Chuyên đề tốt nghiệp
Lời mở đầu
Sau 20 năm đổi mới, nền kinh tế nước ta đã có những bước chuyển mình vĩ
đại. Những thành tựu mà nền kinh tế đạt được đã làm thay đổi hoàn toàn bộ mặt
đất nước ta. Những thành tựu ấy đã đưa đời sống nhân dân ta đi lên rõ rệt. Làm
thay đổi hoàn toàn nhu cầu cũng như mong muốn của con người. Nếu như nhu
cầu mong muốn của người dân Việt Nam trước đây là “ăn no, mặc ấm” thì nhu
cầu đó hiện nay là “ăn ngon, mặc đẹp”. Theo đó nhu cầu về các cơ sở vật chất,
tiện nghi tiêu dùng ngày càng tăng lên rõ rệt. Các nhu cầu về các sản phẩm giá
trị như nhà đẹp, xe hơi … đã trở thành nhu cầu của không ít bộ phận dân cư.
Những người có thu nhập trung bình thì có những nhu cầu về các sản phẩm ít
cao sang hơn, những người có thu nhập trên trung bình thì lại có những nhu cầu
về các sản phẩm chất lượng tốt hơn, đắt đỏ hơn. Và nhu cầu của con người là vô
tận không bao giờ hết. Tuy nhiên, không phải ai cũng có đủ khả năng tài chính
trong hiện tại để thoả mãn các nhu cầu của mình ngay lập tức, hoặc có đủ nhưng
các khoản đó đang được đầu tư ở một lĩnh vực nào đó hoặc được gửi tiết kiệm
chưa đến hạn… Và khách hàng của chúng ta không thể thoã mãn các nhu cầu
như mong muốn. Nắm bắt được điều này, các ngân hàng thương mại đã thực
hiện cho vay tiêu dùng trong một số năm gần đây.
Thị trường cho vay tiêu dùng hiện nay đã trở thành một thị trường hấp dẫn
đối với các ngân hàng thương mại. Từ năm 2001 đến nay, thị trường này đã đem
đến cho các ngân hàng thương mại Việt Nam không ít lợi nhuận. Tuy nhiên, đây
vẫn là một hình thức cho vay khá mới mẻ và còn nhiều bất cập. Nắm bắt được
điều này, cùng với sự hướng dẫn của Thạc sỹ Cao Thị Ý Nhi cùng các cô chú
trong phòng kinh doanh, tín dụng Ngân hàng No & PTNT thị xã Hà Tĩnh. Em đã
chọn đề tài “Giải pháp nhằm mở rộng cho vay tiêu dùng tại chi nhánh Ngân
hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thị xã Hà Tĩnh” làm chuyên đề
thực tập.
1
Chuyên đề này gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về cho vay tiêu dùng của các ngân hàng thương
Ngân hàng thương mại (NHTM) được hiểu tổng quát nhất là một trung gian
tài chính hoạt động trên lĩnh vực đặc biệt đó là kinh doanh tiền tệ và các dịch vụ
Ngân hàng.
Ngày nay, với cơ chế Ngân hàng hai cấp thì Ngân hàng thương mại không
còn chức năng phát hành tiền như trước đây mà Ngân hàng thương mại chỉ còn
chức năng kinh doanh tiền tệ kiếm lãi và các dịch vụ khác liên quan đến kinh
doanh tiền tệ.
1.1.1.2. Vai trò của Ngân hàng thương mại.
Với chức năng dẫn truyền vốn từ nơi thặng dư vốn đến nơi thâm hụt vốn hay
dẫn truyền vốn từ nơi “thừa” đến nơi “thiếu” vốn. Vai trò của Ngân hàng thương
mại thể hiện ở các khía cạnh sau:
Thứ nhất: Ngân hàng là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế.
Vốn được tạo ra do tiết kiệm, tích luỹ của mỗi cá nhân, doanh nghiệp và Nhà
nước trong nền kinh tế. Vì thế, muốn có vốn phải tăng thu nhập quốc dân, để
làm được như vậy phải mở rộng sản xuất kinh doanh, đẩy mạnh sự phát triển
của các ngành trong nền kinh tế và ngược lại muốn mở rộng sản xuất kinh
doanh, đẩy mạnh sự phát triển các ngành trong nền kinh tế thì phải có vốn. Mặt
khác, khi nền kinh tế càng phát triển thì càng tạo ra nhiều vốn và tạo điều kiện
thuận lợi cho hoạt động của hệ thống Ngân hàng. Ngân hàng đứng ra huy động
vốn nhàn rỗi từ mọi thành phần kinh tế sau đó thông qua hoạt động tín dụng sẽ
cung cấp vốn cho các hoạt động kinh tế, sản xuất kinh doanh, đáp ứng kịp thời
nhu cầu của các thành phần kinh tế.
3
Thứ hai: Ngân hàng thương mại là công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền
kinh tế.
Nhà nước sẽ điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua các chính sách tiền tệ và
nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng trung ương đối với các Ngân hàng
thương mại. Các Ngân hàng thương mại là trung tâm và phương tiện để thực
hiện các chính sách tiền tệ thông qua nghiệp vụ tín dụng và thanh toán. Thông
qua các nghiệp vụ này, các Ngân hàng thương mại sẽ mở rộng khối lượng cung
tiêu, tức là chi tiêu cho tiêu dùng và đầu tư vượt qua thu nhập và vì thế họ là
những người cần bổ sung vốn; và nhóm thứ hai các cá nhân và tổ chức thặng dư
trong chi tiêu, tức là thu nhập hiện tại của họ lớn hơn các khoản chi tiêu cho
hàng hoá, dịch vụ và do vậy họ có một khoản tiền dư thừa tạm thời để tiết kiệm.
Trên thực tế hai loại cá nhân và tổ chức này hoàn toàn độc lập với Ngân hàng.
Điều tất yếu là tiền sẽ chuyển từ nhóm thứ hai sang nhóm thứ nhất nếu cả hai
cùng có lợi. Như vậy thu nhập gia tăng là động lực tạo ra mối quan hệ tài chính
giữa hai nhóm. Nhưng để hai nhóm này gặp nhau con đường ngắn nhất là có
một trung gian đứng giữa để đảm bảo điều kiện của các bên đặt ra. Và Ngân
hàng đã đứng ra làm trung gian đó và tất nhiên Ngân hàng sẽ được hưởng một
khoản lợi nhuận. Ngân hàng nhận tiền gửi từ nhóm thứ nhất với một khoản phí
nhất định và cho nhóm thứ hai vay với một khoản lãi lớn hơn để đảm bảo Ngân
hàng có lãi.
1.1.2.2. Tạo phương tiện thanh toán.
Trong nền kinh tế, tiền vàng là phương tiện thanh toán cơ bản được chấp
nhận rộng rãi nhất. Và các Ngân hàng đã không tạo được tiền vàng mà tạo các
phương tiện thanh toán khi phát hành giấy nhận nợ với khách hàng dựa vào số
tiền kim loại mà Ngân hàng hiện nắm giữ. Giấy nhận nợ do Ngân hàng phát
hành với ưu điểm nhất định đã trở thành phương tiện thanh toán rộng rãi được
nhiều người chấp nhận. Như vậy, ban đầu các Ngân hàng đã tạo ra phương tiện
thanh toán thay cho tiền kim loại dựa trên số lượng tiền kim loại đang nắm giữ.
Với nhiều ưu thế, dần dần giấy nợ của Ngân hàng đã thay thế tiền kim loại làm
phương tiện lưu thông và phương tiện cất trữ; nó trở thành tiền giấy.
Ngày nay việc in tiền đã không còn được tự do như trước. Nhà nước đã tập
trung quyền lực phát hành tiền giấy vào một tổ chức: hoặc là Bộ Tài chính hoặc
5
là Ngân hàng Trung ương. Và trong điều kiện phát triển thanh toán qua Ngân
hàng, các khách hàng nhận thấy nếu họ có được số dư trên tài khoản tiền gửi
thanh toán, họ có thể chi trả để có được hàng hoá và các dịch vụ theo yêu cầu.
Khi Ngân hàng cho vay, số dư triên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách
1.1.3.1 Nhận tiền gửi.
Để có tiền để cho vay, ngoài vốn tự có Ngân hàng thương mại phải huy động
vốn từ các nguồn khác nhau như là tiền nhàn rỗi của dân cư, tiền chưa sử dụng
của các doanh nghiệp và của Nhà nước dưới dạng tiền gửi thanh toán, tiền gửi
tiết kiệm. Trong quá trình nhân tiền gửi, các Ngân hàng thương mại phải trả cho
khác hàng mọi khoản lãi, đây được coi là phần thưởng cho khách hàng khi đã hi
sinh nhu cầu tiêu dùng trước mắt và cho phép Ngân hàng sử dụng tạm thời để
kinh doanh và khoản tiền đó được gọi là lãi tiền gửi và đây cũng chính là một
trong những công cụ để các Ngân hàng cạnh tranh trong quá trình huy động tiền
gửi.
1.1.3.2. Mua bán ngoại tệ.
Mua bán ngoại tệ là một trong những dịch vụ quan trọng của các Ngân hàng
do tính chất không khép kính của nền kinh tế một quốc gia. Mua bán ngoại tệ
nghĩa là mua bán loại tiền này lấy một loại tiền khác để hưởng phí dịch vụ. Đây
là dịch vụ rất quan trọng giúp các doanh nghiệp có thể tiến hành các hoạt động
buôn bán của mình với nước ngoài cũng như đáp ứng nhu cầu dùng ngoại tệ của
người dân. Ngày nay hoạt động này đã mở rộng ra với rất nhiều các hình thức
dịch vụ phong phú: mua bán, trao đổi, gửi vay các loại ngoại tệ với các nghiệp
vụ như giao ngay, kỳ hạn, hoán đổi, quyền chọn và tương lai. Các Ngân hàng
thương mại tham gia giao dịch ngoại hối với hai mục đích. Thứ nhất, Ngân hàng
cung cấp dịch vụ cho khách hàng, chủ yếu là mua hộ và bán hộ cho nhóm khách
hàng riêng lẻ, và Ngân hàng thu một khoản phí. Mục đích thứ hai là Ngân hàng
kinh doanh ngoại hối nhằm kiếm lời khi tỷ giá thay đổi.
1.1.3.3 Cho vay.
Đây là hoạt động chủ yếu mang lại lợi nhuận chủ yếu nhất cho các Ngân
hàng thương mại cũng như chứa đựng nhiều rủi ro nhất đối với các Ngân hàng
thương mại. Có thể phân chia cho vay thành các loại chính sau.
Cho vay thương mại: Đây là các khoản tín dụng phục vụ cho hoạt động mua
bán trao đổi hàng hoá của các doanh nghiệp thông qua các nghiệp vụ như cho
7
8
Chuyên đề tốt nghiệp
1.1.3.7.Quản lý ngân quỹ.
Các NHTM được biết đến là những nhà thủ quỹ và quản lý ngân quỹ chuyên
nghiệp, với kinh nghiệm quản lý ngân quỹ và khả năng trong việc thu và chi tài
chính, nhiều Ngân hàng đã cung cấp cho khách hàng dịch vụ quản lý ngân quỹ
trong đó Ngân hàng đồng ý quản lý việc thu và chi cho một Công ty kinh doanh
và tiến hành đầu tư phần thặng dư tiền mặt tạm thời vào các chứng khoán sinh
lời và tín dụng ngắn hạn cho đến khi khách hàng cần tiền mặt để thanh toán.
1.1.3.8. Tài trợ các hoạt động của chính phủ.
Ở hầu hết các quốc gia, các Chính phủ thường ở tình trạng thu không đủ chi,
vì vậy, Chính phủ các nước đều muốn tiếp cận với các khoản cho vay của Ngân
hàng. Ngày nay, chính phủ giành quyền cấp giấy phép hoạt động và kiểm soát
các Ngân hàng. Các Ngân hàng được cấp giấy phép thành lập với điều kiện là họ
phải cam kiết thực hiện với mức độ nào đó các chính sách của Chính phủ và tài
trợ cho Chính phủ. Các Ngân hàng thương mại thường mua trái phiếu Chính phủ
theo một tỷ lệ nhất định trên tổng lượng tiền gửi mà Ngân hàng huy động được.
1.1.3.9. Cho thuê thiết bị trung và dài hạn (leasing).
Các NHTM cho khách hàng thuê các tài sản, thiết bị, máy móc đắt tiền,
khách hàng không có nhu cầu dùng lâu dài hoặc không đủ tài chính để mua. Rất
nhiều Ngân hàng tích cực cho khách hàng quyền lựa chọn thuê các thiết bị máy
móc cần thiết thông qua hợp đồng thuê mua, trong đó Ngân hàng mua thiết bị và
cho khách hàng thuê với một số điều kiện nhất định. Dịch vụ này của Ngân hàng
cũng có nhiều điểm giống với cho vay và được xếp vào tín dụng trung và dài
hạn.
1.1.3.10. Các dịch vụ Ngân hàng khác
Ngoài các loại hình dịch vụ trên, Ngân hàng còn có các loại hình dịch vụ
khác như cung cấp các dịch vụ uỷ thác và tư vấn, cung cấp các dịch vụ môi giới
đầu tư chứng khoán, cung cấp các dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ đại lý…
Cung cấp các dịch vụ uỷ thác và tư vấn tức các Ngân hàng sẽ quản lý hộ tài
khách hàng của mình. Tín dụng là quan hệ vay mượn, gồm cả cho vay và đi vay.
Tín dụng là hoạt động kinh doanh của Ngân hàng dựa trên nguyên tắc bảo toàn
và sinh lời…
10
10
Chuyên đề tốt nghiệp
Tóm lại, Tín dụng là hoạt động tài trợ của Ngân hàng cho khách hàng nhằm
thoã mãn nhu cầu về vốn của khách hàng dựa trên nguyên tắc khách hàng phải
trả cả gốc và lãi đúng như thời hạn cam kết.. Trong quan hệ tín dụng, khách
hàng phải đảm bảo thanh toán cho Ngân hàng cả gốc và lãi đúng thời hạn cam
kết. Ngân hàng phải hoạt động trên nguyên tắc bảo toàn vốn và sinh lời.
1.2.2. Các hình thức của tín dụng
1.2.2.1 Chiết khấu thương phiếu.
Thương phiếu được hình thành chủ yếu từ quá trình mua bán chịu hàng hoá
và dịch vụ giữa khách hàng với nhau. Người bán (hoặc người hưởng thụ) có thể
giữ thương phiếu đến hạn để đòi tiền người mua (hoặc người phải trả) hoặc
mang đến Ngân hàng để xin chiết khấu trước hạn.
Sơ đồ 1.1. Chiết khấu thương phiếu:
(1) Người bán chuyển hàng hoá hoặc dịch vụ cho người mua;
(2) Thương phiếu được lập, người mua ký, cam kết trả tiền cho người bán
(người thụ hưởng) khi thương phiếu đến hạn và giao thương phiếu cho người
bán hoặc người hưởng thụ;
(3)Trong thời hạn có hiệu lực của thương phiếu, người bán có thể mang
thương phiếu đến Ngân hàng để xin chiết khấu;
(4) Sau khi kiểm tra độ an toàn của thương phiếu, Ngân hàng có thể phát tiền
cho người bán và nắm giữ thương phiếu (Ngân hàng có thể yêu cầu người bán
ký hậu vào thương phiếu, cam kết trả tiền cho Ngân hàng nếu người mua không
trả - quyền truy đòi đối với thương phiếu);
(5) Đến hạn, Ngân hàng chuyển thương phiếu đến người mua đòi tiền (nếu
người mua không trả, Ngân hàng có quyền đòi tiền của các bên ký tên trên
khách hàng.
Trong kỳ khách hàng có thể thực hiện vay trả nhiều lần, song dư nợ không
được quá hạn mức tín dụng. Một số trường hợp Ngân hàng quy định hạn mức
cuối kỳ. Dư nợ trong kỳ có thể lớn hơn hạn mức. Mỗi lần vay khách hàng chỉ
cần trình bày phương án sử dụng tiền vay, nộp các chứng từ chứng minh đã mua
12
12
Chuyên đề tốt nghiệp
hàng hoặc dịch vụ và nêu yêu cầu vay. Sau khi kiểm tra tính chất hợp pháp và
hợp lệ của chứng từ, Ngân hàng sẽ phát tiền cho khách hàng.
Cho vay luân chuyển: Là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển của hàng
hoá. Doanh nghiệp khi mua hàng có thể thiếu vốn. Ngân hàng có thể cho vay để
mua hàng và sẽ thu nợ khi doanh nghiệp bán hàng. Đầu năm hoặc quý, người
vay phải làm đơn xin vay luân chuyển. Ngân hàng và khách hàng thoả thuận với
nhau về phương thức vay, hạn mức tín dụng, các nguồn cung cấp hàng hoá và
khả năng tiêu thụ. Hạn mức tín dụng có thể được thoả thuận trong 1 năm hoặc
vài năm. Đây không phải là thời hạn hoàn trả mà là thời hạn để Ngân hàng xem
xét lại mối quan hệ giữa Ngân hàng và khách hàng cũng như tình hình tài chính
của khách hàng.
Cho vay trả góp: Là hình thức tín dụng theo đó Ngân hàng cho phép khách
hàng trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thoả thuận. Cho vay trả
góp thường được áp dụng đối với các khoản vay trung và dài hạn, tài trợi cho tài
sản cố định hoặc hàng lâu bền. Số tiền trả nợ mỗi lần được tính toán sao cho phù
hợp với khả năng trả nợ.
Ngân hàng thường cho vay trả góp đối với người tiêu dùng thông qua hạn
mức nhất định. Ngân hàng sẽ thanh toán cho người bán lẻ về số hàng hoá mà
khách hàng đã mua trả góp. Các cửa hàng bán lẻ nhận ngay tiền sau khi bán
hàng từ phía Ngân hàng và làm đại lí thu tiền cho Ngân hàng, hoặc khách hàng
trả trực tiếp cho Ngân hàng. Đây là hình thức tín dụng tài trợ cho người mua
nhằm khuyến khích tiêu thụ hàng hoá.
Bảo lãnh của Ngân hàng là cam kết của Ngân hàng dưới hình thức thư bảo
lãnh về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng của Ngân hàng
khi khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ như cam kết.
Bảo lãnh là một hình thức tài trợ của Ngân hàng cho khách hàng, qua đó
khách hàng có thể tìm nguồn tài trợ mới, mua được hàng hoá hoặc thực hiện
được các hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm thu lợi.
1.3. CHO VAY TIÊU DÙNG
1.3.1. Vai trò của cho vay tiêu dùng
1.3.2.1 Đối với người tiêu dùng
14
14
Chuyên đề tốt nghiệp
Xã hội ngày càng phát triển, thu nhập và trình độ dân trí ngày càng cao đã tác
động rất lớn đến nhu cầu tiêu dùng của người dân. Những nhu cầu đó bây giờ
không chỉ là cơm no áo ấm, không giản dị như trước đây nữa mà là những nhu
cầu như nhà ở có đầy đủ tiện nghi sinh hoạt, có phương tiện đi lại hiện đại, được
đi du lịch, được nghỉ mát… Tuy nhiên xã hội nào cũng vậy, không phải tất cả
mọi người đều có khả năng tự trang trải cho những nhu cầu đó bằng chính
nguồn tài chính hiện tại của mình.
Có thể khẳng định rằng người đi vay - người tiêu dùng là người hưởng trực
tiếp và nhiều nhất những lợi ích mà hình thức CVTD mang lại. Từ thực tế cho
thấy rằng có nhiều nhu cầu mang tính tự nhiên, thiết yếu, có ý nghĩa quan trọng
trong cuộc sống đối với các cá nhân và hộ gia đình. Những nhu cầu này không
sớm thì muộn người tiêu dùng cũng phải được thoả mãn. Ví dụ như nhu cầu về
mua sắm sửa chữa nhà cửa, mua các đồ dùng tiện nghi sinh hoạt, mua sắm các
phương tiện như xe máy, ôtô...
Mặc dù những nhu cầu thiết yếu thì nhiều nhưng của cải thì được tích luỹ
theo thời gian do vậy khả năng tài chính thường bị giới hạn. Vì vậy mà làm nảy
sinh một sự thật là người ta thường mua sắm nhà cửa, tiện nghi sinh hoạt sau
một khoảng thời gian tích luỹ khá dài. Khi đó lợi ích cảm nhận được từ sự
chức tài chính phi Ngân hàng như công ty bảo hiểm, công tư ty chứng khoán…
Do vậy để thành công Ngân hàng phải dựa vào khả năng xác định các dịch vụ
tài chính mà xã hội có nhu cầu và thực hiện các dịch vụ đó một cách hiệu quả.
Như vậy để tăng tính cạnh tranh của NHTM thì cần phải phát triển một cách
toàn diện hoạt động Ngân hàng cả chiều rộng lẫn chiều sâu, trong đó CVTD
đóng một vai trò quan trọng trong việc xây dựng chiến lược cạnh tranh của
Ngân hàng. Hoạt động cho vay tiêu dùng sẽ làm tăng thu nhập của Ngân hàng,
mở rộng và tăng cường mối quan hệ giữa Ngân hàng với doanh nghiệp, tăng
cường khả năng cạnh tranh cũng như tạo hình ảnh và thương hiệu đối với công
chúng.
Với hoạt động chủ yếu là nhận tiền gửi với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng
tiền đó để cho vay kiếm lời, các NHTM song song với nỗ lực huy động vốn,
16
16
Chuyên đề tốt nghiệp
phải khai thác thị trường tín dụng một cách triệt để, nghĩa là tìm cách để đảm
bảo khả năng đáp ứng và trên cơ sở đó thoả mãn tốt nhất các nhu cầu về tín
dụng của nền kinh tế. Vì vậy, sẽ là sai lầm và thiếu sót nếu bỏ qua thị trường
khách hàng cá nhân. Trong lịch sử, hầu hết các NHTM không tích cực cho vay
đối với cá nhân và hộ gia đình bởi vì họ tin rằng những khoản CVTD nói chung
có quy mô nhỏ và rủi ro vỡ nợ cao do đó làm cho chúng trở nên có mức sinh lời
thấp. Đầu thế kỷ XX, các NHTM bắt đầu dựa nhiều hơn vào tiền gửi của khách
hàng để tiến hành cho vay thương mại. Và rồi, sự cạnh tranh khốc liệt trong việc
giành giật tiền gửi và cho vay đã buộc các Ngân hàng phải hướng vào người tiêu
dùng như là một khách hàng trung thành. Sau thế chiến thứ hai, CVTD đã trở
thành một trong những loại hình có mức tăng trưởng nhanh nhất. Các Ngân
hàng tiếp tục phát triển và trở thành tổ chức cấp tín dụng chính trong lĩnh vực
CVTD. Như vậy, phát triển cho vay tiêu dùng là một biện pháp tốt để mở rộng
thị trường cho các NHTM.
Trong nghiệp vụ CVTD, khách hàng tiềm năng của Ngân hàng và sự đa dạng
phát thì tăng cầu lại là một điều không tốt sẽ làm cho nền kinh tế càng trở nên
“quá nóng”.
Tóm lại, hoạt động CVTD ra đời là một tất yếu, phù hợp với sự phát triển của
xã hội và tuân theo quy luật kinh tế. Dù ở vị trí nào, người tiêu dùng, người sản
xuất, NHTM, hay tổng quan nền kinh tế nói chung đều được hưởng lợi từ hoạt
động này. Có thể nói phát triển CVTD là một hướng đi đúng đối với các NHTM
trong điều kiện hiện nay.
1.3.2.Khái quát về Cho vay tiêu dùng.
1.3.2.1. Khái niệm về cho vay tiêu dùng.
Cho vay tiêu dùng(CVTD) được hiểu là một hình thức tín dụng trong đó Ngân
hàng sẽ thoả thuận để khách hàng là cá nhân hay hộ gia đình sử dụng một khoản
tiền cho mục đích tiêu dùng theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi cho Ngân
hàng sau một khoảng thời gian nhất định.
18
18
Chuyên đề tốt nghiệp
Là một hình thức tín dụng của NHTM, và cũng như các hình thức cho vay
khác, có rất nhiều quan điểm về CVTD, có quan điểm cho rằng CVTD là các
khoản tài trợ của Ngân hàng cho khách hàng nhằm mục đích chi tiêu cho các
nhu cầu trong đời sống hàng ngày của khách hàng, bao gồm cả cá nhân và hộ
gia đình. Và cũng có quan điểm cho rằng CVTD là hình thức tài trợ của Ngân
hàng dành cho người tiêu dùng trong đó, Ngân hàng sẽ chuyển giao tiền cho
khách hàng với nguyên tắc khách hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi cho Ngân
hàng khi đến hạn thanh toán.
Đây là một nguồn tài chính quan trọng giúp những người này trang trải nhu
cầu nhà ở, đồ dùng gia đình và xe cộ… Bên cạnh đó, những chi tiêu cho nhu cầu
giáo dục, y tế và du lịch cũng có thể được tài trợ bởi CVTD.
1.3.2.2. Đặc điểm của cho vay tiêu dùng
Cũng là một hình thức cho vay của Ngân hàng dành cho cá nhân và hộ gia
đình, CVTD có đầy đủ đặc điểm chung của một hình thức cho vay như đối
dụng từ khâu tiếp nhận hồ sơ, thẩm định các nguồn trả nợ Ngân hàng của các
khách hàng vay vốn, giải ngân và thu nợ. Điều đó làm cho chi phí mỗi món vay
cao và rủi ro các khoản vay này tăng lên so với các loại cho vay kinh doanh luôn
có những con số cụ thể với chi phí và thu nhập rõ ràng từ các nguồn công khai.
Rủi ro lớn.
Nguyên nhân các khoản CVTD có rủi ro cao là vì:
Thứ nhất, các khoản cho vay này có lãi suất cố định nên Ngân hàng phải chịu
rủi ro lãi suất khi chi phí huy động tăng lên.
Thứ hai, đối tượng của CVTD là cá nhân, hộ gia đình nên chất lượng các
thông tin tài chính của khách hàng thường không cao. Tư cách của khách hàng
là một yếu tố rất quan trọng, quyết định sự hoàn trả của khoản vay nhưng lại rất
khó xác định. Trong cho vay đối với hộ sản xuất kinh doanh, nguồn trả nợ được
lấy từ kết quả kinh doanh, còn trong CVTD nguồn trả nợ là thu nhập hoặc tài
sản của người vay. Khả năng trả nợ thanh đổi nhanh chóng khi người vay thay
đổi điều kiện làm việc hoặc sức khoẻ, khả năng bù đắp trong trường hợp rủi ro
20
20
Chuyên đề tốt nghiệp
hầu như không có. Lý do là các cá nhân dễ dàng giữ kín các thông tin đáng ra
phải trình bày (như triển vọng về công việc cũng như tình trạng sức khoẻ) hơn là
hầu hết các hãng kinh doanh khác (vì các hãng kinh doanh này sẽ phải gửi kèm
theo dơn xin vay mọi giấy tờ chứng nhận về tài chính đã được kiểm toán). Hơn
nữa, cá nhân và hộ gia đình không thể dễ dàng vượt qua các khó khăn về tài
chính so với một hãng kinh doanh. Đấy là chưa kể đến những trường hợp người
đi vay cố tình lừa đảo. Trong những trường hợp như vậy thì dù có nắm giữ tài
sản đảm bảo hay không thì các Ngân hàng vẫn phải đối mặt với rủi ro giảm thu
nhập.
Có tính nhạy cảm theo chu kỳ.
CVTD thường có tính nhạy cảm theo chu kỳ, nó tăng lên trong thời kỳ nền
kinh tế mở rộng, khi mà mọi người dân cảm thấy lạc quan về tương lai. Ngược
Đây là hình thức cho vay tiêu dùng trong đó người đi vay trả nợ (gồm cả số
tiền gốc lẫn lãi) cho Ngân hàng theo nhiều lần, theo những kỳ hạn nhất định
trong thời hạn cho vay. Phương thức này được áp dụng cho các khoản vay có giá
trị lớn hoặc thu nhập từng định kì của người đi vay không đủ khả năng thanh
toán hết một lần số nợ vay. Đối với loại cho vay tiêu dùng này, các Ngân hàng
thường chú ý tới một số vấn đề cơ bản sau:
- Thứ nhất: Loại tài sản được tài trợ.
Thông thường thiện chí trả nợ của người đi vay sẽ tốt hơn nếu tài sản hình
thành từ tiền vay đáp ứng được nhu cầu thiết yếu đối với họ lâu dài trong tương
lai. Khi lựa chọn tài sản để tài trợ, Ngân hàng thường chú ý đến điều này vì
Ngân hàng thường chỉ muốn tài trợ cho nhu cầu mua sắm những tài sản có thời
hạn sử dụng lâu bền hoặc có giá trị lớn. Bởi vì có như vậy thì người tiêu dùng
mới được hưởng những tiện ích do tài sản đem lại trong một khoản thời gian dài.
- Thứ hai: Số tiền phải trả trước.
Nói chung thì các Ngân hàng thường yêu cầu người đi vay phải thanh toán
trước một phần giá trị tài sản cần mua sắm - số tiền này được gọi là số tiền trả
trước. Phần còn lại, Ngân hàng sẽ cho vay. Số tiền trả trước cần phải đủ lớn để
một mặt làm cho người đi vay nghĩ rằng chính họ là chủ sở hữu tài sản, mặt
khác lại có tác dụng hạn chế rủi ro cho Ngân hàng. Một khi không cảm nhận
22
22
Chuyên đề tốt nghiệp
được rằng mình là chủ sở hữu của tài sản được hình thành từ tiền vay thì người
đi vay sẽ có thái độ miễn cưỡng trong việc trả nợ. Ngoài ra, khi khách hàng
không trả nợ, trong nhiều trường hợp, Ngân hàng đành phải tiếp nhận và phát
mại tài sản để thu hồi nợ. Hầu hết các tài sản đã qua sử dụng đều đã bị giảm giá
trị, tức là giá thị trường nhỏ hơn giá trị hạch toán của tài sản, cho nên số tiền trả
trước có vai trò rất quan trọng trong việc giúp Ngân hàng hạn chế rủi ro. Số tiền
trả trước thường phụ thuộc vào các yếu tố sau:
+ Loại tài sản: Đối với các tài sản có mức độ giảm giá nhanh thì số tiền trả
phải thanh toán để tìm số tiền phải thanh toán ở mỗi kỳ hạn trả nợ.
+ Phương pháp lãi đơn (Simple Interest Method): Theo phương pháp này,
vốn gốc người đi vay phải trả cho từng kỳ hạn trả nợ được tính đều nhau bằng
cách lấy vốn gốc ban đầu chia cho số kỳ hạn thanh toán. Còn lãi phải trả mỗi kỳ
hạn được tính trên số tiền khách hàng thực sự còn nợ Ngân hàng.
* Cho vay tiêu dùng phi trả góp (Noninstallment Consumer Loan).
Theo phương thức này thì tiền vay được khách hàng thanh toán cho Ngân
hàng chỉ một lần khi đến hạn. Thường thì tín dụng tiêu dùng phi trả góp chỉ
được cấp cho các khoản vay có giá trị nhỏ với thời hạn không dài.
*Cho vay tiêu dùng tuần hoàn (Revolving Consumer Credit):
Đây là các khoản cho vay tiêu dùng trong đó Ngân hàng cho phép khách
hàng sử dụng thẻ tín dụng hoặc phát hành séc thấu chi dựa trên tài khoản vãng
lai. Theo phương thức này thì trong thời hạn tín dụng được thoả thuận trước, căn
cứ vào nhu cầu chi tiêu và thu nhập kiếm được từng kỳ, khách hàng được Ngân
hàng cho phép thực hiện việc vay và trả nợ nhiều kỳ một cách tuần hoàn, theo
một hạn mức tín dụng.
- Căn cứ vào nguồn gốc các khoản nợ
* Cho vay tiêu dùng gián tiếp.
Cho vay tiêu dùng gián tiếp là hình thức cho vay trong đó Ngân hàng mua
những khoản nợ phát sinh do những công ty bán lẻ đã bán chịu hàng hoá hay
dịch vụ cho người tiêu dùng. Ngân hàng và công ty bán lẻ ký kết hợp đồng mua
bán nợ. Trong hợp đồng, Ngân hàng thường đưa ra các điều kiện về đối tượng
khách hàng được bán chịu, số tiền bán chịu tối đa và loại tài sản bán chịu. Công
24
24
Chuyên đề tốt nghiệp
ty bán lẻ và người tiêu dùng ký kết hợp đồng mua bán chịu hàng hoá. Theo
nguyên tắc người mua hàng phải trả trước một phần giá trị của hàng hoá. Có hai
cách tài trợ tín dụng tiêu dùng gián tiếp cho khách hàng:
(1) Công ty bán lẻ và người tiêu dùng ký kết hợp đồng mua bán chịu hàng