Giải pháp ngăn ngừa và hạn chế rủi ro tính dụng tại ngân hàng công thương Thanh Hoá. - Pdf 26

LỜI NÓI ĐẦU
Thị trường tài chính tín dụng Việt Nam hiện nay đang chứng kiến cuộc
đua tranh gay gắt giữa các ngân hàng thương mại (NHTM) quốc doanh,
NHTM cổ phần, ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại
Việt Nam. Mức độ cạnh tranh này sẽ ngày càng khốc liệt hơn trong thời gian
tới khi nhà nước thực hiện mở rộng hội nhập hợp tác quốc tế trong lĩnh vực
ngân hàng. Với những khó khăn thách thức và bài học kinh nghiệm đúc rút từ
17 năm xây dựng, trưởng thành và phát triển, ngân hàng công thương Việt
Nam (NHCT) đã xây dựng định hướng đến năm 2010 là “xây dựng NHCT là
một NHTM chủ lực và hiện đại của nhà nước, hoạt động kinh doanh có hiệu
quả, tài chính lành mạnh, có kỹ thuật cao, chiếm thị phần lớn ở Việt Nam”.
Trong hàng loạt biện pháp chỉ đạo thực hiện định hướng chiến lược trên
việc tập trung nâng cao chất lượng tín dụng, mở rộng quy mô tín dụng là một
trong những vấn đề quan trọng hàng đầu. Trên thực tế hoạt động kinh doanh
tín dụng hiện nay đang có nhiều vấn đề bức xúc, nổi cộm cần được xem xét
đánh giá đúng mức như : cho vay không thu hồi đựơc nợ, nợ khó đòi, nợ quá
hạn… vẫn đang tiếp tục xảy ra. Đây là vấn đề liên quan trực tiếp đến rủi ro tín
dụng của các ngân hàng thương mại, làm cho chất lượng tín dụng giảm, gây
ảnh hưởng xấu trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Tuy nhiên rủi ro
tín dụng là không thể tránh khỏi, người ta chẳng có cách gì để loại trừ hoàn
toàn rủi ro tín dụng mà chỉ sử dụng những phương pháp nhằm giảm thiểu rủi
ro tín dụng xuống mức có thể chấp nhận được.
Trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay, việc giảm thiểu rủi ro
tín dụng là hết sức cần thiết, nó giúp cho hoạt động tín dụng nói riêng và hoạt
động của ngân hàng nói chung đạt hiệu quả cao hơn. Điều này góp phần đẩy
nhanh tốc độ chu chuyển vốn cũng như quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Chính vì vậy em chọn đề tài: “Giải pháp ngăn ngừa và hạn chế rủi ro tính
dụng tại ngân hàng công thương Thanh Hoá” làm chuyên đề tốt nghiệp.
Đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh
doanh của ngân hàng thương mại

này làm thay đổi cơ bản hoạt động của nhà buôn tiền – kẻ cho vay nặng lãi –
thành nhà buôn tiền – ngân hàng. Hoạt động cho vay dựa trên tiền gửi của
khách, tạo nên lợi nhuận lớn nên các ngân hàng đều tìm cách mở rộng thu hút
tiền gửi để cho vay bằng cách trả lãi cho người gửi tiền. Bằng cách cung cấp
các tiện ích khác nhau mà ngân hàng huy động được ngày càng nhiều tiền gửi
là điều kiện để mở rộng cho vay và hạ lãi xuất cho vay.
Vậy ngân hàng là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các
dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ,
thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ
chức kinh doanh nào trong nền kinh tế.
Qua khái niện trên về ngân hàng ta thấy ngân hàng có ba chức năng chính:
- Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu là
chuyển tiết kiệm của các cá nhân và tổ chức thặng dư trong chi tiêu thành đầu
tư của các cá nhân và tổ chức tạm thời thậm hụt chi tiêu.
- Ngân hàng tạo ra phương tiện thanh toán: Khi ngân hàng cho vay số dư
trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tăng lên, khách hàng có thể
dùng để mua hàng hoá, dịch vụ. Do đó bằng việc cho vay, các ngân hàng đã
tạo ra phương tiện thanh toán. Toàn bộ hệ thống ngân hàng cũng tạo ra
phương tiện thanh toán khi các khoản tiền gửi được mở rộng từ ngân hàng
này đến ngân hàng khác trên cơ sở cho vay.
- Ngân hàng là trung gian thanh toán lớn nhất hiện nay ở hầu hết các Quốc
gia. Thay mặt khách hàng ngân hàng thực hiện thanh toán giá trị hàng hoá và dịch
vụ.
1.1.2. Các nghiệp vụ chủ yếu của ngân hàng thương mại.
Một là: Huy động tiền gửi của các tổ chức kinh tế và cá nhân.
Cho vay được coi là hoạt động sinh lời cao, do đó các ngân hàng dã tìm
mọi cách để huy động được tiền. Một trong những nguồn quan trọng là các
khoản tiền gửi thanh toán và tiết kiệm của khách hàng. Ngân hàng mở dịch vụ
nhận tiền gửi để bảo quản hộ người có tiền với cam kết hoàn trả đúng hạn.
Trong cuộc cạnh tranh để tìm và giành được các khoản tiền gửi, các ngân

chi phí) đã góp phần rút ngắn thời gian kinh doanh và nâng cao thu nhập cho
khách hàng. Khi ngân hàng mở chi nhánh, phạm vi thanh toán qua ngân hàng
được mở rộng, càng tạo nhiều tiện ích hơn. Điều này đã khuyến khích khách
hàng gửi tiền vào ngân hàng để nhờ ngân hàng thanh toán hộ. Cùng với sự
phát triển của công nghệ thông tin, bên cạnh các thể thức thanh toán như: séc,
uỷ nhiệm chi, nhờ thu, đã phát triển các hình thức thanh toán mới bằng điện,
thẻ.
Bốn là: Mua, bán ngoại tệ.
Một trong những dịch vụ ngân hàng đầu tiên được thực hiện là trao đổi
(mua, bán) ngoại tệ: Tức là mua bán một loại tiền này lấy một loại tiền khác
và hưởng phí dịch vụ.
Năm là: Bảo quản tài sản hộ và bảo lãnh.
Các ngân hàng thực hiện việc lưu giữ vàng, các giấy tờ có giá và các tài
sản khác cho khách hàng trong két. Ngân hàng thường giữ hộ những tài sản
tài chính, giấy tờ cầm cố hoặc ngững giấy tờ quan trọng khác của khách với
nguyên tắc an toàn, bí mật thuận tiện.
Do khả năng thanh toán của ngân hàng cho khách hàng rất lớn và do ngân
hàng nắm giữ tiền gửi của các khách hàng nên ngân hàng có uy tín trong bão
lãnh cho khách hàng.
Sáu là: Quản lý ngân quỹ.
Các ngân hàng mở tài khoản và giữ tiền của phần lớn các doanh nghiệp
và cá nhân. Nhờ đó, ngân hàng thường có mối liên hệ chặt chẽ với các khách
hàng. Do có kinh nghiệm trong quản lý ngân quỹ và khả năng trong việc thu
ngân, nhiều ngân hàng đã cung cấp cho khách dịch vụ quản lý ngân quỹ,
trong đó ngân hàng đồng ý quản lýviệc thu và chi cho một công ty kinh doanh
và tiến hành đầu tư phần thặng dư tiền mặt tạm thời vào các chứng khoán sinh
lời và tín dụng ngắn hạn cho đến khi khách hàng cần tiền mặt để thanh toán.
Bảy là: Cung cấp dịch vụ uỷ thác và tư vấn.
Do hoạt động trong lĩnh vực tài chính, các ngân hàng có rất nhiều
chuyên gia về quản lý tài chính. Vì vậy nhiều cá nhân và doanh nghiệp đã nhờ

- Sử dụng vốn tín dụng trong quá trình tái sản xuất. Người đi vay sau khi
nhận được giá trị vốn tín dụng họ được quyền sử dụng giá trị đó để thoả mãn
nhu cầu sản xuất hoặc tiêu dùng của mình. Tuy nhiên, người đi vay chỉ được
quyền sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định mà không được quyền
sở hữu về giá trị đó.
Đây là giai đoạn kết thúc một vòng tuần hoàn của tín dụng. Sau khi vốn
tín dụng đã hoàn thành một chu kỳ sản xuất để trở về hình thái tiền tệ thì vốn
tín dụng được người đi vay hoàn lại cho người cho vay.
Những hành vi tín dụng có thể được diễn ra trực tiếp giữa người thừa vốn
cần đầu tư và người cần vốn để sử dụng. Nhưng thực tế hai người này khó có
thể phù hợp được với nhau về quy mô, về thời gian hoặc cũng có thể phù hợp
được thì phải tốn kém chi phí tìm kiếm, nên để thoả mãn được nhu cầu của cả
hai người thì cần thiết phải có người thứ ba đứng ra tập trung được tất cả số
vốn của những người tạm thời thừa, cần đầu tư kiếm lãi. Trên cơ sở số vốn tập
trung được phân phối cho những người cần vốn để sử dụng dưới hình thức
cho vay. Người đó không ai khác chính là các tổ chức tín dụng, trong đó chủ
yếu là các NHTM – người môi giới tài chính trên thị trường tài chính. Việc
các NHTM tập trung vốn dưới hình thức huy động và phân phối vốn dưới
hình thức cho vay dược gọi là tín dụng ngân hàng.
Qua khái niệm về tín dụng ngân hàng trên ta thấy vai trò quan trọng của
tín dụng ngân hàng:
- Tín dụng là hoạt động quan trọng nhất của NHTM.
- Tín dụng đáp ứng nhu cầu về vốn cho nền kinh tế quốc dân. Hoạt động
tín dụng ngân hàng làm nhiệm vụ thông dòng để vốn chảy từ nơi thừa vốn
sang nơi thiếu vốn.
- Tín dụng đẩy nhanh quá trình tái sản xuất, góp phần đầu tư phát triển kinh tế.
- Tín dụng ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong tổ chức, điều hoà lưu
thông tiền tệ, thúc đẩy quá trình tập trung vốn và tập trung sản xuất.
- Tín dụng ngân hàng tạo điều kiện phát triển kinh tế ngoại thương.
1.2.2. Các hình thức tín dụng của ngân hàng.

hoá.
-Tín dụng tiêu dùng: là loại tín dụng cấp cho các cá nhân để đáp ứng
nhu cầu tiêu dùng như: Mua sắm nhà cửa, xe cộ, các loại hàng hoá bền chắc
như tủ lạnh điều hoà.
d. Căn cứ vào mức độ đảm bảo
-Tín dụng có đảm bảo: là hình thức cấp tín dụng có tài sản hoặc người
bảo lãnh đứng ra làm đảm bảo cho khoản nợ vay.
-Tín dụng không có đảm bảo: là hình thức tín dụng không có tài sản
hoặc người bảo lãnh đảm bảo cho khoản nợ vay.
e. Xuất xứ của tín dụng.
- Tín dụng gián tiếp: là hình thức cấp tín dụng thông qua một trung gian
tài chính như NHTM hoặc tổ chức tín dụng khác.
- Tín dụng trực tiếp: là hình thức cấp tín dụng giữa người có tiền (hoặc
hàng hoá) với người sử dụng tiền (hoặc hàng hoá) đó, không cần phải thông
qua một trung gian tài chính nào cả.
1.2.3. Đặc trưng của tín dụng ngân hàng.
Hoạt động tín dụng là hoạt động cơ bản của ngân hàng nó mang những
đặc trưng sau đây:
-Tín dụng là sự cung cấp một lượng giá trị dựa trên cơ sở lòng tin. ở đây
người cho vay tin tưởng người đi vay sử dụng vốn vay có hiệu quả sau một
thời gian nhất định và do đó có khả năng trả được nợ.
- Tín dụng là sự chuyển nhượng một lượng giá trị có thời hạn. Để đảm
bảo thu hồi nợ đúng hạn người cho vay thường xác định rõ thời hạn cho vay.
Việc xác định thời hạn đó dựa vào: Qúa trình luân chuyển vốn của đối tượng
vay. Có nghĩa là thời hạn cho vay phải phù hợp với chu kỳ luân chuyển vốn
của đối tượng vay thì lúc đó người vay mới có điều kiện để trả nợ. Ngoài ra
thời hạn cho vay còn phụ thuộc vào tính chất vốn của người cho vay (nếu vốn
của người cho vay ổn định thì thời hạn cho vay có thể dài hơn và ngược lại thì
thời hạn cho vay phải ngắn hơn) để đảm bảo khả năng thanh toán của ngân
hàng.

Tuy nhiên vẫn phải khẳng định rằng kinh doanh ngân hàng là lĩmh vực
gặp nhiều rủi ro nhất. Những rủi ro mà một ngân hàng hiện đại phải đối
mặt bao gồm:
• Rủi ro lãi xuất.
Qúa trình chuyển hoá tài sản bao gồm việc mua các chứng từ sơ cấp,
tức là sử dụng vốn, và phát hành các chứng khoán sơ cấp, tức là huy
động vốn. Kỳ hạn và độ thanh khoản của các chứng khoán sơ cấp trong
danh mục đầu tư thuộc tài sản có thường không cân xứng với các chứng
khoán thứ cấp thuộc tài sản nợ. Sự không cân xứng về kỳ hạn giữa tài
sản có và tài sản nợ làm cho ngân hàng phải chịu rủi ro về lãi xuất.
Ngoài ra, khi lãi xuất thị trường thay đổi ngân hàng còn có thể gặp
phải rủi ro giảm giá trị tài sản. Như chúng ta đã biết, giá trị thị trường
của tài sản có hay tài sản nợ là dựa trên giá trị hiện tại của tiền tệ. Do đó,
nếu lãi xuất thị trường thay đổi thì mức chiết khấu giá trị tài sản cũng
thay đổi và do đó giá trị hiện tại của tài sản có và tài sản nợ cũng thay
đổi, vì thế ngân hàng phải đối mặt với rủi ro giảm giá trị tài sản do lãi
xuất thay đổi.
• Rủi ro ngoại hối.
Hiện nay các NHTM có xu hướng hoạt động đa năng, thực hiện cả
nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ do đó khi có sự biến động về tỷ giá hối
đoái hoặc sự thay đổi lãi xuất ngoại tệ thì thường phải chịu ảnh hưởng ở
mức độ nào đó (nếu sự biến động đó nằm ngoài dự kiến của ngân hàng)
nhất là với các NHTM Việt Nam, hiện nay mới đang trong thời kỳ sơ
khai, còn nhiều bỡ ngỡ, kinh nghiệm còn hạn chế do đó vấn đề rủi ro hối
đoái đang được các NHTM quan tâm một cách thích đáng.
• Rủi ro tín dụng.
Là tình trạng người đi vay không hoàn trả lãi hoặc gốc hoặc cả lãi
và gốc một cách đầy đủ, đúng hạn. Đây là loại rủi ro lớn nhất và thường
xuyên xảy ra. Bởi vậy việc đánh giá rủi ro này là trách nhiệm của chính
các ngân hàng, hơn 2/3 số tài sản có của ngân hàng là các món nợ cho vay

trên thị trường giảm. Hậu quả là, ngân hàng phải bán bớt một số tài sản
có độ thanh khoản thấp để đáp ứng nhu cầu rút tiền của người gửi. Điều
này làm ngân hàng gặp phải rủi ro thanh khoản nghiêm trọng.
• Rủi ro hoạt động ngoại bảng.
Một xu hướng đang phát triển mạnh mẽ trong hoạt động của các
ngân hàng hiện đại là việc mở rộng các hoạt động ngoại bảng. Theo định
nghĩa, hoạt động ngoại bảng là các hoạt động không thuộc bản cân đối tài
sản, bởi vì các hoạt động này không liên quan đến việc nắm giữ các
chứng khoán hay giấy nhận nợ thứ cấp. Xuất phát từ tính chất của các
hoạt động ngoại bảng là ngân hàng thu được phí trong khi không phải sử
dụng đến vốn kinh doanh cho nên đã khuyến khích phát triển các hoạt
động ngoại bảng ngày càng phát triển. Tuy nhiên các hoạt động này cũng
tiềm ẩn nhiều rủi ro. Chẳng hạn, trong trường hợp công ty phát hành
trái phiếu phá sản thì ngân hàng phải đứng ra thanh toán toàn bộ gốc và
lãi chứng khoán do công ty phát hành.
• Rủi ro công nghệ.
Rủi ro công nghệ phát sinh khi những khoản đầu tư cho phát triển
công nghệ không tạo ra được khoản tiết kiệm trong chi phí như đã dự
tính khi mở rộng quy mô hoạt động. Tính không hiệu quả khi đầu tư
công nghệ cuả ngân hàng phát sinh trong trường hợp: Ví dụ: dung lượng
đầu tư quá lớn dẫn đến công nghệ không sử dụng đến và hậu quả là tổ
chức bộ máy trở nên quan liêu kém hiệu quả; hoặc là quy mô hoạt động
không được mở rộng mặc dù đã đầu tư công nghệ mới. Rủi ro về công
nghệ có thể gây nên hậu quả là khả năng cạnh tranh của ngân hàng giảm
xuống đáng kể và nguyên nhân tiềm ẩn của sự phá sản ngân hàng trong
tương lai.
• Rủi ro Quốc Gia và rủi ro khác.
Ngoài sáu rủi ro cơ bản nêu trên, ngân hàng hiện đại còn phải
đối mặt với một số rủi ro khác như:
Rủi ro Quốc Gia: Ngân hàng đầu tư cho các công ty nước ngoài

kinh doanh, tức là tiền tệ, và ở đây tiền tệ cũng bị tách rời giữa quyền sở
hữu và quyền sử dụng khi cho vay. Quan hệ tín dụng là quan hệ kinh tế
bình đẳng giữa người cho vay và người đi vay, là sự cam kết thoả thuận
bằng các điều khoản thi hành, được thể hiện trong các hợp đồng tín
dụng. Thế nhưng, trên thực tế mặc dù các khoản tín dụng giữa ngân
hàng và người vay đều được xác lập theo các điều khoản của hợp đồng
tín dụng nhưng tình trạng vi phạm cam kết đó xảy ra khá phổ biến kể cả
trong trường hợp người vay có năng lực tài chính để thực hiện các điều
khoản cam kết đó. Điều đó có nghĩa là một khi còn có hoạt động ngân
hàng thì còn có rủi ro trong hoạt động tín dụng.

b. Nợ có vấn đề.
Nợ có vấn đề là các khoản tín dụng cấp cho khách hàng không thu hồi
được hoặc có dấu hiệu không thu hồi được theo đúng cam kết trong hợp đồng
tín dụng. Nợ có vấn đề bao gồm những khoản vay trong hạn, nợ gia hạn
nhưng có dấu hiệu không an toàn có thể dẫn tới rủi ro, nợ thanh toán không
đúng kỳ hạn, đã quá hạn thanh toán (nợ quá hạn thông thường, nợ khó đòi, nợ
chờ xử lý, nợ khoanh, nợ tồn đọng)
Việc phân loại khoản vay là một phương pháp quan trọng phải thực
hiện để quản lý nợ có vấn đề. NHCT VN duy trì hệ thống xếp hạng các khoản
vay như sau:
Hạng I (nợ bình thường): Là toàn bộ nợ của những khách hàng có
nợ tại tất cả các tổ chức tín dụng (TCTD) còn trong hạn và không có nợ quá
hạn, khó đòi, tồn đọng, chờ xử lý, nợ khoanh, và tình hình hoạt động kinh
doanh của khách hàng tốt.
Hạng II (nợ cần chú ý): Nếu khách hàng tại tất cả các tổ chức tín
dụng có những tiêu thức sau thì toàn bộ nợ của khách hàng phân vào loại nợ

- Dấu hiệu từ báo cáo tài chính.
+ Ngân hàng không nhận được các báo cáo tài chính từ khách hàng kịp
thời.
+ Giá trị tuyệt đối và tương đối của các khoản phải thu tăng đột biến.
+ Hệ số tài sản ngắn hạn tính trên tổng tài sản giảm sút.
+ Gia tăng sự mất cân đối của các khoản nợ ngắn hạn, các khoản nợ
trung, dài hạn tăng đáng kể.
+ Hàng tồn kho tăng lên đột biến, doanh số bán hàng giảm.
+ Xuất hiện lỗ từ hoạt động kinh doanh.
+ Lưu chuyển tiền ròng từ hoạt động kinh doanh âm…
-Dấu hiệu từ giao dịch ngân hàng.
+ Số dư tài khoản tiền gửi tại ngân hàng giảm.
+ Thời hạn của đơn vị vay vốn theo mùa vụ thay đổi đáng kể.
+ Đề nghị vay vốn của khách hàng thể hiện nhiều nguồn trả nợ khác
nhau nhưng trên thực tế khó có thể nhận thấy được.
+ Xuất hiện những chủ nợ khác, đặc biệt những chủ nợ nhận tài sản bảo
đảm.
+ Thanh toán không kịp thời các khoản nợ đến hạn.
 Các dấu hiệu liên quan đến công tác quản lý tín dụng.
-Quy trình cho vay không tuân thủ đúng quy định của ngân hàng.
-Cán bộ tín dụng có quan hệ đặc biệt với khách hàng.
-Các cấp quản lý trong ngân hàng thiếu sát sao trong giám sát khoản
vay.
-Không thể kiểm tra tài khoản kinh doanh của người vay.
-Cho vay dựa trên giá trị sổ sách của doanh nghiệp không kiểm toán và
xác minh báo cáo tài chính của người vay.
-Giải ngân trước khi hoàn thiện hồ sơ.
-Cho vay thêm nhưng không có thêm TSBĐ thích đáng.
-Vốn vay không được sử dụng đúng mục đích.
-Không phân tích chính xác khả năng trả nợ của người vay…

-Tỷ số giữa dự phòng tổn thất tín dụng so với tổng cho vay và cho thuê
hay với tổng vốn chủ sở hữu.
Trong đó các khoản nợ quá hạn là những khoản cho vay quá hạn thanh
toán từ 90 ngày trở lên. Các khoản cho vay được xoá nợ: Là những khoản cho
vay được ngân hàng tuyên bố là khồng còn giá trị và được xoá khỏi sổ sách.
Nếu một trong số những khoản cho vay này cuối cùng cũng tạo ra thu nhập
cho ngân hàng thì tổng số thu sẽ được khấu trừ khỏi tổng số các khoản xoá nợ
tạo thành các khoản xoá nợ ròng.
Khi hai chỉ tiêu đầu tăng, rủi ro tín dụng của ngân hàng cũng sẽ tăng,
ngân hàng có thể đứng bên bờ vực phá sản. Hai chỉ tiêu rủi ro tín dụng cuối
nói lên sự chuẩn bị của một ngân hàng cho các khoản tổn thất tín dụng thông
qua việc trích lập quỹ dự phòng tổn thất tín dụng hàng năm từ thu nhập hiện
tại.
2.2.3.Các nguyên nhân chủ yếu gây ra rủi ro tín dụng.
Trong công tác của các cán bộ tín dụng và các ngân hàng, tìm hiểu
nguyên nhân của rủi ro được coi là bước đầu tiên trong quá trình tìm cách
phòng ngừa, hạn chế rủi ro tín dụng bởi vì chúng ta không thể đưa ra các giải
pháp hữu hiệu nếu như chúng ta không biết rủi ro đó từ đâu mà có. Thông
thường, để thuận tiện cho việc làm cơ sở đưa ra các giải pháp và kiến nghị sau
này những người làm nghiên cứu thường phân các nguyên nhân rủi ro tín
dụng thành ba nhóm: nhóm các nguyên nhân từ bản thân ngân hàng, nhóm
các nguyên nhân từ phía khách hàng và nhóm các nguyên nhân khác.
2.2.3.1. Nguyên nhân từ bản thân ngân hàng.
Những nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng trong trường hợp này có thể
do:
-Trình độ cán bộ xét duyệt cho vay yếu kém, thiếu các thông tin cần
thiết để thẩm định cho vay, không phát hiện được gian lận, lừa đảo hoặc vô
tình làm không đúng quy trình, quy định xử lý nghiệp vụ, dẫn đến tổn thất.
-Do cán bộ ngân hàng thiếu trách nhiệm và vi phạm đạo đức nghề
nghiệp, cố tình làm không đúng, làm sai qui định để trục lợi cá nhân hoặc vì

- Người vay cố tình chây lỳ, chậm trả để chiếm dụng quay vòng vốn.
- Người vay cố tình lừa đảo, chiếm đoạt vốn, bỏ trốn hy vọng sẽ quỵt được
nợ.
- Khách hàng bị bạn hàng lừa đảo thông qua hoạt động kinh tế hay bạn
hàng khó khăn tạo nên phản ứng dây chuyền.
- Do các chính sách của nhà nước thay đổi như tăng thuế ở một số mặt
hàng, sử dụng công cụ chính sách kinh tế vĩ mô trong khi các doanh nghiệp
đang trong thời kỳ sản xuất, buộc các doanh nghiệp phải tính toán lại giá cả,
chi phí đầu vào… gây thiệt hại cho doanh nghiệp và gián tiếp ảnh hưởng đến
ngân hàng vì doanh nghiệp chậm trả vốn cho ngân hàng.
- Khách hàng thích ứng chậm với thị trường, điều hành sản xuất kinh
doanh còn thiếu linh hoạt nên doanh nghiệp bị tụt hậu trong cạnh tranh, sản
phẩm sản xuất ra không bán được hoặc bán với giá thấp, do đó doanh nghiệp
không thu hồi được vốn dẫn đến tình trạng không có khả năng trả nợ đúng và
đủ cho ngân hàng.
2.2.3.3. Nguyên nhân khác.
Ngoài các nguyên nhân từ bản thân của ngân hàng, các nguyên nhân từ
phía khách hàng thì rủi ro tín dụng cũng có thể xảy ra do các nguyên nhân:
Thiên tai, bệnh dịch, chiến tranh sự suy thoái kinh tế của từng ngành hoặc cả
nước, sự thay đổi chính sách cuả nhà nước với ngân hàng và với người vay,
sự thay đổi của các văn bản pháp luật, sự mất ổn định về chính trị xã hội…
vượt quá sự kiểm soát của cả ngân hàng lẫn khách hàng.
Những thay đổi này thường xuyên xảy ra tác động liên tục tới ngân
hàng và khách hàng tạo ra những thuận lợi và khó khăn. Nhiều người vay có
thể dự báo, thích ứng hoặc khắc phục những khó khăn. Tuy nhiên khi tác
động của những nguyên nhân bất khả kháng đối với người vay là nặng nề thì
khả năng trả nợ của họ sẽ trở nên khó khăn
2.2.4. Tác hại của rủi ro tín dụng.
Rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại tuỳ theo mức độ có thể ảnh
hưởng ít hay nhiều tới bản thân ngân hàng và khách hàng, thậm chí tới toàn

nhất của NHTM – hoạt động tín dụng. Chúng ta không có cách gì để loại trừ
hoàn toàn rủi ro tín dụng mà phải quản lý để hạn chế những rủi ro đó. Do đó,
quản lý rủi ro tín dụng được coi là một nội dung quản lý quan trọng của
NHTM.
Các nguyên tắc quản lý rủi ro tín dụng:
-Quyết định cho vay trên cơ sở phải xác định và hiểu rõ khách hàng.
-Hiệu quả và chất lượng tín dụng trên cơ sở hiệu quả của sản xuất kinh
doanh của người vay vốn.
-Mở rộng khối lượng tín dụng trên cơ sở nâng cao chất lượng tín dụng.
-Chủ động phân tán rủi ro để ngăn ngừa và hạn chế rủi ro.
-Cho vay phải có đảm bảo tiền vay với tính khả thi cao.
- Cho vay phải do chính ngân hàng quyết định và chịu trách nhiệm về
quyết định đó.
-Phải quản lý nợ quá hạn, nợ khó đòi, các khoản nợ có vấn đề.
Từ các nguyên tắc quản lý rủi ro tín dụng ở trên các NHTM đã đưa nội
dung quản lý rủi ro tín dụng:
+ Thực hiện đúng các nguyên tắc tín dụng: Đây là yêu cầu đầu tiên và
quan trọng nhất của mỗi cán bộ tín dụng. Để thực hiện được giải pháp này thì
nhiệm vụ đầu tiên đặt ra cho các ngân hàng là phải xây dựng được một quy
trình tín dụng hợp lý đảm bảo độ an toàn cao và phải thực thi được tại ngân
hàng đó.
+ Đa dạng hoá các danh mục cho vay: Với mỗi khoản vay, việc cho vay
đối với các doanh nghiệp nhỏ chứa đựng nhiều rủi ro hơn so với các doanh
nghiệp lớn song việc tập trung cho vay một khách hàng lại dễ gây tổn thất
nghiêm trọng khi có các yếu tố bất thường xảy ra.
+ Nâng cao trình độ quản lý và chuyên môn của cán bộ ngân hàng: Đây
là một giải pháp quan trọng bởi nó có thể giải quyết tận gốc nhiều vấn đề.
Khả năng nắm vững công việc cũng như khả năng quản lý nhân viên của
người lãnh đạo sẽ hạn chế rủi ro tín dụng xảy ra.
+ Tạo lập mối quan hệ tốt với khách hàng và tăng cường hệ thống


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status