1
Phần I. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sinh vật nói chung và thực vật nói riêng đã hình thành và phát triển lâu
dài nên chúng rất đa dạng và phong phú. Thực vật sống khắp nơi trên trái đất
từ Bắc cực lạnh giá đến sa mạc khô nóng. Sống trong môi trường, trải qua một
thời gian lâu dài, thông qua chọn lọc tự nhiên đã hình thành nên những đặc
điểm thích nghi tương ứng cho phép thực vật tồn tại, sinh trưởng và phát triển
tốt. Việc tìm ra mối quan hệ giữa các đặc điểm hình thái, giải phẫu của thực
vật với môi trường sống của nó là một việc làm có ý nghĩa quan trọng, giúp
chúng ta có sự hiểu biết sâu sắc và cái nhìn toàn diện về thế giới thực vật.
Trong quá trình sống và tiếp xúc với môi trường trong giới thực vật đã
hình thành nên các nhóm thích nghi với môi trường khô nóng mà cơ thể chúng
có những biến đổi về hình thái và cấu tạo. Điển hình cho hướng thích nghi này
là các loài trong họ Xương rồng (Cactaceae). Chúng gồm 120 chi với khoảng
2500 loài. Các loài trong họ Xương rồng thường có thân mọng nước, lá tiêu
giảm hoặc biến thành gai, rễ nhiều và lan rộng trong lòng đất, có thể sống ở
những vùng khô nóng và nghèo dinh dưỡng. Hơn thế nữa chúng có sức sống
rất bền bỉ. Nhiều loài có hoa đẹp được sử dụng làm cảnh. Việc nhân giống
cũng rất dễ dàng vì chúng có khả năng tái sinh tốt, ít tốn diện tích, có thể trồng
trong chậu nhỏ, chế độ nước và dinh dưỡng cũng không đòi hỏi nghiêm ngặt.
Chính vì những ưu điểm trên mà xương rồng được trồng rất phổ biến. Thành
phố Huế là nơi có nhiều loài xương rồng đẹp, thích nghi với điều kiện khí hậu
địa phương, được trồng rất phổ biến. Việc tìm hiểu các đặc điểm hình thái,
giải phẫu thích nghi của các loài xương rồng trồng làm cảnh ở thành phố Huế
là cần thiết để có những tác động đúng đắn, phục vụ tốt hơn cho nhu cầu về
cảnh quan của con người. Đó cũng là lí do chúng tôi chọn đề tài “Tìm hiểu
đặc điểm hình thái, giải phẫu thích nghi một số thực vật trồng làm cảnh
thuộc họ Xương rồng (cactaceae) ở thành phố Huế”.
2
2. Mục đích nghiên cứu
7.2. Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm
7.2.1. Quan sát, mô tả
- Quan sát, mô tả các cơ quan sinh dưỡng của những loài thực vật nghiên
cứu, đo đếm các bộ phận liên quan, ghi chép các điều kiện sinh thái ở các địa
điểm nghiên cứu.
- Chụp ảnh các đối tượng nghiên cứu trong điều kiện tự nhiên.
7.2.2. Thu mẫu
Thân: Chọn thân có kích thước đồng đều. Do đặc trưng là ngay từ nhỏ
một số loài xương rồng đã có kích thước lớn nên với những đối tượng này lấy
một phần thân có đầy đủ các bộ phận từ biểu bì đến ruột.
Rễ: Lấy rễ đồng đều về kích thước.
7.2.3. Giải phẫu mẫu trong phòng thí nghiệm
* Phương pháp cắt nhuộm mẫu
- Cắt trực tiếp bằng tay với lưỡi dao lam
- Cắt xong sử dụng phương pháp nhuộm kép gồm các bước sau:
+ Ngâm mẫu cắt vào dung dịch Javen trong 15 - 20 phút để tẩy sạch nội
chất của tế bào, rửa sạch bằng nước cất.
+ Ngâm mẫu vào axit axetic 1% khoảng 5 phút để mẫu dễ bắt màu
khi nhuộm.
+ Nhuộm xanh bằng dung dịch xanh mêtylen loãng trong khoảng 5 - 10
giây, rửa sạch bằng nước cất.
+ Nhuộm đỏ bằng dung dịch đỏ carmin trong 20 - 30 phút, rửa lại bằng
nước cất.
+ Lên kính bằng nước cất để quan sát, phân tích, đo đếm.
7.2.4. Phương pháp đo trên kính hiển vi [17]
Sử dụng phương pháp đo gián tiếp bằng cách so sánh kích thước của
vật cần đo với một thước đo thị kính và thước đo vật kính được lắp thêm vào
kính hiển vi.
4
Trước hết phải xác định giá trị của mỗi vạch trên thước đo thị kính (tính
=
=
Với
X
: giá trị trung bình
∑
=
n
i
Xi
1
: tổng giá trị của X khi i=1n
Tính độ lệch chuẩn:
1
)(
1
2
−
−
=
∑
=
n
XXi
n
i
δ
Tính sai số:
n
Buphon (1707 - 1780) nghiên cứu ảnh hưởng của các điều kiện khí hậu và
thức ăn lâu dài đã ảnh hưởng đến những biến đổi của thực vật và sự thích nghi
là kết quả của quá trình tiến hoá lâu dài.
6
Levacopxki (1833 - 1893) nghiên cứu mối quan hệ của hệ rễ của một số
cây dưới ảnh hưởng của nhiệt độ và độ ẩm. Ông nhận thấy ở rễ cũng có những
biến đổi về hình thái cấu tạo do tác động của các yếu tố môi trường này.
Năm 1884, Constange khi nghiên cứu những cây ở nước đã phát hiện ra
những sai khác của thực vật ở nước và ở cạn.
Maiacopxki nghiên cứu sự thay đổi về hình thái của thực vật khi thay
đổi môi trường sống từ cạn xuống nước.
Những nghiên cứu của Boni cho biết những cây sống ở đồng bằng có
hình thái bình thường còn những cây sống ở miền núi thì có dạng thấp, đốt
ngắn, lá thường xếp theo hình hoa thị.
Đến thế kỷ XX, giải phẫu hình thái thích nghi thực vật được hình thành
do trường phái giải phẫu thực vật kết hợp với sinh thái và đã có nhiều công
trình nghiên cứu về hình thái giải phẫu thích nghi. Lúc bấy giờ sinh thái học
đã phát triển mạnh tạo điều kiện cho các nhà giải phẫu học thực vật đi sâu
nghiên cứu lĩnh vực giải phẫu sinh thái. Những năm 40 của thế kỷ XX, sinh
thái học đã hình thành hướng giải phẫu sinh thái do Keller lập ra. Từ đây, các
nhà thực vật học và sinh thái học có thể hiểu được bản chất và sự đa dạng của
quá trình thích nghi ở thực vật [17].
Ở Việt Nam, sau cách mạng tháng Tám, Lê Khả Kế với cuốn “thực vật
đại cương” là tác phẩm đầu tiên có đề cập đến giải phẫu thực vật. Về sau có
nhiều sách hoặc giáo trình hình thái, giải phẫu ra đời như Vũ Văn Chuyên
(1970) với giáo trình Giải phẫu thực vật. Nguyễn Bá (1974, 1975) với quyển
Giải phẫu học thực vật- Hình thái giải phẫu học thực vật. [20]. Nguyễn Như
Đối - Nguyễn Khoa Lân (1995) với giáo trình Giải phẫu thực vật, Hoàng Thị
Sản - Nguyễn Thị Phương Nga (2003) với quyển Hình thái - giải phẫu học
thực vật. Nguyễn Khoa Lân (2006) với giáo trình Giải phẫu hình thái thích
vào
ban ngày và nhả khí CO
2
vào ban đêm, cho nên chúng ta hạn chế trồng chúng ở
trong nhà và không nên trồng ở trong phòng ngủ). Do đó, chúng ta trồng xương
rồng ở đâu cũng được, kể cả ở trong phòng ngủ. Tuy nhiên, có một số loài
xương rồng nguyên thủy có lá như những thực vật hai lá mầm khác, ví dụ như
loài Pereskia aculeata (xương rồng Hoa hồng) và các loài xương rồng thuộc họ
Thầu dầu (Euphorbiaceae) thì không nên trồng ở trong phòng ngủ vì vào ban
8
đêm chúng cũng nhả khí CO
2
gây độc cho chúng ta nếu như chúng ta tưới nước
đầy đủ cho cây.
Cách đơn giản nhất để nhận biết một cây là xương rồng hoặc không
phải xương rồng là chúng ta xem xem cây có cấu trúc núm hay không có; chỉ
ở họ Xương rồng mới có núm.
Các cây thuộc họ Xương rồng và cả những thực vật mọng nước khác,
dự trữ được rất nhiều nước. Có người bảo thân cây xương rồng là một cái bình
chứa nước. Khi cây gặp khô hạn, cây tạm thời thiếu nước, chúng lấy nước dự
trữ ra để sử dụng, không héo và không chết giống như những cây khác. Lượng
nước mà cây để mất đi cũng rất ít. Xương rồng là cây hoa kiểng cần ít nước
tưới, thích hợp cho người bận việc hoặc hay vắng nhà.
Điểm đáng nói là cây xương rồng có một hình dáng kì lạ. Có nhiều
người say mê cái vóc dáng kì dị nhưng rất đẹp, rất đa dạng của xương rồng
mà thiên nhiên đã trao cho chúng. Dáng cây hiện nay là kết quả của quá trình
tiến hóa lâu đời trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt. Hình dạng kì lạ của
chúng là kết quả của sự thay đổi để thích nghi việc dự trữ nước: thân cây mập,
lá biến thành gai, nếu có lá thì lá nhỏ hoặc mau rụng, thân mọng nước. Thân
cây thường có lớp cu-tin dày hoặc có lớp áo sáp hoặc có nhiều lông gai hoặc
Xương rồng được tìm thấy nhiều ở những vùng ấm áp và vùng khô hạn
ở Bắc và Nam Mỹ, nằm trong phạm vi từ 56
0
vĩ độ Bắc ở Canada cho đến 53
0
vĩ độ Nam thuộc vùng Patagonia ở tận miền Nam châu Mỹ. Khu vực rộng lớn
này có diện tích đến 2 triệu km
2
, chúng nằm từ dãy núi Rocky ở Canada xuyên
qua khắp lục địa Mỹ đến tận Patagonia gần eo biển Magellan. Từ 50
0
vĩ độ
Nam, xương rồng chỉ có lác đác mà thôi.
Xương rồng có mặt ở đồng bằng, ở vùng bán sa mạc, sa mạc và ven
biển nhưng cũng có ở vùng nhiệt đới, đặc biệt là nhóm cây phụ sinh. Cây phụ
sinh là thực vật sống trên mặt đất, trên một thực vật khác hoặc trên những tảng
đá có rong rêu; chúng thường sống trên các mảnh vụn tụ tập trên các nhánh
cây hoặc trên các tảng đá ở trong rừng.
10
Một số ít xương rồng lại được tìm thấy ở bờ biển ẩm ướt. Một số khác
thì có ở vùng núi, nơi có độ cao có thể đến gần 5.000 m (núi Andes). Số khác
thì có mặt ở cao nguyên, như nhiều cao nguyên ở Mexico.
Sự phân bố xương rồng không có giới hạn về độ cao so với mực nước
biển. Chúng được tìm thấy ở độ cao ngang với mực nước biển cũng như ở núi
cao, nơi có thể cao đến trên 4.800 m. Xương rồng tập trung nhiều nhất là ở
vùng dọc theo Hạ chí tuyến Bắc Mỹ và Đông chí tuyến Nam Mỹ.
Tóm lại, sự phân bố tự nhiên của xương rồng trải rộng từ biên giới giữa
Mỹ và Canada xuyên qua Trung Mỹ, đến Nam Mỹ, đến tận biên giới phía
Nam giữa Brazil và Argentina. Hầu hết xương rồng được tìm thấy ở các quốc
gia và vùng lãnh thổ: Mỹ, Mexico, Cuba, The West Indies, Honduras, Chile,
Melocactus và một loài Opuntia.
* 1623: Gaspard Bauhin mô tả loài Opuntia ficus-indica và loài Cereus
peruvianus spinosus fructu rubro.
* 1688: John Ray mô tả loài Echinomelocactuslanuginosumtubercolis
spinosis, loài này thật ra là Mammillaria.
* 1696: Plunket mô tả và minh họa một Epiphyllum là Phyllanthos
americanna sinuosis folis longgis. Cũng thời gian này, Abraham Munting of
Groningen xuất bản cuốn “A precise Desciption of the World
’
s Plants”, trong
đó có mô tả loài Opuntia major augustifolia.
* 1718: Richard Bradley xuất bản cuốn “History of Succulent Plants”
(Lịch sử cây mọng nước) và sau đó có bài viết về cách trồng cây mọng nước.
* 1731: Philip Miller’s xuất bản cuốn “Gardener’s Dictionary” trong đó
liệt kê 12 loài Cereus và 11 loài Opuntia.
* 1732: Johann Jakob Dillen xuất bản “Hortus Elthamensis”, trong đó
ông minh họa các chi Epiphyllum, Pereskia, Opuntia và loài Nopalea
cochenillifera (Xương rồng Phẩm son)
* 1753: Linnaeus (1707-1778) xuất bản cuốn “Species Plantarum”, một
công trình đặt nền móng cho cách đặt tên thực vật, trong đó ông xếp tất cả các
12
xương rồng mà ông biết vào một chi gọi là Cactus; thời đó ông biết độ 21 loài
xương rồng. Về sau, trong cuốn Gardener’s Dictionary in lần thứ hai, Miller
công bố thêm 3 chi nữa là Opuntia, Cereus và Pereskia.
* 1812: Andrian H.Haworth thành lập thêm chi Mammillaria. Vào thời
gian này, từ Cactus được xem là từ chỉ chung các thực vật thuộc họ Cactaceae
(họ Xương rồng)
* Trong suốt thế kỷ IXX, có nhiều cuộc thám hiểm để nghiên cứu và
khám phá thế giới thực vật. Kết quả là xương rồng đã được phân loại.
* Đến cuối thế kỷ IXX, Salmus Kyck và Schumann phân loại xương
việc, thời gian dành cho cây cối, vườn tược rất ít, cho nên chỉ trồng được
xương rồng hoặc một số ít cây hoa cảnh thông thường, vì xương rồng đòi hỏi
rất ít công chăm sóc.
Xương rồng là cây hoa cảnh kì lạ. Chúng có sức quyến rũ lạ lùng.
Những cây khác như cây lan, cây hồng…thì chúng chỉ đẹp khi có hoa; còn với
xương rồng, chúng đẹp không những vì có hoa mà cả vì hình dáng của chúng.
Đôi khi chúng ta còn học được ở xương rồng một vài điều bổ ích, đó là tính
tiết kiệm nước, tính thích nghi với môi trường sống.
Ở ngoại ô thành phố và nông thôn, số người trồng xương rồng cũng
ngày một nhiều; Người ta trồng xương rồng để tạo cảnh đẹp hoặc hút bớt
khí CO
2
.
Ngày nay, trái đất đang ngày càng nóng lên. Điều kiện này cây xương
rồng có lẽ thích hợp hơn các thực vật khác. Ở nhiều nơi, trước đây xương rồng
không sống được vì lạnh quá, nay do nhiệt độ tăng lên, chúng có thể sống
được. Ngoài ra, lượng khí CO
2
thải ra trong không khí cũng ngày một nhiều
hơn, ảnh hưởng đến sức khoẻ của con người. Như vậy trồng xương rồng là
thích hợp vì các loài xương rồng thu nhận khí CO
2
cả ngày lẫn đêm [11].
2.7. Phân loại xương rồng
2.7.1. Phân loại dựa vào sự phân bố tự nhiên
Căn cứ vào sự phân bố tự nhiên của xương rồng, chúng ta có thể phân
biệt 4 nhóm xương rồng chính sau đây [11].
14
* Xương rồng sa mạc hoặc xương rồng bán sa mạc
Xương rồng thuộc nhóm này mọc ở vùng ấm áp, chúng sống ở trên mặt
Những xương rồng thuộc nhóm này không chịu được đất ẩm, chúng ưa
đất có độ pH cao và đất có đá-cát-sỏi. Ví dụ loài Cephalocereus sennilis và
loài Astrophytum capricorne
* Nhóm ưa đất giàu cát
Đây là những xương rồng mọc ở bờ biển, cồn cát ven biển. Ví dụ chi
Opuntia, các loài trụ khế Cereus. Ở Việt Nam, đất cát ven biển miền trung
(Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam, Ninh Thuận và Bình Thuận) có nhiều
loài xương rồng thuộc 2 chi này
* Nhóm ưa đất axit hoặc đất kiềm
Những xương rồng thuộc nhóm này hơi kén đất trồng
Đất hơi axit: Ví dụ loài Echinocereus knippelianus.
Đất hơi kiềm: Ví dụ loài Astrophytum capricorne
Một khi đã phân loại xương rồng ra như trên, chúng ta trồng chúng rất
dễ vì biết được yêu cầu về đất của chúng cũng như cách chăm sóc hợp lý.
Cách phân loại này rất thiết thực.
2.7.3. Phân loại dựa vào ánh sáng
Ánh sáng mặt trời có ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng và phát triển
của cây xương rồng. Nói chung các loài xương rồng sinh trưởng và phát triển
tốt trong điều kiện ngày dài. Trong phạm vi cường độ ánh sáng mặt trời,
chúng ta chia xương rồng ra làm 2 nhóm chính [11]:
* Nhóm ưa ánh sáng mạnh
Đó là những xương rồng ưa ánh sáng trực tiếp, cả ngày và ngày dài. Ví
dụ như các loài ở sa mạc, loài Hylocereus undatus
* Nhóm ưa ánh sáng che khuất
Xương rồng thuộc nhóm này thích hợp với ánh sáng yếu, ánh sáng
khuếch tán; đó là những xương rồng mọc trong rừng nhiệt đới hoặc á nhiệt
đới. Chẳng hạn như chi Epiphyllum và chi Rhipsalis.
Thường thường chúng ta trồng xương rồng ở trong nhà, nhà có mái che.
Che ở đây là che mưa chứ không phải che nắng.
16
mọc nhánh ở gốc.
17
- Carnegiea gigantea: có thân to, cao, tương đối tròn, mọc ra nhiều
nhánh ở bên hông.
- Carnegiea polylopha: thân to lớn, cao, tròn và độc trụ.
- Cephalocereus palmeri: thân hình trụ khế, cao và có nhiều nhánh
Những loài kể trên có thân đứng, một số khác có thân nằm, thân mọc
thành cụm hoặc thân bò v.v…
Nhóm xương rồng hình trụ cũng rất lớn, bao gồm nhiều loài xương
rồng thuộc nhiều tộc khác nhau với nhiều chi, nhiều loài.
* Nhóm xương rồng có đốt
Thân cây chia ra nhiều đốt, thân tròn hoặc dẹp. Hầu hết chúng thuộc chi
Opuntia, ví dụ 3 loài phổ biến sau:
- Opuntia rufrida: thân có dạng vợt
- Opuntia molesta: thân tròn
- Opuntia dillenii: có thân dẹp và nhiều đốt
* Xương rồng có thân dẹp như lá cây
Thân dẹp như chiếc lá. Ví dụ Epiphyllum oxypetalum và Zygocactus
truncatus
* Nhóm xương rồng có thân 3 cạnh
Thân cây thường có 3 cạnh, ví dụ các loài Thanh long, tuy nhiên một số
loài Thanh long có thân 4 cạnh, thậm chí có loài có đến 5 cạnh
* Nhóm có thân tròn, mảnh
Như loài Wilcoxia viperina và loài Aporocatus flagelliformis
2.7.6. Phân loại dựa vào thời điểm nở hoa
Căn cứ vào thời điểm hoa nở, chúng ta chia xương rồng ra làm 2 nhóm:
xương rồng nở hoa vào ban ngày và xương rồng nở hoa vào ban đêm [11].
* Xương rồng nở hoa vào ban ngày
Hoa có thể nở vào buổi sáng như Ferocatus peninsulae hoặc buổi chiều
như Melocatus concinnus. Có rất nhiều loài xương rồng nở hoa vào ban ngày.
rồng (Cacteales) trong nhóm trung phôi (centrospermales) thuộc lớp song tử
19
diệp (lớp hai lá mầm). Bộ Cacteales chỉ có một họ duy nhất là Cactaceae.
* Đặc điểm họ Xương rồng:
Họ Xương rồng có đến trên 120 giống với độ 2500 loài, cho nên xương
rồng rất đa dạng và phong phú. Đặc điểm chính của họ Xương rồng:
Xương rồng là những thực vật ưa khô hạn, có thân đa dạng (dẹp, hình
cầu hay hình trụ v.v ). Cây rất mọng nước, rất ít khi có lá thật, lá chỉ thô sơ
và đa số biến thành gai. Tại nách lá có núm, núm có mầm nhánh, có lông, có
gai, và có lông len. Hoa lưỡng tính, khá lớn, trục hoa phát triển, hoa có đối
xứng qua trục hoặc đối xứng hai bên, bao hoa kép, cánh hoa rời nhau, ít khi
dính lại, ống hoa phát triển; cánh hoa có nhiều màu sắc và có nhiều dạng: hình
bầu dục, hình lưỡi mác, hình lồi, nhọn mũi v.v ; hoa có nhiều nhị đực và chỉ
nhị dài. Hạt phấn có 3 rãnh hoặc có từ 6-12 lỗ, hạt phấn có 3 nhân; màng
ngoài của hạt phấn có cấu tạo kết mạng. Nhụy dài hơn nhị, nuốm nhụy hình
sao, có nhiều gai thịt mọc sát nhau và thường có màu sặc sỡ. Bầu noãn của
xương rồng là bầu noãn hạ, rất ít khi bán hạ, thường có hình cầu hay bầu dục.
Phôi ngắn, thẳng hoặc cong, ít khi lộn ngược. Quả thịt hoặc quả khô, khi chín
mở ra hoặc không mở, có nhiều hạt. Số nhiễm sắc thể: 2n=22
* Phân loại xương rồng
Mỗi nhà thực vật có một cách phân loại xương rồng. Nhìn chung các
nhà thực vật chia xương rồng ra làm 4 loại [11]:
- Xương rồng có lá
- Xương rồng có lá tạm thời, lá rất mau rụng
- Xương rồng không có lá
- Xương rồng có thân tương tự như lá
20
Phần III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
A. NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI, GIẢI PHẪU THÍCH
dạng thích nghi thể hiện cây càng cua là loài thích nghi với điều kiện môi
trường thiếu nước (sống biểu sinh ở trên thân cây to). Khi trồng trong chậu
cũng thể hiện đặc tính đó. Chính vì vậy mà thân cây mọng nước.
Cây dạng bụi, thân phân nhánh nhiều, thích hợp ở nhiệt độ 25
0
C
Cây càng cua đòi hỏi thời gian chiếu sáng ngắn, sợ nóng của ánh sáng trực xạ.
Thân mọng nước, có màu xanh bóng vì càng cua không có lá và thân
đảm nhiệm chức năng quang hợp.
Rễ nhỏ và nhiều có tác dụng hút nước và khoáng cung cấp chất dinh dưỡng
cho cây.
1.3. Cấu tạo giải phẫu
a. Cấu tạo giải phẫu rễ
Rễ nhỏ, kích thước trung bình bán kính rễ là 1361,00
±
6,41 µm. Trên
lát cắt ngang ngoài cùng là biểu bì dày có từ 8-10 lớp tế bào có kích thước
151,00
±
3,67 µm chiếm 11,09% bán kính rễ gồm các tế bào hình chữ nhật xếp
sít nhau. Phía trong biểu bì là lớp mô mềm vỏ tương đối mỏng, kích thước
82,00
±
2,04 µm chiếm 6,02% bán kính rễ. Xen giữa mô mềm vỏ có các
22
khoảng trống gian bào. Hệ thống trụ dẫn khá phát triển có kích thước 1128,00
±
5,54 µm chiếm 82,88% bán kính rễ bao gồm libe ở ngoài và gỗ xếp phía
trong. Giữa gỗ và libe thì gỗ có kích thước lớn hơn. So với phần vỏ thì phần
trụ có kích thước lớn hơn rất nhiều.
vừa giúp tăng cường hút nước và muối khoáng cho cây. Rễ có biểu bì dày,
nhiều lớp, có chức năng bảo vệ.
b. Cấu tạo giải phẫu thân
Trên lát cắt ngang của thân, biểu bì chỉ gồm 1 lớp tế bào có thành dày
với kích thước trung bình 25,25
±
0,69
µ
m chiếm 1,92% bán kính thân. Biểu
bì có chức năng bảo vệ các cấu trúc bên trong.
Lớp mô mềm vỏ dày 705,00
±
5,00
µ
m chiếm tỉ lệ 53,68% bán kính
thân gồm nhiều lớp tế bào có kích thước lớn là nơi dự trữ nước trong thân.
Các tế bào ở mô mềm vỏ có hình tròn hoặc hình bầu dục.
Hệ thống dẫn bao gồm libe xếp phía ngoài, gỗ xếp phía trong có kích
thước trung bình 583,00
±
3,69 µm chiếm 44,39% bán kính thân. Phía ngoài
libe còn có mô cứng có tác dụng tăng tính cơ học của thân. Xen giữa các bó
mạch là mô mềm nối từ vỏ đến tủy. Số lượng bó mạch không nhiều, có
khoảng 7-9 bó. Số lượng mạch gỗ nhiều 11551,00
±
5,20 mạch/mm
2
, đường
kính lòng mạch nhỏ trung bình 12,93
±
583,00±3,69
44,39
12,93±1,77
Nhận xét:
Thân càng cua có biểu bì mỏng, màu xanh có khả năng quang hợp. Yếu
tố dẫn khá phát triển vừa đảm bảo chức năng cơ học vừa đảm bảo chức năng
dẫn truyền. Phần mô mềm vỏ trong thân chiếm tỉ lệ lớn có tác dụng dự trữ
nước và các chất dinh dưỡng.
1.4. Khả năng tái sinh
Xương rồng càng cua có thể tái sinh bằng hạt và tái sinh chồi. Tuy
25
nhiên tái sinh bằng hạt đòi hỏi thời gian dài còn tái sinh chồi thì cần thời gian
ngắn hơn.
Dựa vào khả năng tái sinh của xương rồng càng cua mà người ta có thể
nhân giống rộng rãi loài cây này để trồng làm cảnh. Ngoài ra xương rồng càng
cua còn có thể được trồng ghép lên loài xương rồng khác để tận dụng sức
mạnh từ cây chủ. Trong thực tế người ta thường ghép xương rồng càng cua
lên cây Thanh Long đã bỏ phần thân phía trên.