SKKN Sử dụng phương pháp hệ thống kiến thức cơ bản của phần làm văn đọc văn và lý luận văn học trong chương trình ngữ văn THPT - Pdf 26

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
"SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP HỆ THỐNG KIẾN THỨC CƠ BẢN
CỦA PHẦN LÀM VĂN, ĐỌC VĂN, VÀ LÝ LUẬN VĂN HỌC
TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGƯC VĂN THPT ĐỂ NÂNG CAO
HIỆU QUẢ BỒI DƯỢNG HỌC SINH GIỎI TỈNH LỚP 12 MÔN
NGỮ VĂN BAN CƠ BẢN"
1
A.Đặt vấn đề:
I.Cơ sở lí luận:
Sinh thời chủ tịch Hồ Chí Minh có nói “ Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích
trăm năm trồng người”và Đảng, Nhà nước ta luôn xác định Giáo dục là quốc sách hàng
đầu.Đó là chiến lược lâu dài để xây dựng và phát triển đất nước, nhất là trong quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế hiện nay. Vì thế ngoài chất lượng giáo
dục đại trà, chúng ta rất chú trọng đên chất lượng mũi nhọn nhằm khuyến khích tài năng
qua hình thức tổ chức các trường chuyên, lớp chọn, tổ chức các kì thi học sinh gỏi từ cấp
trường đến cấp quốc gia để chọn nhân tài . Bởi theo Thân Nhân Trung “ Hiền tài là
nguyên khí của quốc gia”.
Môn Ngữ văn là môn khoa học xã hội cơ bản chiếm vị trí quan trọng trong nhà trường.
Ngay từ khi lọt lòng mẹ mỗi người con đã được tiếp cận với những tác phẩm văn chương
ngọt ngào, kì thú qua lời ru, lờ kể của bà, của mẹ, của chị. Vào mẫu giáo con trẻ vẫn thẻ
thọt câu được câu chăng qua những vần thơ, những câu chuyện cổ tích của cô giáo. Và
khi vào bậc học tiểu học rồi lên trung học các em học sinh không chỉ làm quen mà được
tiếp cận và tìm hiểu sâu các tác phẩm văn học, tùy cấp học mà tiếp cận từ dễ đến khó.
Vậy mới thấy chức năng giáo dục của tác phẩm văn học là không nhỏ. Nhất là trong hoàn
cảnh xã hội như hiện nay, khi nền kinh tế thị trường diễn ra mạnh mẽ, khoa học kĩ thuật
phát triển đến chóng mặt thì vấn đề kĩ năng sống đặt ra cho học sinh qua mỗi bài học lại
càng cần thiết hơn bao giờ hết. Song dạy Ngữ văn cho học sinh không chỉ là giáo dục đời
sống tâm hồn cho các em, mà còn phải dạy các em cách tư duy mạch lạc, phân tích một
vấn đề thấu đáo, qua đó làm toát lên tư tưởng, tình cảm, ý đồ nghệ thuật mà nhà văn
muốn gửi gắm.

của mình trong kì thi Đại học – Cao đẳng sắp tới. Vậy nên người lãnh đội phải chọn
những học sinh ở tốp dưới để bồi dưỡng mà không hi vọng mang lại hiệu quả cao.
- Chọn được đội tuyển rồi,thời gian bồi dưỡng cũng rất hạn chế ( Khoảng từ 6- 10 buổi),
những HS này vừa phải học bồi dưỡng Toán, Lí, Hóa để thi Đại học- cao đẳng, vừa ôn
luyện để thi học sinh giỏi môn Ngữ văn. ….
2. Mục đích: Với đề tài nghiên cứu này bản thân tôi muốn sử dụng phương pháp hệ thống
kiến thức làm văn, đọc văn để nâng cao hiệu quả bồi dưỡng học sinh giỏi tỉnh môn Ngữ
văn lớp 12 - ban cơ bản.
- Thực tế bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn hàng năm ở đơn vị chúng tôi như đã
trình bày ở trên gặp rất nhiều khó khăn. Vì thế bản thân những người dạy phải giúp học
sinh nắm những vấn đề thật cụ thể, chi tiết, có hệ thống thì các em mới dễ nắm bắt, nhớ
lâu và biết cách xử lí đề ra.
B.Giải quyết vấn đề:
I. Xác định cấu trúc đề thi:
Trước khi cung cấp kiến thức và cách làm bài cho học sinh người giáo viên phải giúp
học sinh nắm được cấu trúc đề thi học sinh giỏi của bộ môn Ngữ văn. Cụ thể là: Đề được
chia làm hai phần:
1. Nghị luận xã hội ( 6 điểm).
4
2. Nghị luận văn học ( 14 điểm) được chia làm hai câu.
II. Hệ thống những đơn vị kiến thức sẽ ra đề thi.
Phần này thực tế hàng năm Sở giáo dục và đào đạo đã có công văn hướng dẫn và giáo
viên phải cung cấp cho học sinh. Trong đó nhấn mạnh cho các em rõ: Trọng tâm là
chương trình lớp 12, và các bài đọc thêm vẫn thi học sinh giỏi.
IV. Hệ thống lại các kiểu làm bài văn nhị luận.
Trong quá trình học tập ở nhà trường nhất là bậc phổ thông, đối với môn Ngữ văn học
sinh được tiếp cận, thực hành và đánh giá qua các kì thi chủ yếu là văn nghị luận. Đó là
cái đích cuối cùng của bộ môn này vì qua đó người học thể hiện được cách vận dụng kiến
thức và kĩ năng làm bài của mình để cho ra sản phẩm là một văn bản hoàn chỉnh. Vậy
nên dù ở dạng nghị luận xã hội hay nghị luận văn học với nhiều kiểu bài khác nhau giáo

lí,Nghị luận về một hiện tượng đời sống Và Nghị luận về một vấn đề trong tác phẩm văn
học. Phần này về lí thuyết để làm bài không xa lạ gì đối với đối tượng HS giỏi, nhưng để
có được một bài văn hay, sâu sắc người giáo viên phải dạy cho học sinh:
- Nhận dạng rõ ràng kiểu bài, xác định được vấn đề cần nghị luận. Nhất là đối với những
bài luận đề được rút ra từ những câu chuyện ngụ ngôn ngắn, câu chuyện trong quà tặng
cuộc sống, các câu danh ngôn, các ý kiến Muốn xác định được luận đề của những đề
bài ấy giáo viên yêu cầu HS phải đọc kĩ đề, phải hiểu được câu chuyện, câu nói, ý kiến
6
ấy đề cập đến vấn đề gì qua hệ thống ngôn từ giàu tính hình tượng, đa nghĩa , hàm súc
và phải đặt ra câu hỏi tại sao lại nói như vậy, nói như vậy là có ý nghĩa gì?
- Kĩ năng làm bài:
+ Cần vận dụng các thao tác nghị luận một cách uyển chuyển, linh hoạt các thao tác và
kết hợp chúng để bài viết đạt hiệu quả cao nhất.
+ Cần vận dụng tổng hợp các phương thức biểu đạt: Bên cạnh việc kết hợp nhiều thao tác
lập luận, bài văn nghị luận xã hội cần phải có sự kết hợp với các phương thức biểu đạt đó
là biểu cảm, thuyết minh, tự sự, miêu tả nhất là phương thức biểu cảm. Bởi văn nghị
luận thuyết phục người đọc không chỉ riêng lí trí mà còn phải tác động vào tình cảm,
cảm xúc. Khi đó để chân lí không chỉ được nhận thức mà còn phải tác động vào tình cảm,
cảm xúc, người đọc không chỉ biết, hiểu mà còn xúc động nữa.
- Và với phần văn nghị luận xã hội không chỉ đơn thuần là mục đích cung cấp kiến thức
xã hội mà mục đích cao cả hơn là giúp học sinh nhận thức đúng đắn những vấn đề đạo
đức nhân sinh cao đẹp trong đời sống xã hội để rồi giáo dục nhân cách cho các em.Vì thế
đối với kiểu bài Nghị luận về một tư tưởng đạo lí cần yêu cầu cao ở HS khi rút ra được ý
nghĩa, bài học nhận thức và hành động về một tư tưởng, đạo lí. Còn với kiểu bài Nghị
luận về một hiện tượng đời sống phải yêu cầu cao ở HS khi bày tỏ thái độ, ý kiến của
người viết về hiện tượng xã hội đó.
1.Phần nghị luận văn học: Giáo viên hướng dẫn HS nắm lại lí thuyết về từng kiểu
bài nghị luận văn học cụ thể:
*Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ. Với kiểu bài này GV cũng phải hướng dẫn cho
học sinh làm bài một cách cụ thể như sau:

mang đậm dấu ấn cá nhân.
. Nội tâm nhân vật: Đó là thế giới bên trong của nhân vật với những cảm xúc, cảm giác,
tình cảm, suy nghĩ Thâm nhập thế giới nội tâm phong phú của nhân vật trở thành cuộc
hành trình đầy thú vị của nhà văn, cũng là điều hấp dẫn với người đọc và người phân tích
tác phẩm sau đó.
. Cử chỉ, hành động: Bản chất con người ta bộc lộ chân xác, đầy dủ nhất qua cử chỉ, hành
động. Vì thế phân tích nhân vật cần phân tích được cử chỉ hành động và cách hành xử của
nhân vật ấy.
+ Vai trò của tình huống truyện đối với việc thể hiện nhân vật trong tác phẩm tự sự: Khi
phân tích nhân vật, chúng ta cần quan tâm thích đáng đến tình huống truyện.Vì thông qua
tình huống truyện, nhân vật sẽ phần nào thể hiện được tính cách, số phận nhân vật.
Trên đây là phần hướng dẫn cơ bản cho học sinh làm một bài văn phân tích nhân vật,
nhưng giáo viên cần lưu ý học sinh không nên máy móc mà phải linh hoạt ở từng nhân
vật văn học cụ thể để đạt hiệu quả cao khi làm bài.
- Nghị luận về một vấn đề trong tác phẩm văn xuôi: Đây là dạng đề liên quan đến một
vấn đề, một phương diện về nội dung hoặc nghệ thuật của tác phẩm văn học. Giáo viên
phải giúp học sinh chỉ ra được những biểu hiện, ý nghĩa của vấn đề đó trong tác phẩm.
9
* Nghị luận về một ý kiến bàn về văn học: Với kiểu bài bài này thi học sinh giỏi cấp
tỉnh rất hay ra bởi đòi hỏi ở HS khả năng khái quát, đánh giá vấn đề. Ý kiến bàn về văn
học có thể là một nhận định về văn học, một danh ngôn về vấn đề trong văn học. Mà vấn
đề đó có thể thuộc lí luận văn học, về văn học sử, về tác phẩm, phong cách tác giả.Để
làm tốt được kiểu bài này giáo viên phải hướng dẫn học sinh như sau:
- Yêu cầu về kiến thức:
+ HS phải nắm được kiến thức về lí luận văn học, về văn học sử, về tác phẩm, về phong
cách tác giả, quan điểm sáng tác
+ Kiến thức có được là nhờ vào cả một quá trình tích lũy, tổng hợp trong cả quá trình học
tập, từ sách giáo khoa, từ các bài giảng của thầy cô, tù các văn hay của các bạn học sinh
trong các kì thi học sinh giỏi.
- Yêu cầu về phương pháp:

* Trên tinh thần các bài đọc văn các em đã được học trên lớp theo thời khóa biểu chính
khóa, giáo viên được giao trách nhiệm bồi dưỡng phải giúp HS hệ thống lại kiến thức của
bài học để các em lĩnh hội vừa đầy đủ, vừa chi tiết nhưng vừa khái quát nhất về văn bản.
Để làm được điều đó ngoài kiến thức trong SGK, SGV, Chuẩn kiến thức kĩ năng, giáo
11
viên phải năng đọc thêm các tài liệu, tìm tòi sáng tạo trong quá trình giảng dạy thì bài học
mới có chiều sâu .Cụ thể HS phải nắm được:
- Nét chính về tác giả: Như quan điểm sáng tác, đặc điểm văn học, phong cách nghệ
thuật. Học sinh nắm và hiểu được những điều đó sẽ hiểu sâu hơn về tác phẩm và ý đồ ngệ
thuật của nhà văn.
- Hoàn cảnh sáng tác , xuất xứ, vị trí của tác phẩm.
- Nội dung tư tưởng chủ đạo và nghệ thuật đặc sắc của tác phẩm.
- Điểm sáng văn chương của tác phẩm. Trong mỗi tác phẩm văn học nhất là văn xuôi
thường có một đoạn văn hoặc một chi tiết nghệ thuật đặc sắc để lại rất nhiều dư vị trong
lòng người đọc đồng thời cũng thể hiện tài năng nghệ thuật của nhà văn.Bởi có thể nói
điểm sáng văn chương chính là gan ruột và sự tìm tòi, sáng tạo để đưa đến cho người đọc
sự thú vị nhất và cũng nhằm bộc lộ rõ nhất tư tưởng, tình cảm của nhà văn. Ví dụ như:
Cảnh đoàn tàu đi qua phố huyện lúc đêm khuya ( Hai đứa trẻ - Thạch Lam), Cảnh cho
chữ ( Chữ người tử tù - Nguyễn Tuân), Hồn quê trong Tràng giang của Huy Cận; Hình
ảnh đôi bàn tay Tnú ( Rừng xà nu - Nguyễn Trung Thành)
* Sau khi các em đã nắm được kiến thức của các bài đọc văn, giáo viên sẽ hệ thống các
kiểu đề bài của văn bản đó, học sinh nắm bắt được các dạng đề bài và về nhà thực hành
để vừa khắc sâu kiến thức vừa thuần thục trong kĩ năng làm một bài văn.
2. Hệ thống kiến thức các bài đọc văn theo từng giai đoạn, mảng đề tài, xu hướng,
trào lưu, thể loại.
a. Hệ thống theo từng giai đoạn:
* Hệ thống lại, hoàn cảnh lịch sử, xã hội ,nội dung, đặc điểm cơ bản của văn học Việt
Nam hiện đại qua từng giai đoạn với mục đích:
12
- Giúp học sinh nắm kiến thức một cách khái quát nhất về một giai đoạn văn học,

thân. Như tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân chẳng hạn: Kết thúc truyện hiện lên trong óc
Tràng là hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng cùng những người đói đi phá kho thóc Nhật. Giáo
viên cũng giúp cho học sinh nhận thấy vì sao có sự khác nhau như vậy. Đó là do nhận
thức chính trị của các nhà văn ở thời điểm sáng tác tác phẩm. Và sở dĩ có được kết thúc
như vậy là do nhà văn nhìn cuộc đời, nhân vật bằng nhãn quan cách mạng.
b. Hệ thống theo trào lưu, xu hướng văn học.
- Giáo viên phải giúp học sinh phương pháp nắm bắt từng văn bản cụ thể trên tinh thần
của từng trào lưu, xu hướng văn học. Để học sinh vừa nắm được đặc trưng, xu hướng của
từng trào lưu văn học, có nghĩa từ đó các em có thể làm sáng tỏ nó ở từng tác phẩm cụ
thể .Ví dụ như: Với phong trào thơ mới là tinh thần của nó chính là ở cái tôi cá nhân với
sự giải phóng về tình cảm, cảm xúc và về trí tưởng tượng; Văn học hiện thực phê phán
chính là ở nhân vật điển hình và tính cách điển hình cho một giai cấp, tầng lớp người nào
đó; văn xuôi chống Mĩ là đề cập đến chất sử thi và chủ nghĩa anh hùng cách mạng; Văn
học sau năm 1975 mang cảm hứng thế sự - đời tư
c. Hệ thống theo thể loại văn học.
Giáo viên giúp học sinh hệ thống các bài đọc văn có cùng một thể loại, bởi khi đã cùng
chung một thể loại thường có những nét tương đồng về nghệ thuật. Cùng với việc học
sinh đã nắm kĩ từng văn bản, học sinh có thể so sánh nét giống nhau và khác nhau để chỉ
14
ra sự độc đáo trong nghệ thuật sáng tạo của nhà văn. Ví dụ bài Tùy bút Người lái đò
sông Đà ( Nguyễn Tuân) và bài Bút kí Ai đã đặt tên cho dòng sông ( Hoàng Phủ Ngọc
Tường) ta có thể nhận thấy chúng có nét tương đồng của thể kí.Đó là bằng ngòi bút
phóng khoáng, tự do các nhà văn thoải mái ghi chép lại những sự vật, sự việc, con người
cụ thể bằng phong cách nghệ thuật tài hoa, uyên bác.
V. Hệ thống các khái niệm thuộc về phần lí luận văn học.
Khi học sinh làm bài văn về một vấn đề trong tác phẩm văn học, hay xử lí một đề bài
tổng hợp mà trong đó có chứa đựng khái niệm bắt buộc các em phải hiểu và giải thích
được khái niệm rồi sau đó mới đi phân tích làm sáng tỏ. Các khái niệm đó trong quá trình
giảng dạy giáo viên cũng đã cung cấp nhưng cụ thể thành khái niệm, lời văn như thế nào,
giáo viên phải cho học sinh nắm lại. Các khái niệm đó là:

U
YÊU CẦU ĐIỂ
M
I Học sinh cần nêu được các ý chính sau: 4.0
16
1. Hoàn cảnh sáng tác :
- Tháng 5- 1954 chúng ta chiến thắng Điện Biên Phủ, đã mang
lại niềm vui kháng chiến, thắng lợi, hòa bình . Nhân sự kiện có
tính chất lịch sử tháng 10 - 1954 Trung ương Đảng quyết định
rời chiến khu Việt Bắc về lại thủ đô Hà Nội,Tố Hữu đã sáng
tác bài thơ Việt Bắc .
- Bài thơ đã nói lên được tình nghĩa thắm thiết với Việt Bắc
quê hương cách mạng, với nhân dân và cuộc kháng chiến gian
khổ của người cán bộ cách mạng. Tất cả nay đã thành kỉ niệm
sâu nặng, để trong niềm vui không quên những cội nguồn của
thắng lợi, không quên những ngày gian khổ và nghĩa tình gắn
bó, để càng tin tưởng ở tương lai.
2. Nghệ thuật : Việt Bắc tiêu biểu cho giọng thơ tâm tình
ngọt ngào tha thiết của TH và nghệ thuật biểu hiện giàu
tính dân tộc trong thơ ông.
a. Thể thơ lục bát truyền thống được vận dụng tài tình trong
một bài thơ dài, vừa tạo được âm hưởng chung thống nhất vừa
thể hiện một sự biến hóa đa dạng, không nhàm chán cho người
đọc. Để rồi suối nguồn tình cảm cứ tuôn chảy dạt dào dưới
ngòi bút của ông.
b. Kết cấu đối đáp: Diễn biến tâm trạng được tổ chức theo lối
đối đáp giao duyên trong ca dao - dân ca: bên hỏi, bên đáp,
người bày tỏ, người hô ứng.Hỏi và đáp điều mở ra bao nhiêu
0,25
0,25

cách mạng và kháng chiến đầy gian khổ mà dạt dào nghĩa tình
g. Tình nghĩa với căn cứ cách mạng , với nhân dân, với Đảng,
với Bác Hồ là tình cảm của người cách mạng nhưng đã trở
thành ý nghĩ, tình cảm cao đẹp chung của con người Việt Nam
trong kháng chiến: Thủy chung son sắt với quê hương đất
nước.
0,5
0,5
II Cần đảm bảo được các yêu cầu sau: 6
điểm
a/ Yêu cầu về kĩ năng:
Biết cách làm bài nghị luận xã hội về một hiện tượng đời
sống. Sử dụng linh hoạt phương pháp: Giải thích, phân tích,
bình luận. Lập luận chặt chẽ, thuyết phục, diễn đạt lưu loát,
không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp.
b/ Yêu cầu về kiến thức:
Thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng cần
đảm bảo các ý sau:
- Vấn đề cần nghị luận: Sự thiếu thốn khó khăn của mình
chẳng thấm gì nếu so với những khổ đau, bất hạnh của nhiều
người khác trong cuộc sống.
0,5
19
- Nội dung cần nghị luận:
* Giải thích hai hình ảnh đối lập nhau: “không có giày để đi”
và “không có chân để đi giày”
+ “Không có giày để đi”: là sự thiếu thốn, khó khăn về vật
chất (tức là nói về hoàn cảnh nghèo khó)
+ “Không có chân để đi giày”: là nỗi bất hạnh nghiệt ngã
của số phận (nỗi đau về thể xác và tâm hồn)

+ Lời tâm sự của nữ sĩ không chỉ thể hiện sự thức ngộ trước
cuộc sống mà còn hàm chứa lời động viên, khích lệ: Dù ở bất
kì hoàn cảnh nào cũng không được gục ngã phải gắng sức mà
vươn lên, khó khăn bất hạnh chính là thử thách tôi luyện ta
trưởng thành, hoàn thiện mình.
-Bài học cuộc sống: Không nên than vãn, bi quan trước hoàn
cảnh khó khăn về vật chất phải hiểu được giá trị đích thực của
cuộc sống. Cuộc sống của mỗi người được quyết định bởi nhận
thức, bản lĩnh và nghị lực vươn lên không ngừng. Hơn thế ta
phải nhìn ra cuộc đời để nhận biết, đồng cảm, chia sẻ từ đó có
thêm sức mạnh, lòng tin yêu cuộc sống để làm việc và cống
hiến nhiều hơn. Tương lai của mỗi người phụ thuộc vào sự nỗ
lực của bản thân
1.0
1.0
1.0
III Cần đảm bảo được các yêu cầu sau: 10
21
a, Yêu cầu về hình thức:
- Biết cách viết một bài văn nghị luận văn học
- Bài viết đảm bảo một văn bản hoàn chỉnh, trình bày rõ ràng,
mạch lạc. Văn viết không sai phạm về dùng từ, ngữ pháp.
b, Yêu cầu về nội dung:
a. Giới thiệu khái quát về tác phẩm Người lái đò sông Đà
và tác phẩm Ai đã đặt tên cho dòng sông?.
- Người lái đò sông Đà: Là tùy bút đặc sắc , in trong tập Sông
Đà, Nguyễn Tuân đi tìm chất vàng của thiên nhiên và chất
vàng mười đã qua thử lửa trong tâm hồn người lao động miền
Tây Bắc.
- Ai đã đặt tên cho dòng sông?: Là bút kí viết về vẻ đẹp của

d. Nêu những nét tương đồng trong phong cách nghệ thuật
của hai tác giả g thể hiện qua hai tác phẩm:
- Đều là thể loại tuỳ bút và đều thấm đẫm chất trữ tình: ghi
chép , miêu tả chi tiết cụ thể về vẻ đẹp của đối tượng được đề
cập đến trong văn bản, qua đó bộc lộ cảm xúc, suy tư và nhận
thức đánh giá của mình về đối tượng đó. Cụ thể:
+ NLĐSĐ: Miêu tả dòng sông Đà với hai tính cách đối lập
nhau, SĐ sinh thể sống, có tâm trạng , có tính cách , rồi SĐnhư
0,25
0,5
0,5
0,5
23
một cố nhân.Bên cạng đó là người lái đò bình dị mà tài hoa, trí
dũng ,rất đáng khâm phục và trân trọng.
+ AĐ ĐTCDS? Miêu tả dòng sông Hương thấm đẫm chất thơ:
SH thơ mộng, dịu dàng, chung tình làm mê đắm lòng người
bởi có vẻ đẹp của một người thiếu nữ, của một người mẹ phù
sa bồi đắp cho một vùng văn hóa xứ sở.
- Hai cây bút đều tài hoa, uyên bác
+ SĐ : NT sử dụng kiến thức của nhiều ngành khi miêu tả con
sông Đà như : địa lí, quân sự, điện ảnh, võ thuật và tài hoa ở
cách sử dụng ngôn từ: nhiều từ ngữ độc đáo mới lạ, sử dụng
nghệ thuật liên tưởng, tưởng tượng, so sánh, nhân hóa.
+ AĐ ĐTCDS: HPNT am hiểu về các lĩnh vực địa lí, lịch sử,
văn hóa, thi ca và miêu tả dòng sông bằng bút pháp nghệ
thuật miêu tả đặc sắc như: liên tưởng, tưởng tượng, so sánh
nhân hóa.
e.Nét khác biêt: Thể hiện cá tính sáng tạo độc đáo:
a. Nguyễn Tuân với Người lái đò sông Đà: Nghiêng về phát

Lòng quê dợn dợn vời con nước,
25

Trích đoạn Giàu lũng vị tha, nhõn hậu – chắt chiu hạnh phỳc đời thường – nhỡn đời một cỏch sõu sắc : Cũng cú những lỳc: “trờn chiếc
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status