Bài giảng QUẢN lý CHẤT THẢI rắn - Pdf 26

Bộ môn Sức khoẻ môi trường Module 5. Quản lý chất thải rắn

- 70 -

QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN

MỤC TIÊU BÀI HỌC
Sau khi học xong bài này học viên có khả năng:
1. Phát hiện các nguồn chất thải rắn
2. Trình bày những vấn đề về sức khoẻ và môi trường liên quan tới chất thải rắn
3. Áp dụng một số phương pháp quản lý và xử lý chất thải rắn để chống ô nhiễm
môi trường

1. ĐỊNH NGHĨA
Chất thải là loại vật liệu mà người ta thải đi như một thứ vô giá trị. Quan niệm về
chất thải thường được xét theo nhận định về giá trị sử dụng đối với người sở hữu nó.
Chất thải rắn bao gồm tất cả những chất thải không phải nước thải và khí thải. Vì
vậy cái gọi là chất thải rắn có thể là một chất rắn, nửa đặc thậm chí là chất lỏng.
Thông thường người ta quan niệm rằng quản lý chất thải là thuộc phạm vi trách
nhiệm của chính quyền. Bộ phận quản lý đô thị có nhiệm vụ phải thu gom và xử lý chất
thải.
2. PHÂN LOẠI CHẤT THẢI RẮN
Có nhiều cách phân loại chất thải rắn như phân loại theo bản chất của chúng, chẳng
hạn rác, tro than, xác súc vật chết, rác quét đường. Tuy vậy, cách phân loại phổ biến nhất
là phân loại theo nguồn phát thải.
Rác thải gia đình hay còn gọi là rác sinh hoạt bao gồm các loại chất thải phát sinh
trong sinh hoạt gia đình. Chúng bao gồm: rác do chế biến thức ăn, quét dọn nhà cửa, tro
bếp và rác dọn vườn, các vật dụng cũ, bao gói, giấy vệ sinh, phân người v.v. Tại các nước
phát triển thì chủ yếu là giấy, bao bì, túi ni lông, kinh, kim loại, nhựa, vỏ lon.
Chất thải thương mại bao gồm rác của các cửa hàng, trạm xăng dầu, nhà hàng,
khách sạn, kho tàng và chợ. Thành phần chủ yếu là các vật đựng, bao bì và thực phẩm thải

Ngân hàng Thế giới (WB, 1999), tại các thành phố lớn như New York tỷ lệ phát sinh chất
thải rắn là 1,8kg/người/ngày, Singapore, Hongkong là 0,8 - 1,0 kg/người/ngày, còn
Jakarta, Manila, Calcuta, Kar hi là 0,5 - 0,6 kg/người/ngày. (Xem bảng 1)
Tại Việt Nam, theo báo cáo diễn biến môi trường Việt Nam năm 2004 về chất thải
rắn thì lượng chất thải rắn phát sinh trên toàn quốc ước tính khoảng 15 triệu tấn/năm,
trong đó khoảng hơn 150.000 tấn là chất thải nguy hại. Dự báo đến năm 2010 lượng chất
thải rắn có thể tăng từ 24% đến 30%. Theo số liệu thống kê năm 2002, lượng chất thải rắn
sinh hoạt trung bình từ 0,6 - 0,9 kg/người/ngày ở các đô thị và là 0,4 - 0,5 kg/người/ngày
ở các đô thị nhỏ. Đến năm 2005 và đầu năm 2006, tỷ lệ đó đã tăng lên tương ứng là 0,9 -
1,2 kg/người/ngày và 0,5 - 0,65 kg/người/ngày.
Bộ môn Sức khoẻ môi trường Module 5. Quản lý chất thải rắn

- 72 -
Còn ở Việt Nam, tại Hà Nội, TP Hồ Chí Minh lượng chất thải rắn xấp xỉ 0,5
kg/người/ngày, tại các thành phố nhỏ và thị xã thì khoảng 0,3 kg/người/ngày.
Bảng 1. Lượng phát sinh chất thải rắn tại một số nước

Tên nước
GNP/người
(1995 USD)
Dân số đô thị hiện
nay (% tổng số)
LPSCTRĐT hiện nay
(kg/người/ngày)
Nước thu nhập thấp 490 27,8 0,64
Nepal 200 13,7 0,5
Bangladesh 240 18,3 0,49
Việt Nam 240 20,8 0,55
Ấn Độ 340 26,8 0,46
Trung Quốc 620 30,3 0,79

Tỷ lệ thu gom trung bình (%) - 71 20
Tỷ lệ phát sinh chất thải đô thị
trung bình theo đầu người
(kg/người/ngày)
- 0.8 0.3

(Nguồn: Báo cáo Diễn biến Môi trường Việt Nam 2004 – Chất thải rắn)

4. TÍNH CHẤT CỦA CHẤT THẢI RẮN
Chất thải rắn có các đặc trưng như tỷ trọng, thành phần, độ ẩm và kích cỡ.
Tỷ trọng của chất thải rắn cũng như tỷ lệ phát sinh dao động rất lớn từ nước này qua
nước khác. Tại Hoa kỳ tỷ trọng đó là 100 kg/m
3
, ở Anh là 150, ở Singapore là 175, Thái
Lan là 250, Indonesia là 230, còn ở Ấn Độ, Việt Nam là 500.
Thành phần của chất thải rắn phụ thuộc vào các yếu tố kinh tế, văn hoá, khí hậu và
địa lý. (Xem bảng 3 - bảng 4)

Bảng 3: Thành phần chất thải rắn của thành phố Hà Nội như sau

Lá cây, hoa quả, xác súc vật chết
Giấy
Túi đựng, que, gỗ
Nhựa, cao su, da
Vỏ ốc, vỏ sò, vỏ cua
Kính vỡ
Gạch, ngói, đá, mảnh sành, sứ
Kim loại
Các vật nhỏ dưới 10 mm khó phân biệt
50,29%

5,7%
3,4%
(Nguồn: Cơ quan bảo vệ môi trường Mỹ, Báo cáo Môi trường về chất thải rắn, 2005).

5. NHỮNG VẤN ĐỀ SỨC KHOẺ VÀ MÔI TRƯỜNG CỦA CHẤT THẢI RẮN
Nếu rác thải không được quản lý một cách hợp lý, rác thải rắn đô thị sẽ gây ra
nhiều ảnh hưởng xấu tới môi trường và sức khoẻ con người. Sau đây là một trong số
những ảnh hưởng chính của sự ô nhiễm rác thải rắn tại đô thị:
Rác thải không được thu gom tại đầu cuối của các cống thoát nước của đô thị có
thể dẫn tới tắc các đường cống thoát nước, nguyên nhân gây lụt khi mưa lớn và ảnh hưởng
vệ sinh môi trường.
Các loại côn trùng, sinh vật gây bệnh có thể phát triển trên một số loại chất thải.
Như phân người và các động vật nuôi, các loại thức ăn thải bỏ là môi trường thuận lợi cho
các loài côn trùng trung gian truyền bệnh như: ruồi, nhặng, gián. Trên thực tế, phần lớn
chất thải rắn ở nước ta đều có chứa phân người, giấy vệ sinh. Phân người là một phương
tiện lan truyền bệnh nguy hiểm. Phân người lẫn trong rác thải chứa nhiều mầm bệnh và rất
dễ phát tán ra ngoài. Các mầm bệnh trực tiếp gây tác hại cho sức khoẻ của các công nhân
vệ sinh, những người nhặt rác, bới rác và trẻ em chơi trên sân.
Nước ứ đọng tại các chất thải rắn như can, chai lọ bỏ đi là môi trường thuận lợi
cho sự phát triển của các loại muỗi – vec - tơ quan trọng trong việc truyền các bệnh sốt rét
và sốt xuất huyết.
Nơi trú ưa thích của chuột là các đống rác và thức ăn thải bỏ. Chuột không những
là nguyên nhân truyền bệnh dịch hạch mà còn là nguyên nhân của nhiều sự khó chịu khác
đối với con người.
Bộ môn Sức khoẻ môi trường Module 5. Quản lý chất thải rắn

- 75 -
Đốt rác dẫn tới ô nhiễm không khí do những sản phẩm sau trong quá trình đốt có
thể chứa các chất độc hại như dioxin, khói từ những nơi đốt rác có thể làm giảm tầm nhìn,
nguy cơ gây cháy nổ những bình khí và nguy cơ gây hoả hoạn những vùng lân cận.

Bộ môn Sức khoẻ môi trường Module 5. Quản lý chất thải rắn

- 76 -
Việc ô nhiễm này cũng làm ảnh hưởng tới nguồn thức ăn: các chất ô nhiễm có trong đất,
nước, không khí nhiễm vào các loại thực phẩm của con người: rau, động vật v.v qua
lưới và chuỗi thức ăn; những loại chất ô nhiễm này tác động xấu tới sức khoẻ con người.
Các bãi chôn lấp rác là nơi phát sinh các bệnh truyền nhiễm: tả, lỵ, thương hàn
v.v Các loại côn trùng trung gian truyền bệnh (ruồi, muỗi, gián) và các loại gặm nhấm
(chuột) cũng ưa thích sống ở những khu vực có chứa rác thải.
Các bãi chôn lấp rác cũng mang nhiều mối nguy cơ cao đối với cộng đồng dân cư
làm nghề bới rác. Các vật sắc nhọn, thuỷ tinh vỡ, bơm kim tiêm cũ v.v. có thể là mối đe
doạ nguy hiểm với sức khoẻ con người khi họ dẫm phải hoặc bị cào xước vào tay chân.
Các loại hoá chất độc hại, và nhiều chất thải nguy hại khác cũng là mối đe doạ đối với
những người làm nghề này. Các động vật sống ở các bãi rác cũng có thể gây nguy hiểm
tới sức khoẻ của những người tham gia bới rác.
Các bãi rác cũng làm thay đổi thẩm mỹ theo hướng tiêu cực, làm ảnh hưởng đến
mỹ quan khu vực quanh bãi rác, tạo ra những mùi khó chịu cho khu vực xung quanh.

6. QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN
Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ khuyến cáo rằng: để quản lý chất thải rắn có
hiệu quả cần thực hiện đúng theo trật tự các bước sau:
• Giảm thiểu nguồn phát sinh
• Tái sử dụng - tái chế
• Thu hồi năng lượng từ chất thải rắn
• Chôn lấp hợp vệ sinh
6.1. Giảm thiểu nguồn phát sinh
Để giảm thiểu nguồn phát sinh, cần thay thế hoặc loại bỏ hẳn những chất tạo ra
một lượng lớn chất thải bằng các chất tạo ra ít hoặc không tạo ra chất thải. Thay đổi công
nghệ, kỹ thuật sản xuất hiện đại để tạo ra ít chất thải hơn.
6.2. Tái sử dụng - tái chế

trung rồi có xe chở rác đến mang đến điểm xử lý. Hiện nay tại các thành phố lớn có xe
chở rác chuyên dụng để thu gom rác theo giờ qui định.
Thu gom rác từ các khu tập thể. Mỗi khu dân cư có một địa điểm đổ rác hay bể
đựng rác. Các gia đình hoặc cơ quan mang rác đến đổ vào điểm tập kết rồi sau đó có xe
chở rác đi.
Việc vận chuyển rác chủ yếu là do xe chở rác chuyên dụng của các công ty vệ sinh
môi trường đảm nhận. Công việc này thường được thực hiện vào ban đêm.
Phân bùn từ các bể phốt định kỳ có các xe hút phân đến hút chở ra ngoại thành.

8. XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN TẠI VIỆT NAM
Cho mãi tới tận gần đây, chất thải rắn vẫn được đổ đống ngoài bãi rác, chôn, đốt và
một số loại rác thải từ nhà bếp, nhà hàng được sử dụng làm thức ăn cho động vật. Cộng
đồng vẫn chưa nhận thức được mối liên hệ giữa chất thải rắn với chuột, ruồi, gián, muỗi,
Bộ môn Sức khoẻ môi trường Module 5. Quản lý chất thải rắn

- 78 -
rận, ô nhiễm đất và nước. Người ta không biết rằng, chất thải rắn trong các bãi rác là nơi
sinh sống của một số loại véc - tơ truyền các bệnh: sốt thương hàn, sốt vàng, sốt xuất
huyết, sốt rét, tả v.v Do vậy, những phương pháp xử lý chất thải rắn rẻ nhất, nhanh nhất
và thuận tiện nhất đã được sử dụng. Các khu vực nông thôn và các thị trấn nhỏ sử dụng
các bãi rác ngoài trời. Các thị xã và các thành phố lớn hơn sử dụng các lò đốt nhỏ. Mãi
sau này, chôn lấp vệ sinh mới trở thành một biện pháp xử lý chất thải rắn được nhiều nơi
lựa chọn. Ở Việt Nam, có nhiều phương pháp xử lý rác nhưng chủ yếu là đổ vào bãi rác,
chôn lấp rác, ủ rác và đốt rác.
8.1. Bãi rác không có xử lý
Đổ rác vào bãi không có xử lý là một biện pháp hiện tại còn phổ biến ở Việt Nam.
Những đô thị có một hoặc nhiều khu đất được dùng để đổ rác. Rác được đổ chất đống gây
ô nhiễm đất, nguồn nước ngầm, ô nhiễm không khí và là nơi cư trú của các vật chủ trung
gian truyền bệnh như ruồi, muỗi, chuột, gián. Đây là phương pháp rẻ tiền nhưng rất nguy
hiểm về mặt sức khoẻ.


Bộ môn Sức khoẻ môi trường Module 5. Quản lý chất thải rắn

- 80 -
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Gotoh Sukehiro, Issues and factors to be considered for improvement of solid waste
management in Asian metropolises, Regional development Dialogue. Vol.10.No3,
Autumn 1989.
2. Cointreau S.J. et all, recycling from municipal refuse: A state - of - the - art review
and annotated bibliography. World bank Technical Paper Number 30. World Bank
1984.
3. Cointreau S.J. environmental management of urban solid wastes in developing
countries. A projec Guide. World bank 1986.
4. Sakurai Kunitoshi, improvement of solid waste management in developing countries.
Institute International Cooperation, JICA. December 1990.
5. Nguyen Huy Nga and Ngo Vi Cuong. NATIONAL MUNICIPAL Solid waste
Management in Viet nam. Coutry Report. WHO Regional Workshop on Municipal
Solid Waste Management, Kuala - Lumpur, Malaysia, 1990. PEPAS, March 1990.
6. Nguyễn Huy Nga, Tổng quan tình hình quản lý Rác thải y tếở Việt nam. Hội thảo
quản lý chất thải rắn. Dự án môi trường Việt nam - Canada, 20 - 23/8/1997.
7. Cơ quan bảo vệ môi trường Mỹ, Báo cáo Môi trường về chất thải rắn, 2005.
8. Tài liệu Diễn đàn Sức khoẻ Môi trường Quốc gia, Hà Nội 11 - 2006.
Bộ môn Sức khoẻ môi trường Module 5. Quản lý chất thải rắn

- 81 -

QUẢN LÝ RÁC THẢI Y TẾ
MỤC TIÊU BÀI HỌC
Sau khi học xong bài này học viên có khả năng:
1. Trình bày được những khái niệm cơ bản liên quan tới rác thải y tế


- 82 -
quả. Trung bình một bệnh viện nhỏ thải ra vài trăm kg rác, một bệnh viện trung bình thải
ra 600 - 800kg rác, bệnh viện lớn có hơn 1 tấn một ngày. Khối lượng chất thải của từng
bệnh viện phụ thuộc vào các yếu tố của bệnh viện như: chuyên khoa của bệnh viện,
giường bệnh, lưu lượng bệnh nhân, kỹ thuật điều trị, khí hậu thời tiết, phong tục tập quán
v.v
Trong năm 2001, Bộ Y tế đã tiến hành khảo sát tại 280 tại bênh viện đại diện cho
tất cả các tỉnh, thành phố trên cả nước về vấn đề quản lý và xử lý chất thải rắn y tế. Kết
quả khảo sát ban đầu cho thấy tỷ lệ phát sinh chất thải rắn y tế theo từng tuyến, loại bệnh
viện, cơ sở y tế rất khác nhau. Lượng chất thải rắn bệnh viện phát sinh trong quá trình
khám chữa bệnh mỗi ngày vào khoảng 429 tấn chất thải rắn y tế, trong đó lượng chất thải
rắn y tế nguy hại phát sinh ước tính khoảng 34 tấn/ngày. Nếu phân chia lượng chất thải
rắn y tế nguy hại theo địa bàn thì 35% lượng chất thải y tế nguy hại tập trung ở Hà Nội và
thành phố Hồ Chí Minh; 65% còn lại ở các tỉnh thành khác. Mặt khác, nếu phân lượng
chất thải rắn y tế phát sinh theo khu vực của các tỉnh, thành thì 70% lượng chất thải y tế
nguy hại tập trung ở các tỉnh thành phố, thị xã thuộc các đô thị và 30% ở các huyện, xã,
nông thôn, miền núi. Ước tính trong tổng lượng khoảng 15 triệu tấn chất thải rắn phát sinh
hàng năm thì chất thải y tế nguy hại vào khoảng 21.000 tấn. Dự báo đến năm 2010 thì
lượng chất thải rắn y tế nguy hại vào khoảng 25.000 tấn/năm.

Bảng 1. Lượng chất thải phát sinh tại Việt Nam

Tuyến bệnh viện Tổng lượng chất thải y tế
(Kg/giường bệnh/ngày)
Chất thải y tế nguy hại
(Kg/giường bệnh/ngày)
Bệnh viện Trung ương

0,97 0,16

• Chất thải phòng khám: bệnh phẩm, mủ, các tổ chức hoại tử, bông băng, gạc
nhiễm khuẩn, dụng cụ, nẹp cố định, quần áo nhiễm khuẩn.
• Chất thải khoa xét nghiệm huyết học: môi trường, máu, hoá chất chai lọ, kim
tiêm.
• Chất thải khoa xét nghiệm vi sinh, hoá sinh: bệnh phẩm, phân, nước giải, máu
mủ, đờm, hoá chất, môi trường nuôi cấy.
• Chất thải phòng thí nghiệm: các xác động vật, các bộ phận cắt bỏ của động vật,
các chất thải của quá trình sản xuất văc - xin.
• Chất thải sinh hoạt từ bệnh nhân, nhân viên y tế và người nhà bệnh nhân: đồ
ăn, thức uống, vỏ thuốc, giấy loại, quần áo bẩn.
Thành phần rác bệnh viện hiện nay rất đa dạng và phức tạp vì chúng ta chưa có hệ
thống phân loại rác nguy hiểm ngay từ lúc phát sinh. Các khảo sát cho thấy thành phần
của rác bệnh viện bao gồm giấy, kim loại, thuỷ tinh, chai lọ, bông băng, bột bó gẫy
xương, túi nhựa các loại, bệnh phẩm, các phần cắt bỏ của cơ thể, rác hữu cơ, đất đá và các
loại vật rắn khác.
Tỷ trọng của các thành phần rác cũng đa dạng và thay đổi tuỳ theo loại bệnh viện.
Chúng ta chưa có quy định thật tỷ mỉ về tiêu chuẩn phân loại nên các điều tra gần đây đều
Bộ môn Sức khoẻ môi trường Module 5. Quản lý chất thải rắn

- 84 -
nêu ra tỷ lệ rác nguy hiểm trong bệnh viện lớn thường chiếm tới 20 - 25% toàn bộ rác
phát sinh. Con số này so với các bệnh viện của nước ngoài là hơi cao, theo tài liệu của
WHO (1994) thì trong chất thải bệnh viện trung bình có 15% là độc hại.
Bộ môn Sức khoẻ môi trường Module 5. Quản lý chất thải rắn

- 85 -
Bảng 2. Thành phần rác thải của 5 bệnh viện tại các vùng khác nhau ở Việt Nam
(Phạm Thị Ngọc Bích và cs)
Thành phần chất thải của rác bệnh viện
Trọng lượng

Tổng cộng
277 100
Theo một số kết quả điều tra năm 1998 – 1999 của các đơn vị nghiên cứu, đặc biệt là
của dự án hợp tác giữa Bộ Y tế và WHO, thành phần một số rác thải bệnh viện ở Việt
Nam được thống kê như sau:

Bảng 3. Thành phần rác thải bệnh viện ở Việt Nam

Thành phần rác thải bệnh viện
%
Giấy các loại 3
Kim loại, vỏ hộp 0,7
Thuỷ tinh, ống tiêm, chai lọ thuốc, bơm kim tiêm
nhựa
3,2
Bông băng, bột bó gãy xương 8,8
Chai, túi nhựa các loại 10,1
Bệnh phẩm 0,6
Rác hữu cơ 52,57
Đất đá và các vật rắn khác 21,03

Bộ môn Sức khoẻ môi trường Module 5. Quản lý chất thải rắn

- 86 -
4. NHỮNG NGUY CƠ CỦA CHẤT THẢI RẮN Y TẾ
Chất thải y tế bao gồm một lượng lớn chất thải nói chung và một lượng nhỏ hơn
các chất thải có tính nguy cơ cao. Chất thải rắn y tế có thể tạo nên những mối nguy cơ cho
sức khỏe con người.
4.1. Các kiểu nguy cơ
Việc tiếp xúc với các chất thải rắn y tế có thể gây nên bệnh tật hoặc tổn thương.

thể xâm nhập vào cơ thể người thông qua các cách thức sau:
• Qua da (qua một vết thủng, trầy sước hoặc vết cắt trên da)
• Qua các niêm mạc (màng nhầy)
• Qua đường hô hấp (do xông, hít phải)
• Qua đường tiêu hoá
Các ví dụ về sự nhiễm khuẩn gây ra do tiếp xúc với chất thải y tế được liệt kê trong
Bảng 4 qua đường truyền là các dịch thể như máu, dịch não tuỷ, chất nôn, nước mắt,
tuyến nhờn.
Một mối nguy cơ rất lớn hiện nay đó là virus gây hội chứng suy giảm miễn dịch
(HIV) cũng như các virus lây qua đường máu như viêm gan B, C có thể lan truyền ra cộng
đồng qua con đường rác thải y tế. Những virus này thường lan truyền qua vết tiêm hoặc
các tổn thương do kim tiêm có nhiễm máu người bệnh.
Do sự quản lý yếu kém các chất thải y tế tại các cơ sở y tế, một số vi khuẩn đã có
tính đề kháng cao đối với các loại thuốc kháng sinh và các hoá chất sát khuẩn. Điều này
đã được minh chứng, chẳng hạn các plasmit từ các động vật thí nghiệm có trong chất thải
y tế đã được truyền cho vi khuẩn gốc qua hệ thống xử lý chất thải. Hơn nữa, vi khuẩn E.
Coli kháng thuốc đã cho thấy nó vẫn còn sống trong môi trường bùn hoạt mặc dù ở đó có
vẻ như không phải là môi trường thuận lợi cho loại vi sinh vật này trong điều kiện thông
thường của hệ thống thải bỏ và xử lý rác, nước.
Độ tập trung của các tác nhân gây bệnh và các vật sắc nhọn bị nhiễm các vi sinh
vật gây bệnh (đặc biệt là những mũi kim tiêm qua da) trong rác thải y tế thực sự là những
mối nguy cơ tiềm ẩn đối với sức khoẻ. Những vật sắc nhọn trong rác thải y tế được coi là
một loại rác thải rất nguy hiểm bởi nó gây những tổn thương kép: vừa có khả năng gây tổn
thương lại vừa có khả năng lây truyền các bệnh truyền nhiễm.

Bộ môn Sức khoẻ môi trường Module 5. Quản lý chất thải rắn

- 88 -
Bảng 4. Một số ví dụ về sự nhiễm khuẩn gây ra do tiếp xúc với các loại chất thải y tế,
các loại vi sinh vật gây bệnh và phương tiện lây truyền

Sốt xuất huyết
Các virus: Junin, Lassa, Ebola,
Marburg
Tất cả các sản phẩm máu
và dịch tiết
Nhiễm khuẩn huyết do
tụ cầu
Staphylococcus spp. Máu
Nhiễm khuẩn huyết
(do các loại vi khuẩn
khác nhau)
Nhóm tụ cầu khuẩn
(Staphylococcus spp.
Staphylococcus arueus);
Enterobacter; Enterococcus;
Klebssiella; Streptococcus spp.
Máu
Nấm Candida
Candida albican Máu
Viêm gan A
Virus viêm gan A Phân
Viêm gan B, C
Virus viêm gan B, C Máu, dịch thể

Bộ môn Sức khoẻ môi trường Module 5. Quản lý chất thải rắn

- 89 -
4.4. Những mối nguy cơ từ loại chất thải hoá chất và dược phẩm
Nhiều loại hoá chất và dược phẩm được sử dụng trong các cơ sở y tế là những mối
nguy cơ đe doạ sức khoẻ con người (các độc dược, các chất gây độc gen, chất ăn mòn,

Bộ môn Sức khoẻ môi trường Module 5. Quản lý chất thải rắn

- 90 -
các chất độc trong công tác y tế có thể xảy ra trong lúc chuẩn bị hoặc trong quá trình điều
trị bằng các thuốc đặc biệt hoặc bằng hoá trị liệu. Những phương thức tiếp xúc chính là
hít phải dạng bụi hoặc dạng phun sương qua đường hô hấp; hấp thụ qua da; qua đường
tiêu hoá do ăn phải thực phẩm nhiễm thuốc, hoá chất hoặc chất bẩn có tính độc. Việc
nhiễm độc qua đường tiêu hoá là kết quả của những thói quen xấu chẳng hạn như dùng
miệng để hút ống pipet trong khi định lượng dung dịch. Mối nguy hiểm cũng có thể xảy ra
khi tiếp xúc với các loại dịch thể và các chất tiết của những bệnh nhân đang được điều trị
bằng hoá trị liệu.
Độc tính đối với tế bào của nhiều loại thuốc chống ung thư là tác động đến các chu
kỳ đặc biệt của tế bào, nhằm vào các quá trình đặc biệt trong nội bào như quá trình tổng
hợp ADN hoặc phân bào nguyên phân. Các thuốc chống ung thư khác, chẳng hạn như
nhóm alkyl hoá, không phải là pha đặc hiệu, chỉ biểu hiện độc tính tại một vài điểm trong
chu kỳ tế bào. Các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy nhiều loại thuốc chống ung thư lại
gây nên ung thư và gây đột biến. Khối u thứ phát, xảy ra sau khi ung thư nguyên phát đã
bị tiêu diệt, được biết hình thành do sự kết hợp của các công thức hoá trị liệu.
Nhiều loại thuốc có độc tính gây kích thích cao độ và gây nên những hậu quả huỷ
hoại cục bộ sau khi tiếp xúc trực tiếp với da hoặc mắt (Bảng 5). Chúng cũng có thể gây
chóng mặt, buồn nôn, đau đầu hoặc viêm da.
Cần phải đặc biệt cẩn thận trong việc sử dụng và vận chuyển chất thải genotoxic,
việc đào thải những chất thải như vậy vào môi trường có thể gây nên những hậu quả sinh
thái thảm khốc.
Bảng 5. Các thuốc độc hại tế bào gây nguy hiểm cho mắt và da
Nhóm Alkyl hoá:
Các thuốc gây rộp da
(
*
)

Các nguy cơ từ những loại chất thải có hoạt tính thấp có thể phát sinh do việc
nhiễm xạ trên phạm vi bề mặt của các vật chứa, do phương thức hoặc khoảng thời gian
lưu giữ loại chất thải này. Các nhân viên y tế hoặc những người làm nhiệm vụ thu gom và
vận chuyển rác phải tiếp xúc với loại chất thải phóng xạ này là những người thuộc nhóm
có nguy cơ cao.
4.7. Tính nhạy cảm xã hội
Ngoài việc lo ngại đối với những mối nguy cơ tác động lên sức khoẻ, cộng đồng
thường cũng rất nhạy cảm với những ấn tượng khi nhìn thấy loại chất thải thuộc về giải
phẫu, các bộ phận của cơ thể người bị cắt bỏ như tứ chi, rau thai bào nhi.
Đối với một số nền văn hoá, đặc biệt là ở châu Á, những niềm tin tôn giáo và đời
sống tâm linh đòi hỏi các phần của cơ thể phải được trả lại cho gia đình người bệnh trong
những chiếc quan tài nhỏ và được mai táng trong nghĩa địa.

5. CÁC ẢNH HƯỞNG LÊN SỨC KHOẺ CỘNG ĐỒNG CỦA RÁC THẢI Y TẾ
5.1. Ảnh hưởng của loại chất thải truyền nhiễm và các vật sắc nhọn
Đối với những bệnh nguy hiểm do virus gây ra như HIV/AIDS, viêm gan B hoặc
C, các nhân viên y tế, đặc biệt là các y tá là những đối tượng có nguy cơ nhiễm cao nhất,
do họ phải thường xuyên tiếp xúc với những vật sắc nhọn bị nhiễm máu bệnh nhân gây
nên. Các nhân viên bệnh viện khác và những người vận hành quản lý chất thải xung
quanh bệnh viện cũng có nguy cơ đáng kể, chẳng hạn như những nhân viên quét dọn,
những người bới rác tại các bãi đổ rác (mặc dù những mối nguy cơ này không có tài liệu
Bộ môn Sức khoẻ môi trường Module 5. Quản lý chất thải rắn

- 92 -
đáng tin cậy để chứng minh). Nguy cơ của loại bệnh truyền nhiễm này trong số các bệnh
nhân và cộng đồng thấp hơn nhiều.
Các trường hợp tai nạn riêng lẻ hoặc nhiễm trùng thứ phát do chất thải y tế gây ra
đã được chứng minh bởi những tài liệu đáng tin cậy. Tuy vậy, nhìn chung, rất khó đánh
giá trực tiếp ảnh hưởng của chất thải rắn y tế, đặc biệt là ở các nước đang phát triển.
Tỷ lệ các tổn thương hàng năm do các vật sắc nhọn trong chất thải y tế và dịch vụ

hoá chất độc hại xuống bất cứ lúc nào có thể và cung cấp các phương tiện bảo hộ cho tất
cả những người tiếp xúc trực tiếp với hoá chất. Những nơi sử dụng và bảo quản loại hoá
chất nguy hiểm cũng nên được thiết kế hệ thống thông gió phù hợp, huấn luyện các biện
pháp phòng hộ và các trường hợp cấp cứu cho những người có liên quan.
5.3. Những ảnh hưởng của các chất thải gây độc gen
Cần phải có thời gian để thu thập những dữ liệu về ảnh hưởng lâu dài đối với sức
khoẻ của các chất thải gây độc gen trong y tế, bởi vì rất khó đánh giá ảnh hưởng của loại
độc chất phức tạp này lên mối nguy cơ đối với con người. Một nghiên cứu được tiến hành
ở Phần Lan đã tìm ra một dấu hiệu liên quan giữa sảy thai trong 3 tháng đầu của thai kỳ
và tiếp xúc nghề nghiệp với các thuốc chống ung thư, nhưng các nghiên cứu tương tự tại
Pháp và Mỹ lại không xác nhận kết quả này.
Có rất nhiều nghiên cứu đã điều tra mối liên quan giữa nguy cơ đối với sức khoẻ và
việc tiếp xúc với thuốc chống ung thư, biểu hiện của mối liên quan này là sự tăng đột biến
các thành phần trong nước tiểu ở những người đã tiếp xúc và tăng nguy cơ sảy thai. Đã có
một số nghiên cứu cho thấy rằng những nhân viên quét dọn trong bệnh viện phải tiếp xúc
với nguy cơ, có lượng nước tiểu tăng vượt trội so với những y tá và các dược sĩ trong
bệnh viện đó. Mức độ tập trung các thuốc gây độc gen trong bầu không khí bên trong
bệnh viện cũng đã được xem xét trong một số nghiên cứu nhằm đánh giá các ảnh hưởng
đến sức khoẻ với việc tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ. Hiện vẫn chưa có một bằng chứng
khoa học nào ghi nhận những hậu quả bất lợi đối với sức khoẻ do công tác quản lý yếu
kém đối với các chất thải gây độc gen.
5.4. Những ảnh hưởng của chất thải phóng xạ
Nhiều tai nạn đã được ghi nhận do việc thanh toán và xử lý các nguyên liệu trong
trị liệu hạt nhân cùng với số lượng lớn những người bị tổn thương do tiếp xúc với yếu tố
nguy cơ. Ở Brazil, đã phân tích và có đầy đủ tài liệu để chứng minh một trường hợp ảnh
hưởng của ung thư lên cộng đồng có liên quan tới việc rò rỉ chất thải phóng xạ trong bệnh
viện. Một bệnh viện chuyên về trị liệu bằng phóng xạ trong khi chuyển địa điểm đã làm
thất thoát tại địa điểm cũ một nguồn xạ trị đã được niêm phong; một người dân chuyển
đến địa điểm này đã nhặt được nó và mang về nhà. Hậu quả là đã có 249 người tiếp xúc
với nguồn phóng xạ này, nhiều người trong số đó hoặc đã chết hoặc gặp hàng loạt các vấn

khoẻ cộng đồng.

6. HIỆN TRẠNG CHUNG VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ
NGUY HẠI TẠI CÁC BỆNH VIỆN Ở VIỆT NAM
6.1. Nhận định chung
Phần lớn các bệnh viện ở Việt Nam trong quá trình thiết kế và xây dựng nằm trong
giai đoạn đất nước còn nghèo, trải qua chiến tranh lại chưa có nhận thức đúng nên đều
không có phần xử lý chất thải nghiêm túc, đúng quy trình và ngày nay vấn đề này đã trở
nên bức xúc, gây ô nhiễm, bệnh tật nghiêm trọng cho môi trường bệnh viện và xung

Trích đoạn NHỮNG KHUYẾN CÁO CHO CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT THẢI Y SIN HỞ VIỆT NAM
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status