SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG THPT HẬU LỘC 3
**************&*************
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP HỆ THỐNG KIẾN THỨC CƠ BẢN CỦA
PHẦN LÀM VĂN , ĐỌC VĂN VÀ LÍ LUẬN VĂN HỌC TRONG
CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN THPT ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ BỒI
DƯỠNG HỌC SINH GIỎI TỈNH LỚP 12 MÔN NGỮ VĂN BAN CƠ BẢN.
Người thực hiện: Trần Thị Lan
Chức vụ: Tổ trưởng chuyên môn.
Trường: THPT Hậu Lộc 3.
Sáng kiến kinh nghiệm môn Ngữ văn.
THANH HÓA NĂM 2013
1
A.t vn :
I.C s lớ lun:
Sinh thi ch tch H Chớ Minh cú núi Vỡ li ớch mi nm trng cõy, vỡ li
ớch trm nm trng ngiv ng, Nh nc ta luụn xỏc nh Giỏo dc l quc
sỏch hng u.ú l chin lc lõu di xõy dng v phỏt trin t nc, nht
l trong quỏ trỡnh cụng nghip húa, hin i húa v hi nhp quc t hin nay. Vỡ
th ngoi cht lng giỏo dc i tr, chỳng ta rt chỳ trng ờn cht lng mi
nhn nhm khuyn khớch ti nng qua hỡnh thc t chc cỏc trng chuyờn, lp
chn, t chc cỏc kỡ thi hc sinh gi t cp trng n cp quc gia chn nhõn
ti . Bi theo Thõn Nhõn Trung Hin ti l nguyờn khớ ca quc gia.
Môn Ngữ văn là môn khoa học xã hội cơ bản chiếm vị trí quan trọng trong nhà
trờng. Ngay từ khi lọt lòng mẹ mỗi ngời con đã đợc tiếp cận với những tác phẩm
văn chơng ngọt ngào, kì thú qua lời ru, lờ kể của bà, của mẹ, của chị. Vào mẫu
giáo con trẻ vẫn thẻ thọt câu đợc câu chăng qua những vần thơ, những câu chuyện
đại.Vì thế HS chỉ học các môn ban KHXH trong đó có môn văn một cách qua
quýt để đối phó cho xong chuyện, có học cũng là gượng ép, thiếu hứng thú, non
sở thích.
- Thực tế ở trường THPT Hậu Lộc 3 , 100% HS đăng kí học ban KHTN, việc
chọn được một đội tuyển đi thi học sinh giỏi môn Ngữ văn lớp 12 quả là hết sức
khó khăn. Trường nằm trên vùng bán sơn địa của huyện Hậu Lộc, công tác xã hội
hóa giáo dục học tập còn kém, chất lượng mũi nhọn cực kì hạn chế. Những em có
năng khiếu văn một chút, có thể tư duy được thì lại rơi vào những học sinh học
tốt môn khoa học tự nhiên. Mà trong kì thi học sinh giỏi cấp tỉnh không cho phép
một học sinh có thể dự thi hai môn, vì thế khi chọn môn thi các em không chọn
môn Ngữ văn mà chọn môn KHTN liên quan đế quyền lợi của mình trong kì thi
Đại học – Cao đẳng sắp tới. Vậy nên người lãnh đội phải chọn những học sinh ở
tốp dưới để bồi dưỡng mà không hi vọng mang lại hiệu quả cao.
- Chọn được đội tuyển rồi,thời gian bồi dưỡng cũng rất hạn chế ( Khoảng từ 6-
10 buổi), những HS này vừa phải học bồi dưỡng Toán, Lí, Hóa để thi Đại học-
cao đẳng, vừa ôn luyện để thi học sinh giỏi môn Ngữ văn. ….
3
2. Mục đích: Với đề tài nghiên cứu này bản thân tôi muốn sử dụng phương pháp
hệ thống kiến thức làm văn, đọc văn để nâng cao hiệu quả bồi dưỡng học sinh
giỏi tỉnh môn Ngữ văn lớp 12 - ban cơ bản.
- Thực tế bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn hàng năm ở đơn vị chúng tôi
như đã trình bày ở trên gặp rất nhiều khó khăn. Vì thế bản thân những người dạy
phải giúp học sinh nắm những vấn đề thật cụ thể, chi tiết, có hệ thống thì các em
mới dễ nắm bắt, nhớ lâu và biết cách xử lí đề ra.
B.Giải quyết vấn đề:
I. Xác định cấu trúc đề thi:
Trước khi cung cấp kiến thức và cách làm bài cho học sinh người giáo viên
phải giúp học sinh nắm được cấu trúc đề thi học sinh giỏi của bộ môn Ngữ văn.
Cụ thể là: Đề được chia làm hai phần:
1. Nghị luận xã hội ( 6 điểm).
+ Thân bài: Có nhiệm vụ làm sáng tỏ vấn đề đặt ra ở phần mở bài, mở bài gồm
nhiều đoạn văn . Mỗi đoạn văn sẽ ôm chứa nội dung của một luận điểm để làm
sáng tỏ cho luận đề trong đó mỗi luận điểm được phát triển bằng các luận cứ,
được làm sáng tỏ bằng các lí lẽ và dẫn chứng cụ thể. Và các đoạn văn này được
viết bằng nhiều cách khác nhau như song hành, móc xích, diễn dịch, quy nạp,
tổng - phân - hợp nhưng phải có sự liên kết chặt chẽ với nhau cả về nội dung lẫn
hình thức.
+ Kết bài: Để có một kết bài hay ngoài phải đảm bảo được việc tổng kết lại vấn
đề đặt ra ở phần mở bài và kết bài, cần tiếp tục khơi gợi được suy nghĩ, tình cảm
của người đọc. Hay nói cách khác là vừa phải có sức khái quat cao vừa mở rộng
nâng cao vấn đề vừa tạo dư ba trong lòng người đọc.
- Kĩ năng dùng từ phải đảm bảo tính chính xác, vừa cụ thể vừa mang tính khái
quát vừa mang màu sắc văn chương; diễn đạt trong sáng, mạch lạc nhưng phải có
sự logic, liên kết câu, đoạn văn chặt chẽ cả về nội dung lẫn hình thức; trình bày
sạch đẹp, bố cục rõ ràng.
1. Trong phần văn nghị luận xã hội với ba kiểu đề: Nghị luận về một tư tưởng
đạo lí,Nghị luận về một hiện tượng đời sống Và Nghị luận về một vấn đề trong
tác phẩm văn học. Phần này về lí thuyết để làm bài không xa lạ gì đối với đối
5
tượng HS giỏi, nhưng để có được một bài văn hay, sâu sắc người giáo viên phải
dạy cho học sinh:
- Nhận dạng rõ ràng kiểu bài, xác định được vấn đề cần nghị luận. Nhất là đối
với những bài luận đề được rút ra từ những câu chuyện ngụ ngôn ngắn, câu
chuyện trong quà tặng cuộc sống, các câu danh ngôn, các ý kiến Muốn xác định
được luận đề của những đề bài ấy giáo viên yêu cầu HS phải đọc kĩ đề, phải hiểu
được câu chuyện, câu nói, ý kiến ấy đề cập đến vấn đề gì qua hệ thống ngôn từ
giàu tính hình tượng, đa nghĩa , hàm súc và phải đặt ra câu hỏi tại sao lại nói
như vậy, nói như vậy là có ý nghĩa gì?
- Kĩ năng làm bài:
+ Cần vận dụng các thao tác nghị luận một cách uyển chuyển, linh hoạt các thao
+ Sau khi phân tích phải tổng hợp, khái quát, đánh giá, nâng cao vấn đề
*Nghị luận về một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi: GV chia tách thành
các kiểu bài với cách tiếp cận và nắm bắt cụ thể như sau:
- Phân tích nhân vật.
+ Ý nghĩa của việc phân tích nhân vật: Nhân vật là “công cụ” giúp nhà văn phản
ánh tư tưởng, chủ đề của tác phẩm, là nơi kí thác quan niệm về con người, về
nhân sinh của nhà văn. Nhân vật chính thường điển hình cho một giai tầng nào đó
trong xã hội, thậm chí một thời đại.Vì vậy khi giúp học sinh nhận thức một nhân
vật, giáo viên phải giúp các em hướng tới khái quát được các giá trị đó. Ngoài ra
nhân vật là con đẻ của nhà văn trong suốt cả một quá trình thai ngén vì thế khi
phân tích nhân vật cũng là để nhận ra tài năng, đặc điểm bút pháp nghệ thuật của
nhà văn.
+ Các phương diện cơ bản khi phân tích nhân vật tự sự.
. Lai lịch: Chính là hoàn cảnh xuất thân, hoàn cảnh gia đình, điều kiện sống
trong quá khứ của nhân vật nó phần nào chi phối đến tính cách, số phận của
nhân vật.
. Ngoại hình: Theo quan niệm của ông bà ta xưa “ Trông mặt mà bắt hình dong,
Con lợn có béo thì lòng mới ngon”, nhà văn cũng vậy, miêu tả ngoại hình nhân
vật nhằm hé mở tính cách, chiều sâu nội tâm bên trong. Đại thể là như vậy nhưng
7
với một số trường hợp cũng có thể là một sự trật khớp giữa ngoại hình và tính
cách.
. Ngôn ngữ: Ngôn ngữ của nhân vật trong tác phẩm văn học được cá thể hóa cao
độ, mang đậm dấu ấn cá nhân.
. Nội tâm nhân vật: Đó là thế giới bên trong của nhân vật với những cảm xúc,
cảm giác, tình cảm, suy nghĩ Thâm nhập thế giới nội tâm phong phú của nhân
vật trở thành cuộc hành trình đầy thú vị của nhà văn, cũng là điều hấp dẫn với
người đọc và người phân tích tác phẩm sau đó.
. Cử chỉ, hành động: Bản chất con người ta bộc lộ chân xác, đầy dủ nhất qua cử
chỉ, hành động. Vì thế phân tích nhân vật cần phân tích được cử chỉ hành động và
khía cạnh nào phải bàn thêm không, nếu có chúng ta cũng có thể sử dụng thao tác
bình luận để làm sáng rõ quan điểm của mình.
* Nghị luận về một vấn đề mang tính chất tổng hợp: Đây là dạng đề yêu cầu
HS phải biết tổng hợp, khái quát so sánh, đối chiếu những vấn đề trong các tác
phẩm văn học. Nhưng những tác phẩm văn học phải ra đời trong một giai đoạn
lịch sử, có cùng chung đề tài, xu hướng, trào lưu. Khi so sánh người làm bài chỉ
ra được sự giống nhau, khác nhau của từng tác phẩm văn học cùng mang đề tài,
xu hướng, trào lưu ấy để thấy được sự độc đáo thú vị trong quá trình khám phá,
phát hiện cũng như tài năng văn chương của các nhà văn. Để làm tốt được kiểu
bài này giáo viên phải hướng dẫn học sinh như sau:
- Yêu cầu về kiến thức: Nhóm các văn bản về cùng một đề tài, một xu hướng,
một trào lưu văn học
- Yêu cầu về phương pháp:
+ Xác định được vấn đề cần phải làm sáng tỏ là gì?
+ Giải thích cho người đọc hiểu khái niệm của vấn đề đó .
+ Biểu hiện của vấn đề đó trong từng tác phẩm cụ thể.
+ So sánh để chỉ ra sự giống nhau, khác nhau của vấn đề đó trong từng tác phẩm.
+ Lí giải nguyên nhân vì sao có sự giống nhau và khác nhau đó.
V. Hệ thống kiến thức các bài đọc văn.
1. Hệ thống kiến thức các bài đọc văn cụ thể.
9
Bên cạnh việc hướng dẫn học sinh cách làm bài văn nghị luận, giáo viên bồi
dưỡng học sinh giỏi còn phải giúp học sinh hệ thống lại kiến thức của các bài đọc
văn. Bởi vì các bài đọc văn trong chương trình lớp 11, 12 sẽ là phần trọng tâm
trong kì thi.Với dung lượng kiến thức nhiều, thời gian dành cho các buổi ôn
luyện rất hạn chế nên giáo viên sẽ phải có phương pháp cụ thể để các em có thể
tự học, nghiên cứu sách vở và giải đề.Cụ thể như sau:
* Trên tinh thần các bài đọc văn các em đã được học trên lớp theo thời khóa
biểu chính khóa, giáo viên được giao trách nhiệm bồi dưỡng phải giúp HS hệ
thống lại kiến thức của bài học để các em lĩnh hội vừa đầy đủ, vừa chi tiết
ấy một cách bài bản, khoa học, sâu sắc nhất. Ngược lại, khi giáo viên giảng các
bài đọc văn cụ thể cần gắn với nét chính của giai đoạn văn học ấy và xem đó như
một dẫn chứng làm sáng tỏ phần nào giai đoạn văn học. Rõ ràng đó là một mối
quan hệ hữu cơ với nhau và nó sẽ phục vụ rất nhiều cho việc làm một bài văn
Nghị luận về một ý kiên bàn về văn học. Ví dụ ta có đề bài sau:
Đề bài: Có ý kiến cho rằng “ Thơ những năm kháng chiến chống Pháp đạt
được nhiều thành tựu xuất sắc. Tình yêu quê hương , đất nước, lòng căm thù
giặc, ca ngợi kháng chiến và con người kháng chiến là những cảm hứng
chính” ( SGK lớp 12- Ban cơ bản- tập1, Nhà xuất bản Giáo dục, tr5).
Qua các tác phẩm thơ viết trong thời kì chống Pháp đã học và đọc thêm
trong chương trình Ngữ văn lớp 12 hãy làm sáng tỏ ý kiến trên.
- Giúp HS có thể so sánh các giai đoạn văn học với nhau thông qua những tác
phẩm cùng viết về một đề tài, để rồi giúp học sinh có thể nhận thấy: Cùng viết về
một đề tài, đối tượng các nhà văn về cơ bản nhìn nhận, đánh giá đối tượng giống
nhau nhưng bên cạnh đó sẽ có nét khác nhau ở cách kết thúc cuộc đời , số phận
nhân vật. Tôi có thể lấy ví dụ: Khi các nhà văn viết về đề tài người lao động
nghèo trong chế độ cũ như: Chí Phèo ( Nam Cao) - viết trước cách mạng tháng
Tám năm 1945, Vợ chồng A Phủ ( Tô Hoài), Vợ nhặt ( Kim Lân) - viết sau cách
mạng tháng Tám năm 1945. Các nhà văn đều phát hiện ra bản chất tốt đẹp trong
tâm hồn cũng như số phận đau khổ, bất hạnh của người lao động nghèo
khổ.Nhưng nếu là những tác phẩm viết trước cách mạng tháng Tám năm 1945,
11
các nhà văn chỉ mới dừng lại ở đó nên kết thúc truyện không mở cho nhân vật lối
thoát với một tương lai tươi sáng ở phía trước, mà là sự tù túng, đầy sự bi quan,
bế tắc, bế tắc cho cả một giai cấp. Cụ thể : Ở Chí Phèo của Nam Cao là Chí
Phèo chết, thị Nở nhìn nhanh xuống bụng và nghĩ tới cái lò gạch cũ. Còn những
tác phẩm viết sau cách mạng tháng Tám năm 1945 kết thúc truyện bao giờ cũng
là kết thúc mở, nhà văn mở ra một con đường sáng cho nhân vật mà ở đó là sự
đổi đời theo ánh sáng của cách mạng. Các nhân vật sẽ kết thúc một cuộc đời tăm
tối, cực nhục, bị chà đạp, bị áp bức, bóc lột của giai cấp thống trị, cường quyền
một đề bài tổng hợp mà trong đó có chứa đựng khái niệm bắt buộc các em phải
hiểu và giải thích được khái niệm rồi sau đó mới đi phân tích làm sáng tỏ. Các
khái niệm đó trong quá trình giảng dạy giáo viên cũng đã cung cấp nhưng cụ thể
thành khái niệm, lời văn như thế nào, giáo viên phải cho học sinh nắm lại. Các
khái niệm đó là:
- Tình huống truyện.
- Tiềm tàng, tiềm ẩn.
- Tình huống truyện.
- Yêu nước.
- Nhân đạo.
- Cái tôi cá nhân.
- Tính sử thi .
- Cảm hứng lãng mạn.
- Chủ nghĩa anh hùng cách mạng.
- Phong cách nghệ thuật
VI. Hệ thống đề bài.
Sau khi giúp học sinh hệ thống lại những kiến thức cơ bản trên, giáo viên
sẽ đưa ra hệ thống đề bài dựa trên kết cấu đề thi học sinh giỏi tỉnh hàng năm để
các em thực hành. Các em có thể làm bài tại lớp và làm bài ở nhà, nhưng điều
quan trọng là khi các em làm bài giáo viên phải chấm bài để kiểm tra về kiến
thức, về kĩ năng làm bài của các em. Giáo viên phải chỉ ra chỗ đạt, chỗ chưa đạt
và phải sửa cho các em từ những lỗi nhỏ nhất để các em rút kinh nghiệm và
không tái phạm lần sau.
13
Ở bài viết này tôi chỉ đưa ra hai đề bài và hướng dẫn chấm để minh họa cho
những lí thuyết trên.
Đề 1.
Câu 1( 4 điểm): Trình bày hoàn cảnh sáng tác và đặc sắc nghệ thuật trong bài thơ
Việt Bắc ( Tố Hữu).
Câu 2 ( 6 điểm ): Bài học cuộc sống mà anh (chị) rút ra từ lời tâm sự của nữ
một sự biến hóa đa dạng, không nhàm chán cho người đọc. Để rồi
suối nguồn tình cảm cứ tuôn chảy dạt dào dưới ngòi bút của ông.
b. Kết cấu đối đáp: Diễn biến tâm trạng được tổ chức theo lối đối
đáp giao duyên trong ca dao - dân ca: bên hỏi, bên đáp, người bày
tỏ, người hô ứng.Hỏi và đáp điều mở ra bao nhiêu kỷ niệm về cách
mạng và kháng chiến gian khổ mà anh hùng, bao nỗi niềm nhớ
thương.Thực ra, bên ngoài là đối đáp, còn bên trong là lời độc
thoại, là biểu hiện tâm tư tình cảm của chính nhà thơ, của những
người tham gia kháng chiến. Nên vừa có sự biến đổi linh hoạt , vừa
như phân thân, hóa thân của chính nhân vật trữ tình vào hai đại từ
mình- ta.
c.Những lối nói giàu hình ảnh, cách chuyển nghĩa truyền thống như
so sánh, ẩn dụ được sử dụng thích hợp: Nhớ gì như nhớ người
yêu; Nhớ hoa cùng người nhằm gợi hình ảnh và giàu biểu cảm,
cảm xúc cho câu thơ.
d. Nhiều câu ca dao, câu Kiều được vận dụng:
- Ta về, mình có nhớ ta
Ta về, ta nhớ những hoa cùng người.
(Ta về, mình có nhớ ta
Ta về, ta nhớ hàm răng mình cười)
- Mình về mình có nhớ ta
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.
(Những là rày ước, mai ao
Mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình)
Vừa miêu tả được hiện thực cụ thể, diễn tả tình cảm, tâm trạng vừa
quen thuộc, vừa mới mẻ.
e. Về ngôn ngữ: Sử dụng lời ăn tiếng nói của nhân dân rất mộc
mạc, giản dị nhưng cũng rất sinh động để tái hiện lại một thời cách
0,5
0,5
0,5
16
phận (nỗi đau về thể xác và tâm hồn)
=> Ý nghĩa của lời tâm sự: Cuộc sống có muôn vàn khổ đau và bất
hạnh, sự thiếu thốn của bạn chẳng thấm vào đâu khi so với nỗi bất
hạnh của nhiều người của nhiều người khác. Hãy thấy mình còn là
người may mắn để biết chia sẻ và cố gắng vươn lên và không bao
giờ được cúi đầu tuyệt vọng trước những bất hạnh, những chông
gai trong cuộc sống.
* Phân tích, bình luận:
+ Người ta khóc là khi trạng thái tâm hồn xúc động, đau buồn, có
khi vui quá cũng khóc. Nữ sĩ khóc vì hoàn cảnh túng thiếu của
mình “không có giày để đi” bà đã khóc mãi cho đến khi bà nhìn
thấy một người không có cả đôi chân để đi giày→bà đã kịp nhận ra
mình còn là người may mắn hơn họ rất nhiều. Như vậy dù phải đi
bằng đôi chân trần thì mình còn có chân để bước trên đường đời,
còn họ không có chân nên dù có giày cũng không thể đi được,
không thể làm những gì họ muốn => những thiếu thốn về vật chất
chẳng thấm gì so với sự thiếu thốn về xác và tinh thần.
+ Lời tâm sự của Helen Keller không dừng lại ở đôi giày, đôi chân
(nếu đôi giày là ước mơ, khát vọng của mình thi đôi chân lại là ước
mơ khát vọng của người khác). Hãy biết hài lòng với những gì
mình đang có và biết chia sẻ nỗi bất hạnh cùng người khác, động
viên nhau để đạt được những điều mà mọi người uớc mơ. Nếu yêú
đuối, thiếu bản lĩnh, nghị lực cuộc sống sẽ dễ bị buông xuôi và rơi
và tuyệt vọng (dẫn chứng- những tấm gương vượt khó trong thực tế
cuộc sống);
+ Lời tâm sự của nữ sĩ không chỉ thể hiện sự thức ngộ trước cuộc
sống mà còn hàm chứa lời động viên, khích lệ: Dù ở bất kì hoàn
cảnh nào cũng không được gục ngã phải gắng sức mà vươn lên, khó
của hai nhà văn
Gợi ý:
b.Giải thích khái niệm Phong cách nghệ thuật:
- Là một phạm trù thẩm mĩ, chỉ sự thống nhất tương đối ổn định
của hệ thống hình tượng của các phương tiện biểu hiện nghệ thuật,
nói lên cái nhìn độc đáo trong các sáng tác của nhà văn, trong tác
phẩm riêng lẻ, trong trào lưu văn học hay văn học dân tộc.
- Phong cách văn học có dấu hiệu riêng và nổi lên trên bề mặt của
tác phẩm như một thực thể hữu hình , mà yếu tố cơ bản là nội dung
0,5
0,5
0,5
0,25
0,25
18
và hình thức tác phẩm. Chỉ có ở những nhà văn có tài năng, có bản
lĩnh mới có được phong cách riêng độc đáo.
c. Khái quát về phong cách nghệ thuật của hai nhà văn
- Nguyễn Tuân: uyên bác, tài hoa, không quản nhọc nhằn để cố
gắng khai thác kho cảm giác và liên tưởng phong phú, bộn bề,
nhằm tìm cho ra những chữ nghĩa xác đáng nhất, có khả năng là lay
động người đọc nhiều nhất.
- HPNT: Có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ và tính trữ
tình, giữa nghị luận sắc bén với suy tư đa chiều được tổng hợp từ
vốn kiến thức phong phú về triết học, văn hóa, lịch sử, địa lí Tất
cả được thể hiện qua lối hành văn hướng nội, súc tích,mê đắm và
tài hoa.
d. Nêu những nét tương đồng trong phong cách nghệ thuật của
hai tác giả g thể hiện qua hai tác phẩm:
- Đều là thể loại tuỳ bút và đều thấm đẫm chất trữ tình: ghi chép ,
lái đò với con sông).
b. Hoàng Phủ Ngọc Tường với Ai đã đặt tên cho dòng sông?:
Thiên về chất thỏ trữ tình dịu ngọt ( Phân tích sông Hương để
nhận thấy).
g. Đánh giá nhận xét.
- Họ đều là những nhà văn tài năng, tâm huyết với nghề, có tâm
với nghề.
- Có tình yêu quê hương đất nước thiết tha.
1.0
1.0
1.0
0,25
0,25
Lưu
ý
Học sinh có thể trình bày theo những kết cấu khác nhau và có
những cảm nhận riêng của mình miễn là đáp ứng được yêu cầu đề;
Khuyến khích thêm điểm cho những bài làm có năng lực cảm thụ
văn chương, có sáng tạo.
Đề 2.
Câu 1 ( 4 điểm): Vẻ đẹp cổ điển và hiện đại trong khổ thơ:
Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,
Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa.
Lòng quê dợn dợn vời con nước,
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.
( Huy Cận - Tràng giang)
Câu 2 ( 6 điểm): Địa ngục hay thiên đàng ?
20
Một ký giả được phép xuống địa ngục và lên thiên đàng để làm phóng sự
về cuộc sống ở đó. Anh xuống địa ngục vào đúng giờ ăn. Thức ăn toàn sơn hào
chiều.
+ Hình ảnh: "Lớp lớp mây cao đùn núi bạc" khiến người đọc liên
tưởng tới hai câu thơ của Đỗ Phủ trong bài Thu hứng:
Giang gian ba lãng kiêm thiên dũng
Tái thượng phong vân tiếp địa âm
(Lưng trời sóng gợn lòng sông thẳm
Mặt đất mây đùn cửa ải xa)
Lớp lớp mây trắng "đùn" lên, chồng lên nhau thành những núi mây.
Ánh hoàng hôn chiếu vào như dát bạc, núi mây trở thành núi bạc.
Cảnh tượng thật hùng vĩ nhưng không vì thế mà nỗi sầu vợi đi.
Những núi mây kia vẫn là những núi buồn khổng lồ.
+ Hình ảnh cánh chim lẻ loi, cô độc bay nghiêng trong ánh hoàng hôn
đã trở thành tín hiệu thẩm mĩ trong thơ cổ điển: Ngàn mai gió cuốn
chim bay mỏi(Bà Huyện Thanh Quan);Chim hôm thoi thót về
rừng(Nguyễn Du); Lạc hà dữ cô lộ tề phi (Ráng chiều và cánh cò
cùng bay - Vương Bột) báo hiệu một ngày đã kết thúc.
- Hai câu kết đưa người đọc trở về một tứ thơ Đường của Thôi Hiệu:
Nhật mộ hương quan hà xứ thị
Yên ba giang thượng sử nhân sầu
(Hoàng hôn về đó quê đâu tá?
Khói sóng trên sông não dạ người)
Gợi cho bài thơ không khí cổ kính, trầm mặc của thơ Đường.
* Vẻ đẹp hiện đại:
- Cái tôi nhỏ nhoi, cô độc trước cuộc đời ảm đạm không có nổi một
giờ vui giống như cánh chim chiều trong bóng hoàng hôn.
- Xưa Thôi Hiệu cần vịn vào sóng để mà buồn, mà nhớ quê hương,
còn Huy Cận thì buồn mà không cần ngoại cảnh, bởi từ nỗi buồn nó
đã sâu sắc lắm rồi. Thế mới biết tấm lòng yêu quê hương thắm thiết
đến nhường nào của nhà thơ . Đó cũng là nét tâm trạng hiện đại của
0,25
ngon, sơn hào hải vị. Nhưng ai cũng gày còm, ốm yếu, da bọc xương
vì sống ích kỉ, thiếu tình yêu thương, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau .
Điều đó thể hiện qua những bữa ăn: muỗng, thìa dài không thể cho
thức ăn vào miệng, thức ăn rơi vãi . Rồi thậm chí tệ hại hơn, họ còn
xem nhau như là kẻ thù để tranh giành nhau, đâm chém nhau. Kết cục
là ai cũng đói, buồn bã và thất vọng vì không đạt được mục đích.
- Ở thiên đàng thiếu thốn về vật chất với những bữa ăn đơn sơ giản dị
0,5
1.0
1.0
23
trái với ở địa ngục nhưng cư dân ai cũng vui tươi, khỏe mạnh , hạnh
phúc. Vì họ đã biết sống cho nhau, vì nhau bằng tình yêu thương, săn
sóc nên trong bữa ăn cũng những đôi tay ấy, cũng muỗng, dĩa, thìa ấy
nhưng họ lại đưa thức ăn vào miệng nhau.
=> Ý nghĩa của câu chuyện: Phải biết đặt tình người và tính cộng
đồng lên trên vật chất, cá nhân để cuộc đời này con người được sống
vui vẻ , hòa thuận,hạnh phúc, đầm ấm bên nhau.
* Phân tích, bình luận:
- Trong cuộc sống dù ở nơi nào, cương vị nào, dù giàu hay nghèo
con người ta cũng nên sống có tính cộng đồng. Đó chính là tình
người cao đẹp khi chúng ta biết quan tâm chia sẻ lẫn nhau, biết yêu
thương nhau, đùm bọc nhau. Có được tình cảm đó con người ta sẽ có
cách làm cho cuộc sống của nhau tốt đẹp hơn nhất là trong lúc hoạn
nạn khó khăn. Như trong câu chuyện cư dân không thể đưa thức ăn
vào miệng mình nhưng biết lấy muỗng, dĩa, thìa để đưa thức ăn vào
miệng nhau. Đó là hành động, nghĩa cử cao đẹp.
- Nếu con người sống thiếu tính cộng đồng có nghĩa tham lam, ích kỉ
chỉ biết lo cho bản thân sẽ có một cuộc sống buồn tẻ, thất vọng. Bởi
vì họ luôn sống trong sự sợ sệt, lo lắng người khác sẽ ăn hết phần của
dù mỗi người một vẻ khác nhau nhưng tựu trung lại là vẻ đẹp của
người phụ nữ Việt nam.
* Hoàn cảnh của từng nhân vật: Ba tác phẩm ra đời trong ba thời
điểm khác nhau, phản ánh số phận con người trong mỗi hoàn cảnh
khác nhau.
- Vợ chồng A Phủ( Tô Hoài) là số phận của người dân lao động miền
núi phía Bắc trong xã hội thực dân phong kiến, trong đó nhân vật
chính là Mị- một cô gái Mèo đã chịu nhiều bất hạnh đau khổ khi làm
kiếp con dâu gạt nợ cho nhà thống lí Pá Tra nhưng cuối cùng bằng
sức sống tiềm tàng và khát vọng sống, tự do Mị đã vùng lên tự giải
phóng mình.
- Vợ nhặt( Kim Lân) phản ánh số phận người Việt Nam trong nạn đói
năm 1945 . Khi đối diện với cái đói, cái chết người ta vẫn khao khát
được yêu thương đùm bọc lẫn nhau. Nhất là với nhân vật người vợ
nhặt khi có hạnh phúc, có mái ấm gia đình, người đàn bà trở nên thật
hiền hậu đúng mực.
- Chiếc thuyền ngoài xa ( Nguyễn Minh Châu)được viết vào đầu
những năm 1980, lại phản ánh số phận của người lao động nữ vùng
0,25
0,25
0,25
0,25
0,25
0,25
25