DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Nghĩa của từ
ĐH Đại học
SXKD Sản xuất kinh doanh
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
CTCP Công ty cổ phần
MBT Máy biến thế
KTTT Kinh tế thị trường
WTO Tổ chức thương mại thế giới
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU,HÌNH VẼ
Hình 1: Cấu tạo máy biến thế, có một cuộn dây sơ cấp,cuộn dây thứ cấp và lõi thép. Error:
Reference source not found
Biểu đồ 2.2.Biểu đồ thể hiện mức tăng doanh thu hoạt động kinh doanh MBT giai đoạn
2010-2012. Error: Reference source not found
Biểu đồ 2.3.Biểu đồ thể hiện mức tăng lợi nhuận hoạt động SXKD của Công ty giai
đoạn 2010-2011. Error: Reference source not found
Biểu đồ 2.4. Biểu đồ thể hiện thị phần của các thị trường kinh doanh Error: Reference
source not found
Bảng 2.2. Tỷ trọng hoạt động kinh doanh MBT trên các thị trường. Error: Reference
source not found
Bảng 2.4.Biểu đồ thể hiện cơ cấu khách hàng của Công ty Error: Reference source not
found
DANH MỤC BẢNG BIỂU
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập tại trường Đại học Thương Mại, em đã nhận được sự giúp đỡ
rất nhiệt tình của các thầy cô giáo và bạn bè. Trong thời gian thực tập tốt nghiệp và
viết chuyên đề em cũng đã nhận được sự giúp đỡ của các thầy cô và các cô chú ở công
cứu thực trạng phát triển thị trường của công ty, tìm ra các hạn chế, nguyên nhân của
các hạn chế làm căn cứ đề xuất giải pháp giúp công ty phát triển thị trường tiêu thụ sản
phẩm máy biến thế theo hướng kết hợp cả chiều rộng và chiều sâu.
Để phát triển thị trường tiêu thụ, công ty cần khắc phục triệt để những hạn chế về:
sự sụt giảm sản lượng tiêu thụ trong thời gian tới, công tác dự báo biến động thị trường
tiêu thụ còn yếu kém, giá nguyên vật liệu sản xuất tăng cao, kênh phân phối hoạt động
kém hiệu quả, hoạt động quảng bá thương hiệu chưa thu hút được nhiều sự quan tâm
của khách hàng
Nguyên nhân của các hạn chế trên là do thị trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt
khi có sự xuất hiện của nhiều đối thủ cạnh, môi trường kinh tế thường xuyên biến
động nên công tác dự báo trở nên khó khăn, công ty không chủ động các nguồn
nguyên vật liệu sản xuất mà phụ thuộc vào các nhà cung ứng nước ngoài, cấu trúc
kênh phân phối còn yếu và chưa hợp lý, trình độ nguồn nhân lực còn thấp, công nghệ
sản xuất lạc hậu, công ty chưa chú trọng đầu tư quảng bá thương hiệu. Nếu những tồn
tại này không khắc phục kịp thời, thị trường tiêu thụ nội địa của công ty sẽ không phát
triển được và ngày càng thu hẹp, do đó làm giảm doanh thu, lợi nhuận của doanh
nghiệp.
Căn cứ vào các tồn tại hiên nay của công ty cổ phần tập đoàn Hanaka, đề tài cũng
đã đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm MBT cho
doanh nghiệp như: hoàn thiện hệ thống kênh phân phối, tăng cường đầu tư trang thiết
bị máy móc, ứng dụng công nghệ hiện đại, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, quảng
bá thương hiệu với các hoạt động: quảng cáo, PR, chiết khấu thương mại, đối với sản
phẩm: kéo dài thời gian bảo hành, cải tiến mẫu mã chất lượng sản phẩm, đa dạng hóa
về mẫu mã và chủng loại sản phẩm máy biến thế…Đồng thời kiến nghị với Nhà nước
và ngành thiết bị điện tạo cơ hội, môi trường kinh doanh thuận lợi cho các công ty
SXKD thiết bị điện trong nước phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm.
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài
Việt Nam là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trên thế giới.
Quá trình đô thị hóa diễn ra ngày càng nhanh kéo theo đó là sự ra đời hàng trăm, hàng
Thực trạng trên nếu không được khắc phục sẽ ảnh hưởng xấu đến kết quả và hiệu
quả hoạt động của công ty. Chính vì vậy việc tìm ra giải pháp cho công tác phát triển
thị trường tiêu thụ cho sản phẩm thiết bị điện tại Công ty cổ phần tập đoàn Hanaka là
vô cùng cấp thiết.
2. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan
*Công trình 1:
-Nguyễn Thị Thắm (2005) “Giải pháp phát triển tiêu thụ hàng hóa của Công ty tạp
phẩm và bảo hộ lao động” Luận văn tốt nghiệp khoa kinh tế, ĐH Thương Mại.
Nội dung : Đề tài tập trung nghiên cứu tình hình tiêu thụ các công cụ, dụng cụ ,
tạp phẩm phục vụ cho sản xuất và các sản phẩm bảo hộ lao động tại Công ty tạp phẩm
và bảo hộ lao động. Trong quá trình nghiên cứu đề tài đi sâu nghiên cứu về thực trạng
thị trường tiêu thụ các sản phẩm đó giai đoạn 2005. Kết hợp với việc sử dụng phương
pháp thu thập và phân tích dữ liệu theo các chỉ tiêu phản ánh tình hình tiêu thụ
sảnphẩm cùng với nhu cầu an toàn của con người ngày càng cao, đề tài đã đề
xuấtnhữnggiải pháp thiết thực với doanh nghiệp và kiến nghịvĩ mô.
*Công trình 2:
- Nguyễn Thu Hường (2003) “Duy trì và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm tại
Công ty bóng đèn phích nước Rạng Đông” Luận văn khoa quản trị kinh doanh, ĐH
Thương Mại.
Nội dung : Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề chính như: thực trạng tiêu thụ
sản phẩm của công ty, sử dụng phương pháp phân tích, so sánh đánh giá kết quả hoạt
động kinh doanh, tìm ra thành công và hạn chế, nguyên nhân mà công ty đang gặp
phải. Từ đó, đưa ra một số giải pháp duy trì và mở rộng thị trường cho các sản phẩm
của công ty và có một số giải pháp được công ty ứng dụng trực tiếp trong giai đoạn
này như : tăng cường và nghiên cứu chiến lược thị trường, nâng cao chất lượng và đa
dạng hóa sản phẩm, chính sách giá cả, tiếp tục đẩy mạnh hoạt động truyền thông xúc
tiến.
* Công trình 3:
-Nguyễn Thị Hòa (2005) “Giải pháp phát triển tiêu thụ sản phẩm tại công ty cơ điện và
phát triển nông thôn” Luận văn tốt nghiệp khoa kinh tế, ĐH Kinh tế Quốc Dân.
thị trường nội địa cũng như thấy được tính cấp thiết của việc phát triển thị trường tiêu
thụ sản phẩm cùng các các mục tiêu dài hạn của CTCP tập đoàn Hanaka. Em đã mạnh
dạn lựa chọn đề tài“Giải pháp phát triển thị trường tiêu thụ nội địa cho các sản
phẩm thiết bị điện tại Công ty Cổ phần tập đoàn Hanaka”.
Bằng phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu đề tài đi sâu nghiên cứu giải pháp
phát triển thị trường tiêu thụ nội địa cho sản phẩm thiết bị điện (trong bài nghiên cứu
cụ thể đối với máy biến thế) thông qua việc trả lời một loạt các câu hỏi lý luận và thực
tiễn sau đây:
-Về lý luận:
+ Một số lý thuyết cơ bản về sản phẩm MBT nhưkhái niệm, đặc điểm, vai trò…?
+Hoạt động tiêu thụ? Thị trường và thị trường tiêu thụ sản phẩm là gì?Phát triển thị
trường tiêu thụ là như thế nào?Sự cần thiết phát triển thị trường của doanh nghiệp?Ý
nghĩa, vai trò và nội dung của hoạt động tiêu thụ là gì? Những chỉ tiêu nào đánh giá
phát triển thị trường của doanh nghiệp?
-Về thực tiễn: Những ảnh hưởng của nhân tố môi trường đến phát triển thị trường tiêu
thụ sản phẩm MBT của Công ty? Thực trạng phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm
MBT của Công ty như thế nào? Điểm thành công và hạn chế là gì? Và đâu là nguyên
nhân của hạn chế đó? Trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp nào để phát triển thị
trường tiêu thụ MBT cho Công ty cổ phần tập đoàn Hanaka trên thị trường nội địa?
4.Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Công ty cổ phần tập đoàn Hanaka là một doanh nghiệp kinh doanh nhiều mặt
hàng thiết bị điện trong đó mặt hàng máy biến thế là một sản phẩm có doanh
thu lớn. Vì vậy, đề tài đi sâu vào nghiên cứu thị trường và công tác phát triển
thị trường tiêu thụ mặt hàng máy biến thế của CTCP tập đoàn Hanaka.
Mục tiêu nghiên cứu
-Hệ thống hóa các vấn đề lý thuyết về sản phẩm máy biến thế và phát triển thị trường
sản phẩm như: Khái niệm, bản chất, các chỉ tiêu đánh giá, để làm cơ sở cho việc tìm
hiểu thực trạng và nghiên cứu giải pháp phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm
MBTcủa công ty.
chưa xử lý (còn gọi là dữ liệu thô) hoặc dữ liệu đã xử lý. Như vậy, dữ liệu thứ cấp
không phải do người nghiên cứu trực tiếp thu thập.
+ Nguồn dữ liệu: thu thập từ việc sử dụng các bài giảng như kinh tế thương mại đại
cương, giáo trình, kinh tế doanh nghiệp…, nguồn trên web như : tailieu.vn,
hanaka.com.vn, vietbao.vn…, tạp chí của Công ty: Mười năm nhìn lại những thành
công và khó khăn Công ty cổ phần tập đoàn Hananka đã trải qua, báo cáo tài chính
của công ty từ năm 2010-2012, các bài chuyên đề, luận văn của những sinh viên
khóa trước : Giải pháp phát triển thị trường tiêu thụ hàng hóa của Công ty tạp
phẩm và bảo hộ lao động, giải pháp duy trì và mở rộng thị trường tiêu thụ sản
phẩm tại Công ty bóng đèn phích nước Rạng Đông…
5.2. Phương pháp phân tích dữ liệu
• Phương pháp thống kê
Phương pháp này sử dụng số liệu thống kê, kết hợp với hình vẽ, biểu đồ, đồ thị,
màu sắc, đường nét để trình bày các đặc điểm của hiện tượng. Nhìn vào đây ta có thể
thấy được dễ dàng và nhanh chóng những đặc điểm cơ bản của hiện tượng, giúp người
làm đề tài thuận tiện hơn trong việc phân tích các kết quả thu được, giúp người đọc dễ
hiểu hơn, dễ nhớ và nắm bắt vấn đề tốt hơn. Phương pháp này giúp cụ thể hóa tình
hình chi phí, lợi nhuận của công ty bằng các số liệu, bảng biểu đồ thị.
• Phương pháp so sánh, đối chiếu
Phương pháp này chủ yếu sử dụng để so sánh đối chiếu quy mô, thị phần săn phẩm
trên thị trường, doanh thu, lợi nhuận của công ty qua các năm 2010, năm 2011, và năm
2012. Qua đó để thấy được ảnh hưởng hoạt động phát triển thị trường tiêu thụ sản
phẩm đến tình hình sản xuất kinh doanh của công ty. Giúp công ty có cái nhìn chính
xác nhất về tình hình hoạt động của mình, từ đó đưa ra những giải pháp để côngty điều
chỉnh tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh cho phù hợp.
So sánh tuyệt đối: Là hiệu số của hai chỉ tiêu kỳ phân tích và chỉ tiêu kỳ cơ sở. Ví
dụ, so sánh số liệu quy mô, doanh thu, lợi nhuận của công ty năm 2011 so với năm
2010.
So sánh tương đối: Là tỷ lệ % của chỉ tiêu kỳ phân tích so với chỉ tiêu kỳ gốc để
thể hiện mức độ hoàn thành hoặc tỷ lệ của số chênh lệch tuyệt đối so với chỉ tiêu gốc
Theo quan niệm cổ điển, thị trường là nơi diễn ra các mối quan hệ trao đổi muabán
hàng hóa. Theo nghĩa này thị trường bị thu hẹp ở cái chợ, gắn liền với không gian thời
gian và địa điểm cụ thể. Sự phát triển của lực lượng sản xuất khiến cho lưu thông hàng
hóa trở lên phức tạp, với nhiều hình thức phong phú đa dạng mà khái niệm thị trường
cổ điển không thể bao quát hết.
Quan điểm hiện đại cho rằng, thị trường là quá trình người mua, người bán tác
động qua lại lẫn nhau để xác định giá cả và lượng hàng hóa mua bán. Như vậy thị
trường là tổng thế các quan hệ về lưu thông hàng hóa, lưu thông tiền tệ, các giao dịch
mua bán và các dịch vụ.
Theo David Begg: thị trường là tập hợp các sự thỏa thuận thông qua đó người bán
và người mua tiếp xúc với nhau để trao đổi hàng hóa và dịch vụ.
Theo C.Mác ở đâu có phân công lao động xã hội và sản xuất hàng hóa thì ở đó có
thị trường, thị trường chẳng qua là biểu hiện của phân công lao động xã hội và do đó
nó có thể phát triển vô cùng tận.
Nói tóm lại, dù theo quan niệm nào thì thị trường bao gồm các yếu tố cung cầu và
giá cả. Tổng hợp các nhu cầu của khách hàng tạo cầu về hàng hóa, tổng hợp các nguồn
cung ứng cho khách hàng trên thị trường tạo cung hàng hóa. Sự tương tác giữa cung
và cầu, giữa người mua và người bán, giữa người mua với nhau, người bán với nhau
hình thành giá cả thị trường.
Khái niệm thị trường tiêu thụ sản phẩm
Là nơi diễn ra các mối quan hệ về lưu thông hàng hóa, tiền tệ, các giao dịch mua
bán và các dịch vụ một cách trực tiếp giữa người bán và người tiêu dùng cuối cùng.Tại
đây sản phẩm đã kết thúc quá trình lưu thông và đi vào tiêu dùng.
1.1.4.Khái niệm phát triển thị trường tiêu thụ
Khái niệm: Phát triển thị trường của doanh nghiệp là sự biến đổi mọi mặt của thị
trường doanh nghiệp, nó không chỉ bao gồm sự tăng lên về quy mô khách hàng của
doanh nghiệp mà nó còn làm thay đổi cả về cơ cấu tiêu dùng của khách hàng.
Phát triển thị trường đồng nghĩa với việc mở rộng tiêu thụ sản phẩm ra thị trường
mới để có thêm nhiều khách hàng mới và việc thu hút khách hàng mới từ đối thủ cạnh
tranh chuyển sang tiêu dùng sản phẩm.
gian giữa CA và HA gọi là dây quấn trung áp ( TA).
Dây quấn sơ cấp và thứ cấp thường không nối điện với nhau, máy biến thếnhư vậy
gọi là máy biến thế phân ly hay máy biến thế cảm ứng.
Nếu máy biến thế có hai dây quấn nối điện với nhau và có phần chung gọi là máy
biến áp tự ngẫu, máy biến áp tự ngẫu có phần dây quấn nối chung nên tiết kiệm được
lõi thép, dây quấn và tổn hao công suất nhỏ hơn máy biến áp phân ly (có cùng công
suất thiết kế). Nhưng máy biến thế tự ngẫu có nhược điểm là hai dây quấn nối điện với
nhau nên ít an toàn.
Hình 1: Cấu tạo máy biến thế, có một cuộn dây sơ cấp,cuộn dây thứ cấp và lõi thép.
+ Thứ nhất: Nó có một cuộn dây sơ cấp, đây là cuộn dây đầu vào. Điện áp đầu vào
được đưa vào cuộn dây này.
+ Thứ hai: Cuộn dây sơ cấp, đây là cuộn dây đầu ra. Điện áp đầu ra được lấy từ
cuộn dây này.
+ Thứ ba: Lõi sắt, đây cũng là gông đỡ cho biến áp và là phần cảm ứng giữa hai
cuộn sơ cấp và thứ cấp.
c) Vỏ máy
Vỏ máy được làm bằng thép, dùng để bảo vệ máy. Với các máy biến thế dùng để
truyền tải và phân phối điện năng, vỏ máy gồm hai bộ phận: thùng và nắp thùng.
Thùng máy làm bằng thép, tùy theo công suất mà hình dáng và kết cấu vỏ máy có
khác nhau, có loại thùng phẳng, có loại thùng có ống hoặc cánh tản nhiệt.
Nắp thùng dùng để đậy thùng và trên đó đặt các chi tiết quan trọng của máy như:
các sứ đầu ra của dây quấn cao áp và hạ áp, bình giãn dầu, ống bảo hiểm, bộ phận
truyền động của bộ điều chỉnh điện áp…
1.2.1.2. Nguyên lý hoạt động của máy biến thế
Máy biến thế làm việc dựa vào hiện tượng cảm ứng điện từ.
Xét máy biến thế một pha hai dây quấn, dây quấn sơ cấp 1 có W
1
vòng dây, dây
quấn thứ cấp 2 có W
2
chính) giảm biên độ. Để giữ cho từ thông chính không đổi, dòng sơ cấp phải tăng lên
một lượng khá lớn để từ thông chính tăng thêm bù vào sự suy giảm do từ thông thứ
cấp gây nên. Điện áp thứ cấp khi máy có tải là U
2
. Như vậy năng lượng điện đã được
truyền từ sơ cấp sang thứ cấp.
1.2.1.3. Phân loại sản phẩm máy biến thế
Có nhiều loại máy biến áp và nhiều cách phân loại khác nhau: Theo công dụng,
máy biến áp gồm những loại chính sau.
- Máy biến áp điện lực dùng để truyền tải và phân phối điện năng
- Máy biến áp điều chỉnh công suất nhỏ ( phổ biến trong các gia đình ) có khả năng
điều chỉnh để giữ cho điện áp thứ cấp phù hợp với đồ dùng điện khi điện áp sơ cấp
thay đổi.
- Máy biến áp công suất nhỏ dùng cho các thiết bị đóng cắt, các thiết bị điện tử và
trong gia đình.
- Các máy biến áp đặc biệt, máy biến áp đo lường máy biến áp làm nguồn cho lò
luyện kim hoặc dùng chỉnh lưu, điện phân, máy biến áp hàn điện, máy biến áp dùng thí
nghiệm …
Theo số pha của dòng điện được biến đổi, máy biến áp được chia thành loại một
pha và loại ba pha.
Theo vật liệu làm lõi, người ta chia ra máy biến áp lõi thép và máy biến áp lõi
không khí.
Theo phương pháp làm mát, người ta chia ra máy biến áp làm mát bằng dầu, máy
biến áp làm mát bằng không khí ( biến áp khô)
1.2.1.4. Công dụng máy biến thế
Máy biến áp được sử dụng rất rộng rãi trong công nghiệp và trong đời sống. Ở mỗi
lĩnh vực, mục đích sử dụng của máy biến áp khác nhau dẫn đến kết cấu của MBT cũng
khác nhau.
Trong truyền tải và phân phối điện năng, để dẫn điện từ nhà máy đến nơi tiêu thụ
phải có đường dây tải điện. Khoảng cách từ nhà máy điện đến hộ tiêu thụ thương rất
1.2.2.3.Nhiệm vụ hoạt động tiêu thụ
Mục tiêu thụ là bán hết hàng với doanh thu tối đa và chi phí kinh doanh cho hoạt
động tiêu thụlà tối thiểu, đểthực hiện mục tiêu này thì hoạt động tiêu thụ sẽcó các
nhiệm vụ sau:
-Tiêu thụsản phẩm phải có nhiệm vụchủ động từviệc nghiên cứu thị trường xác
định cầu của thịtrường đối với sản phẩm, cho đến đánh giá khả năng sản xuất của
doanh nghiệp để từ đó có các quyết định đầu tư tối ưu.
-Cần tiến hành các hoạt động quảng cáo nhằm giới thiệu và thu hút khách hàng:
Trong thời buổi bùng nổ thông tin như hiện nay thì vai trò của hoạt động quảng cáo là
rất lớn, nó sẽ khuyếch trương sản phẩm của doanh nghiệp, khơi gợi khả năng tiềm ẩn
của cầu.
-Tổ chức bán hàng và thực hiện các dịch vụ sau bán hàng nhằm bán được nhiều
hàng nhất với chi phí thấp nhất.
1.2.2.3. Nội dung hoạt động tiêu thụ
Cùng với sự chuyển đổi nền kinh tế sang cơ chế thị trường, công tác tiêu thụ sản
phẩm có nhiều đổi mới và mở rộng. Nó bao gồm các nội dung cơ bản như :
- Tổ chức nghiên cứu thị trường.
- Xây dựng chiến lược sản phẩm.
- Chính sách về giá cả.
- Phân phối hàng hoá và các kênh tiêu thụ.
- Bán hàng và công tác xúc tiến bán hàng.
a)Nghiên cứu thị trường tiêu thụ và doanh nghiệp
Để đưa ra quyết định chính xác phương án sản xuất lựa chọn mục tiêu của sản
xuất, loại hình sản phẩm, số lượng và chất lượng cho thị trường thì việc đầu tiên mà
doanh nghiệp phải tiến hành đó là nghiên cứu và điều tra thị trường. Việc nghiên cứu
và điều tra được coi là hoạt động có tính chất tiền đề của công tác kế hôạch hoa hoạt
động sản xuất kinh doanh cua doanh nghiệp Nghiên cứu yêu cầu thị trường có tầm
quan trọng trong việc xác định đúng đắn phương hướng phát triển SXKD của doanh
nghiệp. Đối với công tiêu thụ, nghiên cứu thị trường càng có tầm quan trọng vì nó ảnh
hưởng trực tiếp đến khối lượng, giá bán, mạng lưới, chi phí và hiệu quả của công tác
Trong quá trình sản xuất kinh doanh mỗi doanh nghiệp phải xây dựng cho mình
một chiến lược sản phẩm, qua đó sản phẩm phù hợp với nhu cầu của khách hàng.
Ngoài ra, chính sách sản phẩm còn đảm bảo cho doanh nghiệp thực hiện được các mục
tiêu của chiến lược chung là:
- Số lượng và chất lượng sản phẩm : sự mở rộng hay thu hẹp chủng loại sản phẩm, chi
phí sản xuất và mức giá có thể bán được của mỗi loại sản phẩm. Điều này có thể quyết
định được mức độ lợi nhuận mà doanh nghiệp có thể đạt được.
- Doanh nghiệp có thể tăng doanh số bán hàng, mở rộng được thị phần hay không phụ
thuộc rất lớn vào khả năng thâm nhập thị trường, mở rộng chủng loại sản phẩm hay
không tuỳ thuộc vào nhãn hiệu, chất lượng,uy tín sản phẩm của doanh nghiệp.
- Chính sách sản phẩm còn đảm bảo cho doanh nghiệp một sự tiêu thụ chắc chắn,
tránh cho doanh nghiệp khỏi những rủi ro tổn thất trong kinh doanh.
Về nội dung chính sách sản phẩm là sự tổng hợp các chính sách về cơ cấu,
chủng loại sản phẩm, chính sách hoàn thiện và nâng cao đặc tính sử dụng của sản
phẩm trong sự thích ứng với nhu cầu của người tiêu dùng,chính sách đổi mới và
nghiên cứu sản xuất sản phẩm bao gồm các yếu tố phi vật chất gắn liền với nó như tên
của sản phẩm, nhãn hiệu, biểu tượng của sản phẩm …đồng thời phải căn cứ vào chu
kỳ sống của từng loại sản phẩm cũng như tính vòng đời của nó có những chính sách
thay thế.
Trong kinh doanh hiện đại rất hiếm doanh nghiệp nào kinh doanh một sản phẩm nhất
định rất nguy hiểm. Trong điều kiện thị trường luôn biến động và nhu cầu của người
tiêu dùng luôn biến đổi theo thời gian không gian và giới tính…nếu chỉ có một loại sản
phẩm doanh nghiệp khó tránh khỏi rủi ro và không thể nào thực hiện được mục tiêu an
toàn.Vì thế các doanh nghiệp phải quan tâm đến việc soạn thảo một chính sách chủng
loại sản phẩm.
Một sản phẩm với tư cách là hàng hoá với rất nhiều công dụng do đó nó có những
đặc tính sử dụng khác nhau, người sản xuất phải quán triệt các quan điểm các đặc tính
sử dụng và chất lượng sản phẩm cho người sử dụng.Nghĩa là doanh nghiệp phải hoàn
thiện về cấu trúc kỹ thuật về sản phẩm, nâng cao thông số vận hành, độ bền, độ an
toàn kích thước, mẫu mã.
- Phân tích lựa chọn các mức giá dự kiến.
-Làm giá phân biệt.
Mục tiêu chính của các chính sách gái cả là khối lượng giá tăng trên cơ sở tổng lợi
nhuận tăng. Tuy nhiên giới hạn phải dựa trên các yếu tố:quy chế quản lý của Nhà nước
(khung giá mức giá chuẩn do Nhà nước quy định), mức giá thống trị trên thị trường
cạnh tranh, cơ cấu chi phí sản xuất, yêu cầu mục đích thâm nhập thị trường của doanh
nghiệp.
Việc quy định giá sản phẩm phải được xem xét định kỳ trong suốt vòng đời của sản
phẩm, tuỳ theo những thay đổi mục tiêu của doanh nghiệp, sự vận động của thị trường
và chi phí của doanh nghiệp hay chính sách của người cạnh tranh.Vì gía cả có ảnh
hưởng to lớn đến khối lượng bán sản phẩm của doanh nghiệp, giá có tác động mạnh
đến thu nhập có nảh hưởng tới lợi nhuận của doanh nghiệp. Việc lựa chọn các mức giá
phải dựa trên các yếu tố sau:
- Dự đoán chi phí thu nhập và lợi nhuận.
- Dự đoán tác động dây chuyền đối với các sản phẩm của doanh nghiệp.
Sau đó, mức gái tối ưu được lựa chọn sẽ là mức giá thoả mãn tốt nhất toàn bộ mục
tiêu đã được quy định.Từ đó tiến hành xây dựng cơ cấu giá.
d) Phân phối hàng hoá và các kênh tiêu thụ
Trong nền kinh tế thị trường, việc tiêu thụ sản phẩm được thực hiện bằng nhiều
kênh khác nhau. Qua đó, sản phẩm được chuyển từ hãng sản xuất kinh doanh đến tận
tay người tiêu dùng cuối cùng.Việc phân phối hàng hoá khôngchỉ dừng lại ở khâu
quyết định khối lượng hàng hoá để định hướng và thực hiện việc chuyển giao danh
nghĩa quyền sở hữu thông qua các hoạt động mua bán trung gian, làm cầu nối giữa
người sản xuất và người tiêu dùng mà bao gồm vận hành tổ chức các mạng lưới trung
gian theo yếu tố khác nhau.
e)Bán hàng và công tác xúc tiến bán hàng
• Bán hàng:
Trong cơ chế thị trường mọi hoạt động kinh doanh đều thông qua việc mua bán hàng
hoá để tạo ra lợi nhuận. Bán hànglà sự chuyển đổi hình thức giá trị hàng hoá từ hiện
vật sang tiền tệ nhằm thoả mãn nhu cầu của khách hàng về mặt giá trị sử dụng nhất
làm tăng thêm tập khách hàng,doanh thu tiêu thụ và lợi nhuận ngày càng lớn, tạo điều
kiện cho doanh nghiệp ngày càng mở rộng quy mô, đầu tư đổi mới trang thiết bị, áp
dụng công nghệ tiên tiến hiện đại vào quá trình sản xuất. Do đó tiết kiệm chi phí sản
xuất, nâng cao hiệu quả kinh doanh, tạo điều kiện nâng cao uy tín và lợi thế của doanh
nghiệp, tăng vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp trên thương trường, đảm bảo sự tồn
tại vững chắc của doanh nghiệp trong điều kiện cạnh tranh khốc liệt.
Đối với xã hội, phát triển thị trường của doanh nghiệp giúp doanh nghiệp thu được
lợi nhuận cao là điều kiện để đảm bảo nghĩa vụ với Nhà nước, tạo nhiều công ăn việc
làm, thu nhập, cải thiện điều kiện làm việc cũng như đảm bảo đời sống cho người lao
động, có điều kiện thực hiện các mục tiêu của xã hội.
1.2.3.2. Nội dung phát triển thị trường
Phát triển thị trường nhằm tìm kiếm cơ hội hấp dẫn trên thị trường. Có rất nhiều
cơ hội hấp dẫn trên thị trường nhưng chỉ có những cơ hội phù hợp với tiềm năng và
mục tiêu của doanh nghiệp mới được coi là cơ hội hấp dẫn. Các doanh nghiệp hoạt
động trong cơ chế thị trường nói chung chỉ quan tâm tới các cơ hội hấp dẫn. Phát triển
thị trường cần tập trung phát triển đồng thời theo cả chiều rộng lẫn chiều sâu.
a. Phát triển thị trường theo chiều rộng
Mỗi doanh nghiệp sản xuất kinh doanh đều có sản phẩm hiện tại của mình và luôn
muốn tìm những thị trường mới để tiêu thụ những sản phẩm hiện tại đó sao cho số
lượng sản phẩm tiêu thụ ra trên thị trường ngày càng tăng lên. Phát triển theo chiều
rộng được hiểu là mở rộng quy mô thị trường. Ở đây ta có thể mở rộng theo vùng địa
lý và mở rộng theo đối tượng tiêu dùng.
Mở rộng thị trường theo vùng địa lí:
Phát triển thị trường theo chiều rộng có nghĩa là mở ranh giới thị trường theo khu
vực địa lí hành chính. Đối với các doanh nghiệp nhỏ, việc phát triển theo vùng địa lí
có thể đưa sản phẩm của mình sang tiêu thụ ở các vùng khác. Việc mở rộng theo vùng
địa lí làm cho số lượng người tiêu dùng tăng lên và tăng doanh số. Tùy theo khả năng
mở rộng tới các vùng lân cận hoặc xa hơn nữa là vượt khỏi biên giới quốc gi mà khối
lượng hàng hóa tiêu thụ sẽ tăng lên. Hiện nay nhiều công ty lớn mạnh thì việc mở rộng
thị trường không bao giờ chỉ bao hàm vượt ra khỏi biển giới quốc gia, khu vực mà còn
Là việc thâm nhập sâu hơn vào thị trường trên cơ sở khai thác những hàng hóa hiện
tại và giữ chân khách hàng truyền thống, doanh nghiệp sử dụng các chính sách nhằm
đẩy sản phẩm tới khách hàng nhiều hơn, nhưng mỗi khách hàng có thái độ khác nhau,
với khách hàng mua thường xuyên doanh nghiệp phải tạo ra những sản phẩm có nhiều
công dụng tính năng, tính năng mới để khách hàng mua thường xuyên hơn, với khách