
9
Trong tài liệu “Financial institutions management –Amodern
perpective” A.Saunder và H.Lange định nghĩa rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm
tàng khi Ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là khả năng
nguồn thu nhập dự tính mang lại từ khoản cho vay của Ngân hàng không thể
được thực hiện đầy đủ cả về số lượng và thời hạn.
Có định nghĩa khác cho rằng “rủi ro tín dụng xảy ra khi xuất hiện các
biến cố không thể đo lường trước khiến khách hàng không thực hiện được các
cam kết đã thoả thuận đối với Ngân hàng”.
Hiện nay rủi ro tín dụng được định nghĩa: là khoản lỗ tiềm tàng vốn có
được tạo ra khi Ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng. Cụ thể hơn, rủi ro tín

tính chất cộng hưởng như chi phí quản lý nợ quá hạn phát sinh, các chi phí
Nguyễn Thuỳ Linh Lớp: NHA - K6
11
khác có liên quan… Tình trạng này dễ dẫn đến kết quả kinh doanh của Ngân
hàng bị lỗ.
Nợ quá hạn xuất hiện làm chậm quá trình tuần hoàn và chu chuyển vốn
của NHTM, làm giảm hiệu quả sử dụng vốn, giảm lợi nhuận, giảm hiệu quả
kinh doanh. Đồng thời hạn chế khả năng mở rộng và tăng trưởng tín dụng,
khả năng kinh doanh cũng như giảm uy tín của Ngân hàng và khả năng cạnh
tranh của Ngân hàng.
Nợ quá hạn được kiểm soát chặt chẽ góp phần làm lành mạnh hoá toàn
bộ tình hình hoạt động và tài chính của Ngân hàng. Do đó, các Ngân hàng
phải nắm được tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ để có các biện pháp tác động
thích hợp nhằm giảm tỷ lệ này.
Chỉ tiêu thứ hai: tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ cho vay
=
Theo điều 6 quy định 493/2005/QĐ-NHNN, nợ xấu là các khoản nợ
thuộc các nhóm 3,4, và 5, bao gồm:
Nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn): các khoản nợ quá hạn từ 90 đến 180
ngày, các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn dưới 90 ngày theo thời
hạn đã cơ cấu lại.
Nhóm 4 (nợ nghi ngờ): các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày, các
khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày theo thời hạn
đã cơ cấu lại.
Nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn): các khoản nợ quá hạn trên 360
ngày, các khoản nợ khoanh chờ chính phủ xử lý, các khoản nợ đã cơ cấu lại
thời hạn trả nợ quá hạn trên 180 ngày theo thời hạn cơ cấu lại.
Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là tỷ lệ để đánh giá chất lượng tín dụng
của các TCTD. Tỷ lệ này càng cao cho thấy chất lượng tín dụng của Ngân
hàng càng kém. Khi tỷ lệ nợ xấu tăng lên thì sẽ làm cho hệ thống Ngân hàng

phát hành quá số dư, khó khăn trong thanh toán lương, số dư của các tài
khoản tiền gửi giảm, gia tăng dư nợ thương mại...
Nguyễn Thuỳ Linh Lớp: NHA - K6
13
- Thông qua mối quan hệ tín dụng của khách hàng: Ngân hàng phải
lưu ý đến các hiện tượng: mức độ vay tăng, thanh toán chậm nợ gốc và lãi,
vay lớn hơn nhu cầu, thường xuyên yêu cầu Ngân hàng cho gia hạn...
- Thông qua việc theo dõi các phương thức tài chính của khách hàng,
khoản vay có thể gặp rủi ro nếu có các dấu hiệu: khách hàng thường sử dụng
các nguồn tài trợ ngắn hạn cho các hoạt động dài hạn, khách hàng chấp nhận
các khoản phương thức tài trợ đắt nhất, các khoản phải trả giảm và các khoản
phải thu tăng, có biểu hiện giảm vốn điều lệ ...
Nhóm 2: Các dấu hiệu liên quan đến phương pháp quản lý của khách
hàng
- Thường xuyên thay đổi cơ cấu hệ thống quản trị hoặc ban điều hành.
- Đội ngũ quản trị bất đồng về mục tiêu, có tranh chấp về quyền lực.
- Cách thức quản trị có biểu hiện: hội đồng quản trị hay giám đốc ít
kinh nghiệm, can thiệp quá sâu vào những vấn đề thường nhật, ít quan tâm
đến lợi ích của cổ đông, chủ nợ...
- Có tranh chấp với chính quyền địa phương, tranh chấp trong nội bộ
doanh nghiệp...
Nhóm 3: Nhóm các dấu hiệu liên quan đến các ưu tiên trong kinh
doanh như hội chứng hợp đồng lớn, hội chứng sản phẩm đẹp...Các dấu hiệu
này phải được xem xét cùng các yếu tố khác để đánh giá được ưu tiên đó là
đúng hay sai để có được kết luận chính xác...
Nhóm 4: Các dấu hiệu thuộc về kỹ thuật, thương mại của doanh nghiệp
như khó khăn trong việc phát triển sản phẩm, sản phẩm mang tính thời vụ
cao, hay có các thay đổi bất lợi trên thị trường hay trong các chính sách của
Nhà nước...
Nhóm 5: Các dấu hiệu về xử lý thông tin tài chính, kế toán như chuẩn

nhiều hơn là dựa trên kinh nghiệm và trao quyền quyết định cho cá nhân điều
hành. Một chính sách cho vay không đồng bộ, thống nhất sẽ gây ra định
Nguyễn Thuỳ Linh Lớp: NHA - K6
15
hướng lệch lạc cho hoạt động tín dụng, dẫn đến việc cấp tín dụng không đúng
đối tượng, tiềm ẩn rủi ro tín dụng cho Ngân hàng.
- Ngân hàng không phân tích, đánh giá được khách hàng một cách đầy
đủ trước khi cho vay, đồng thời không giám sát được việc sử dụng vốn vay
một cách chặt chẽ sau khi giải ngân. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này có
thể do:
+ Ngân hàng thiếu thông tin hoặc thông tin không chính xác, kịp thời
để đánh giá vai trò, vị trí của doanh nghiệp trong ngành, khả năng thị trường
hiện tại và tương lai, do đó quyết định cho vay thiếu chính xác.
+ Ngân hàng chủ quan tin tưởng vào khách hàng truyền thống của
mình hoặc quá coi trọng tài sản đảm bảo mà coi nhẹ khâu kiểm tra, giám sát
khách hàng.
+ Cán bộ tín dụng thiếu tinh thần trách nhiệm hoặc năng lực chuyên
môn yếu kém, không am hiểu về ngành nghề kinh doanh mà mình đang tài trợ
không phát hiện được các yếu kém của dự án xin vay vốn cũng như các dấu
hiệu bất thường trong hoạt động sản xuất của doanh nghiệp. Hoặc do cán bộ
tín dụng thái hoá biến chất, cố ý làm trái, không chấp hành đúng chính sách chế
độ, tiếp tay đồng loã với kẻ gian lừa đảo, chiếm đoạt tài sản của Ngân hàng.
+ Ngân hàng quá nhấn mạnh vào lợi nhuận và phát triển mà sao nhãng
sự lành mạnh của các khoản cho vay.
+ Ngân hàng không thực hiện hoặc thực hiện không tốt các đảm bảo tín
dụng. Việc định giá tài sản đảm bảo thấp hơn giá trị thực, cho vay quá giá trị
tài sản đảm bảo, không giám sát, bảo vệ tài sản cẩn thận.
+ Ngân hàng còn thiếu kinh nghiệm ngăn ngừa hạn chế rủi ro khi hoạt
động trong nền kinh tế thị trường, từ đó chưa có được các biện pháp phòng
ngừa, phân tán rủi ro thích hợp, chưa có tổ chức theo dõi quản lý rủi ro thật sự

hưởng từ môi trường bên ngoài. Có thể kể đến một số nguyên nhân chính từ
phía môi trường kinh doanh có thể gây khó khăn cho dự án như sau:
Nguyễn Thuỳ Linh Lớp: NHA - K6
17
- Do những nguyên nhân mang tính chất bất khả kháng như thiên tai
bão lụt, hạn hán, động đất, núi lửa...
- Tình hình an ninh, chính trị và kinh tế trong và ngoài nước không ổn
định làm chậm quá trình thi công, xây dựng dự án hoặc làm cho dự án sản
xuất phải tạm thời gián đoạn.
- Do tác động của thời kỳ khủng hoảng, suy thoái của chu kỳ kinh tế.
Sự phát triển kinh tế thường diễn ra theo chu kỳ: hưng thịnh – khủng hoảng –
suy thoái – phát triển – hưng thịnh... Trong thời kỳ phát triển và hưng thịnh,
hoạt động kinh doanh thuận lợi, do đó hoạt động tín dụng cũng khá an toàn.
Còn thời kỳ khủng hoảng, suy thoái, sản xuất đình trệ nên các khoản tín dụng
gặp rủi ro cũng gia tăng. Tín dụng trung dài hạn thường diễn ra trong thời
gian tương đối dài, nên khó có thể tránh khỏi ảnh hưởng của các chu kỳ kinh
tế.
- Môi trường pháp lý không thuận lợi và sự lỏng lẻo trong quản lý vĩ
mô. Sự thay đổi bất thường của các chính sách có thể gây bị động, khó khăn
cho kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời kéo theo khó
khăn trong việc thu hồi vốn của Ngân hàng. Sự lơ là quản lý của các cơ quan
pháp luật cũng có thể tạo những “kẽ hở” cho các doanh nghiệp thực hiện các
vụ làm ăn phi pháp, gây nguy cơ rủi ro cao cho Ngân hàng...
1.3. Các biện pháp hạn chế rủi ro tín dụng trung dài hạn của NHTM
trong nền kinh tế thị trường.
Trên cơ sở các nghiên cứu về nợ quá hạn, ta thấy khả năng phát sinh nợ
quá hạn luôn tồn tại kể từ khi khoản vay phát sinh cho đến khi thu hồi hết nợ.
Để đảm bảo khả năng thu hồi nợ và lãi đúng hạn, Ngân hàng phải thực hiện
một số biện pháp nhằm khắc phục những yếu kém thuộc về bản thân Ngân
hàng, phát hiện, loại trừ khả năng phát sinh nợ quá hạn từ phía khách hàng và

thì phù hợp. Để trả lời những câu hỏi này và đi đến quyết định cuối cùng, cần
thiết phải hoàn thiện thẩm định trên các mặt:
Nguyễn Thuỳ Linh Lớp: NHA - K6
19
Thứ nhất, uy tín của khách hàng phải được đề cập trong thẩm định và
cụ thể hơn, nó phải có nội dung trong tờ trình của cán bộ tín dụng, với các
tiêu thức cụ thể là: thẩm định qua hồ sơ quá khứ của khách hàng; thẩm định
qua phỏng vấn trực tiếp với mục đích cần đạt rõ ràng là: tìm hiểu phẩm chất
của khách hàng vay trên góc độ như động cơ cho vay, sự liêm chính, thái độ
sẵn lòng trả nợ; thẩm định danh tiếng hoặc tai tiếng; uy tín của khách hàng
qua các luồng thông tin và giới thiệu của khách hàng khác về khách hàng vay
vốn.
Thứ hai, hoàn thiện thẩm định nguồn trả nợ của khách hàng. Trước khi
một nhu cầu cho vay được đáp ứng, việc nhìn thấy một loạt các nguồn tiền trả
nợ là cần thiết, nó đem lại cho TCTD giải quyết cả ba vấn đề trong quan hệ
tín dụng là giá cả, rủi ro và lòng tin. Với ba nguồn được xếp thứ tự trong việc
thẩm định cần làm là:
Một là, nguồn từ quyết toán của khoản vay: là nguồn trả nợ từ chính
hiệu quả của khoản tín dụng, nó phụ thuộc vào khả năng tạo ra lợi nhuận của
người vay mà trưc tiếp là phương án vay vốn.
Hai là, nguồn từ chính năng lực tài chính của khách hàng vay vốn:
được dùng khi dự án vay thực hiện không thành công, khi đó bản thân vốn nội
sinh của doanh nghiệp, với tư cách người đi vay là nguồn thu khác của Ngân
hàng. Nguồn này vẫn chứa đựng sự không chắc chắn do việc Ngân hàng cùng
phải chia sẻ nguồn thu này với chủ nợ khác.
Ba là, tài sản bảo đảm (thế chấp, cầm cố...): Là nguồn thu sau cùng từ
khách hàng. Nguồn này tỏ ra khá chắc chắn do tính “ưu quyền” của Ngân
hàng trên giá trị của tài sản đảm bảo. Tuy không phải là nguồn gắn liền với
bản chất của tín dụng do thanh lý chậm, tốn kém chi phí và sức lực, khó tìm
kiếm thị trường.

ngành nghề mà họ kinh doanh. Như vậy, khoản tín dụng trong trường hợp này
đã được coi như là đã tham gia bảo hiểm.
Nguyễn Thuỳ Linh Lớp: NHA - K6
21
- Hai là, Ngân hàng tự bảo hiểm cho chính mình bằng cách thành lập
quỹ dự phòng rủi ro để bù đắp những thiệt hại do rủi ro gây ra.
- Ba là, Ngân hàng trực tiếp mua bảo hiểm từ các tổ chức bảo hiểm
chuyên nghiệp và sẽ được bồi thường thiệt hại khi gặp rủi ro mất vốn tín
dụng.
1.3.5. Phân tán, chia sẻ rủi ro tín dụng
Để tiến hành phân tán, chia sẻ rủi ro, Ngân hàng thực hiện dưới 2 hình
thức:
- Đa dạng hoá đối tượng tín dụng: nhà kinh tế học Sammuelson đã
khuyến cáo các nhà đầu tư cần tránh mạo hiểm, rủi ro rằng: “không nên bỏ tất
cả trứng vào trong một giỏ”. Muốn tránh rủi ro Ngân hàng cần phân phối đầu
tư vào nhiều khách hàng hoặc nhiều lĩnh vực khác nhau. Như vậy, nếu xảy ra
rủi ro tại một lĩnh vực hay một khách hàng nào đó, Ngân hàng vẫn có thể bù
đắp vào những khách hàng hay lĩnh vực khác. Để thực hiện biện pháp này các
Ngân hàng cần thực hiện 2 vấn đề:
+ Cho vay nhiều đối tượng thuộc loại hình sản xuất khác nhau, không
cho vay quá nhiều để sản xuất kinh doanh một sản phẩm, hàng hoá.
+ Không nên đầu tư một số tiền lớn cho một khách hàng mà phải san
sẻ ra nhiều khách hàng.
- Liên kết đầu tư: trong kinh doanh có những doanh nghiệp có nhu cầu
vay vốn rất lớn mà một Ngân hàng không thể đáp ứng được hoặc khó xác
định mức độ rủi ro có thể thì Ngân hàng cần liên kết đầu tư, đồng tài trợ với
các Ngân hàng khác. Theo cách này, Ngân hàng sẽ phân tán rủi ro của mình
cho các Ngân hàng khác.
1.3.6. Tăng cường hiệu quả hoạt động của trung tâm thông tin tín dụng
Thông tin tín dụng là yếu tố cơ bản trong quản lý tín dụng theo nghĩa

Để nâng cao chất lượng tín dụng, giảm thiểu rủi ro trong tín dụng trung
dài hạn cần tăng cường số lượng và chất lượng cán bộ tín dụng: Lựa chọn cán
bộ có đủ kiến thức và đạo đức nghề nghiệp làm công tác tín dụng; thường
Nguyễn Thuỳ Linh Lớp: NHA - K6
23
xuyên tổ chức các lớp tập huấn phổ bíên kiến thức mới và kinh nghiệm cho
vay đến các cán bộ tín dụng; gửi cán bộ đi đào tạo tại nước ngoài, nhất là học
hỏi kinh nghiệm của các Ngân hàng có uy tín trong khu vực về thẩm định dự
án và cho vay theo dự án.....
1.3.8. Phân tán rủi ro thông qua thị trường bán nợ và các hợp đồng
tín dụng phái sinh
Bên cạnh các phương pháp truyền thống được các NHTM sử dụng từ
trước tới nay, hiện nay, các NHTM đã sử dụng các biện pháp hiện đại để
phòng ngừa rủi ro tín dụng trung dài hạn.
(1) Chứng khoán hoá các khoản cho vay
Chứng khoán hoá tài sản là việc Ngân hàng đem tài sản có ở nội bảng
chưa đến hạn của mình bán cho những người đầu tư dưới hình thức phát hành
chứng khoán. Ngân hàng sẽ dành riêng một nhóm tài sản sinh lời và bán ra thị
trường các chứng khoán được phát hành trên các tài sản đó. Khi các tài sản
này được thanh toán, Ngân hàng sẽ chuyển khoản thanh toán này cho người
sở hữu chứng khoán nói trên.
Chứng khoán hoá là một công cụ tài chính giúp hạn chế rủi ro về lãi
suất và rủi ro về danh mục đầu tư cho Ngân hàng, vì nhờ nó Ngân hàng có thể
giảm được thời lượng của danh mục đầu tư cho phù hợp với tính chất của
nguồn vốn huy động, và có thể chuyển nguồn đầu tư từ thị trường này sang
thị trường khác có triển vọng hơn.
Ngân hàng có thể phát hành chứng khoán qua trung gian là các tổ chức
hoạt động chuyên nghiệp về phát hành chứng khoán hay không qua trung
gian. Người đầu tư vào các chứng khoán này thường là các Ngân hàng, các
hiệp hội xây dựng, các công ty bảo hiểm, quỹ nhân thọ, quỹ hưu trí...

khoản vay được bán hay chứng khoán hoá phải có giá trị tương đối lớn và có
những đặc điểm tương đồng. Ngày nay, Ngân hàng thường dùng công cụ tín
dụng phái sinh, là các công cụ tài chính hiện đại và chủ động dể giảm rủi ro
tín dụng.
Nguyễn Thuỳ Linh Lớp: NHA - K6
25

Trích đoạn Tăng cường vốn tự có Chú trọng phát triển nguồn nhân lực Thẩm định tốt trước khi cho vay Kiểm tra, giám sát tín dụng chặt chẽ hơn Thiết lập hệ thống kiểm soát và quản lý rủi ro trên toàn hệ thống
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status