SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP hệ THỐNG KIẾN THỨC cơ bản của PHẦN làm văn , đọc văn và lí LUẬN văn học TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ văn THPT để NÂNG CAO HIỆU QUẢ bồi DƯỠNG học SINH GIỎI TỈNH lớp 12 môn NGỮ văn BAN cơ bản - Pdf 28

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
"SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP HỆ THỐNG KIẾN THỨC CƠ BẢN
CỦA PHẦN LÀM VĂN , ĐỌC VĂN VÀ LÍ LUẬN VĂN HỌC
TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN THPT ĐỂ NÂNG CAO
HIỆU QUẢ BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI TỈNH LỚP 12 MÔN
NGỮ VĂN BAN CƠ BẢN"

A.Đặt vấn đề:
I.Cơ sở lí luận:
Sinh thời chủ tịch Hồ Chí Minh có nói “ Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích
trăm năm trồng người”và Đảng, Nhà nước ta luôn xác định Giáo dục là quốc sách
hàng đầu.Đó là chiến lược lâu dài để xây dựng và phát triển đất nước, nhất là trong
quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế hiện nay. Vì thế ngoài
chất lượng giáo dục đại trà, chúng ta rất chú trọng đên chất lượng mũi nhọn nhằm
khuyến khích tài năng qua hình thức tổ chức các trường chuyên, lớp chọn, tổ chức các
kì thi học sinh gỏi từ cấp trường đến cấp quốc gia để chọn nhân tài . Bởi theo Thân
Nhân Trung “ Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”.
Môn Ngữ văn là môn khoa học xã hội cơ bản chiếm vị trí quan trọng trong nhà
trường. Ngay từ khi lọt lòng mẹ mỗi người con đã được tiếp cận với những tác phẩm
văn chương ngọt ngào, kì thú qua lời ru, lờ kể của bà, của mẹ, của chị. Vào mẫu giáo
con trẻ vẫn thẻ thọt câu được câu chăng qua những vần thơ, những câu chuyện cổ tích
của cô giáo. Và khi vào bậc học tiểu học rồi lên trung học các em học sinh không chỉ
làm quen mà được tiếp cận và tìm hiểu sâu các tác phẩm văn học, tùy cấp học mà tiếp
cận từ dễ đến khó. Vậy mới thấy chức năng giáo dục của tác phẩm văn học là không
nhỏ. Nhất là trong hoàn cảnh xã hội như hiện nay, khi nền kinh tế thị trường diễn ra
mạnh mẽ, khoa học kĩ thuật phát triển đến chóng mặt thì vấn đề kĩ năng sống đặt ra
cho học sinh qua mỗi bài học lại càng cần thiết hơn bao giờ hết. Song dạy Ngữ văn
cho học sinh không chỉ là giáo dục đời sống tâm hồn cho các em, mà còn phải dạy các
em cách tư duy mạch lạc, phân tích một vấn đề thấu đáo, qua đó làm toát lên tư tưởng,
tình cảm, ý đồ nghệ thuật mà nhà văn muốn gửi gắm.

vọng mang lại hiệu quả cao.
- Chọn được đội tuyển rồi,thời gian bồi dưỡng cũng rất hạn chế ( Khoảng từ 6- 10
buổi), những HS này vừa phải học bồi dưỡng Toán, Lí, Hóa để thi Đại học- cao đẳng,
vừa ôn luyện để thi học sinh giỏi môn Ngữ văn. ….
2. Mục đích: Với đề tài nghiên cứu này bản thân tôi muốn sử dụng phương pháp hệ
thống kiến thức làm văn, đọc văn để nâng cao hiệu quả bồi dưỡng học sinh giỏi tỉnh
môn Ngữ văn lớp 12 - ban cơ bản.
- Thực tế bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn hàng năm ở đơn vị chúng tôi như đã
trình bày ở trên gặp rất nhiều khó khăn. Vì thế bản thân những người dạy phải giúp
học sinh nắm những vấn đề thật cụ thể, chi tiết, có hệ thống thì các em mới dễ nắm
bắt, nhớ lâu và biết cách xử lí đề ra.
B.Giải quyết vấn đề:
I. Xác định cấu trúc đề thi:
Trước khi cung cấp kiến thức và cách làm bài cho học sinh người giáo viên phải giúp
học sinh nắm được cấu trúc đề thi học sinh giỏi của bộ môn Ngữ văn. Cụ thể là: Đề
được chia làm hai phần:
1. Nghị luận xã hội ( 6 điểm).
2. Nghị luận văn học ( 14 điểm) được chia làm hai câu.
II. Hệ thống những đơn vị kiến thức sẽ ra đề thi.
Phần này thực tế hàng năm Sở giáo dục và đào đạo đã có công văn hướng dẫn và giáo
viên phải cung cấp cho học sinh. Trong đó nhấn mạnh cho các em rõ: Trọng tâm là
chương trình lớp 12, và các bài đọc thêm vẫn thi học sinh giỏi.
IV. Hệ thống lại các kiểu làm bài văn nhị luận.
Trong quá trình học tập ở nhà trường nhất là bậc phổ thông, đối với môn Ngữ văn
học sinh được tiếp cận, thực hành và đánh giá qua các kì thi chủ yếu là văn nghị luận.
Đó là cái đích cuối cùng của bộ môn này vì qua đó người học thể hiện được cách vận
dụng kiến thức và kĩ năng làm bài của mình để cho ra sản phẩm là một văn bản hoàn
chỉnh. Vậy nên dù ở dạng nghị luận xã hội hay nghị luận văn học với nhiều kiểu bài
khác nhau giáo viên phải rèn cho học sinh kĩ năng làm một bài văn nghị luận. Với bất
kì đối tượng học sinh nào cũng phải rèn cho học sinh kĩ năng làm bài văn nhưng đối

văn học. Phần này về lí thuyết để làm bài không xa lạ gì đối với đối tượng HS giỏi,
nhưng để có được một bài văn hay, sâu sắc người giáo viên phải dạy cho học sinh:
- Nhận dạng rõ ràng kiểu bài, xác định được vấn đề cần nghị luận. Nhất là đối với
những bài luận đề được rút ra từ những câu chuyện ngụ ngôn ngắn, câu chuyện trong
quà tặng cuộc sống, các câu danh ngôn, các ý kiến Muốn xác định được luận đề của
những đề bài ấy giáo viên yêu cầu HS phải đọc kĩ đề, phải hiểu được câu chuyện, câu
nói, ý kiến ấy đề cập đến vấn đề gì qua hệ thống ngôn từ giàu tính hình tượng, đa
nghĩa , hàm súc và phải đặt ra câu hỏi tại sao lại nói như vậy, nói như vậy là có ý
nghĩa gì?
- Kĩ năng làm bài:
+ Cần vận dụng các thao tác nghị luận một cách uyển chuyển, linh hoạt các thao tác và
kết hợp chúng để bài viết đạt hiệu quả cao nhất.
+ Cần vận dụng tổng hợp các phương thức biểu đạt: Bên cạnh việc kết hợp nhiều thao
tác lập luận, bài văn nghị luận xã hội cần phải có sự kết hợp với các phương thức biểu
đạt đó là biểu cảm, thuyết minh, tự sự, miêu tả nhất là phương thức biểu cảm. Bởi
văn nghị luận thuyết phục người đọc không chỉ riêng lí trí mà còn phải tác động vào
tình cảm, cảm xúc. Khi đó để chân lí không chỉ được nhận thức mà còn phải tác động
vào tình cảm, cảm xúc, người đọc không chỉ biết, hiểu mà còn xúc động nữa.
- Và với phần văn nghị luận xã hội không chỉ đơn thuần là mục đích cung cấp kiến
thức xã hội mà mục đích cao cả hơn là giúp học sinh nhận thức đúng đắn những vấn
đề đạo đức nhân sinh cao đẹp trong đời sống xã hội để rồi giáo dục nhân cách cho các
em.Vì thế đối với kiểu bài Nghị luận về một tư tưởng đạo lí cần yêu cầu cao ở HS khi
rút ra được ý nghĩa, bài học nhận thức và hành động về một tư tưởng, đạo lí. Còn với
kiểu bài Nghị luận về một hiện tượng đời sống phải yêu cầu cao ở HS khi bày tỏ thái
độ, ý kiến của người viết về hiện tượng xã hội đó.
1.Phần nghị luận văn học: Giáo viên hướng dẫn HS nắm lại lí thuyết về từng
kiểu bài nghị luận văn học cụ thể:
*Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ. Với kiểu bài này GV cũng phải hướng dẫn cho
học sinh làm bài một cách cụ thể như sau:
+ Nắm bắt được nhân vật trữ tình trong văn bản , phải xác định được nhân vật trữ tình

thành cuộc hành trình đầy thú vị của nhà văn, cũng là điều hấp dẫn với người đọc và
người phân tích tác phẩm sau đó.
. Cử chỉ, hành động: Bản chất con người ta bộc lộ chân xác, đầy dủ nhất qua cử chỉ,
hành động. Vì thế phân tích nhân vật cần phân tích được cử chỉ hành động và cách
hành xử của nhân vật ấy.
+ Vai trò của tình huống truyện đối với việc thể hiện nhân vật trong tác phẩm tự sự:
Khi phân tích nhân vật, chúng ta cần quan tâm thích đáng đến tình huống truyện.Vì
thông qua tình huống truyện, nhân vật sẽ phần nào thể hiện được tính cách, số phận
nhân vật.
Trên đây là phần hướng dẫn cơ bản cho học sinh làm một bài văn phân tích nhân
vật, nhưng giáo viên cần lưu ý học sinh không nên máy móc mà phải linh hoạt ở từng
nhân vật văn học cụ thể để đạt hiệu quả cao khi làm bài.
- Nghị luận về một vấn đề trong tác phẩm văn xuôi: Đây là dạng đề liên quan đến một
vấn đề, một phương diện về nội dung hoặc nghệ thuật của tác phẩm văn học. Giáo viên
phải giúp học sinh chỉ ra được những biểu hiện, ý nghĩa của vấn đề đó trong tác phẩm.
* Nghị luận về một ý kiến bàn về văn học: Với kiểu bài bài này thi học sinh giỏi cấp
tỉnh rất hay ra bởi đòi hỏi ở HS khả năng khái quát, đánh giá vấn đề. Ý kiến bàn về
văn học có thể là một nhận định về văn học, một danh ngôn về vấn đề trong văn học.
Mà vấn đề đó có thể thuộc lí luận văn học, về văn học sử, về tác phẩm, phong cách tác
giả.Để làm tốt được kiểu bài này giáo viên phải hướng dẫn học sinh như sau:
- Yêu cầu về kiến thức:
+ HS phải nắm được kiến thức về lí luận văn học, về văn học sử, về tác phẩm, về
phong cách tác giả, quan điểm sáng tác
+ Kiến thức có được là nhờ vào cả một quá trình tích lũy, tổng hợp trong cả quá trình
học tập, từ sách giáo khoa, từ các bài giảng của thầy cô, tù các văn hay của các bạn
học sinh trong các kì thi học sinh giỏi.
- Yêu cầu về phương pháp:
+ Phải hiểu đúng toàn diện nội dung, tinh thần của ý kiến, nhận định để xác định đề
bài đề cập đến vấn đề gì, bản chất của vấn đề là gì?
+ Khi phân tích, chứng minh nhận định đó vào cụ thể trong văn học, học sinh phải

về văn bản. Để làm được điều đó ngoài kiến thức trong SGK, SGV, Chuẩn kiến thức
kĩ năng, giáo viên phải năng đọc thêm các tài liệu, tìm tòi sáng tạo trong quá trình
giảng dạy thì bài học mới có chiều sâu .Cụ thể HS phải nắm được:
- Nét chính về tác giả: Như quan điểm sáng tác, đặc điểm văn học, phong cách nghệ
thuật. Học sinh nắm và hiểu được những điều đó sẽ hiểu sâu hơn về tác phẩm và ý đồ
ngệ thuật của nhà văn.
- Hoàn cảnh sáng tác , xuất xứ, vị trí của tác phẩm.
- Nội dung tư tưởng chủ đạo và nghệ thuật đặc sắc của tác phẩm.
- Điểm sáng văn chương của tác phẩm. Trong mỗi tác phẩm văn học nhất là văn xuôi
thường có một đoạn văn hoặc một chi tiết nghệ thuật đặc sắc để lại rất nhiều dư vị
trong lòng người đọc đồng thời cũng thể hiện tài năng nghệ thuật của nhà văn.Bởi có
thể nói điểm sáng văn chương chính là gan ruột và sự tìm tòi, sáng tạo để đưa đến cho
người đọc sự thú vị nhất và cũng nhằm bộc lộ rõ nhất tư tưởng, tình cảm của nhà văn.
Ví dụ như: Cảnh đoàn tàu đi qua phố huyện lúc đêm khuya ( Hai đứa trẻ - Thạch
Lam), Cảnh cho chữ ( Chữ người tử tù - Nguyễn Tuân), Hồn quê trong Tràng giang
của Huy Cận; Hình ảnh đôi bàn tay Tnú ( Rừng xà nu - Nguyễn Trung Thành)
* Sau khi các em đã nắm được kiến thức của các bài đọc văn, giáo viên sẽ hệ thống
các kiểu đề bài của văn bản đó, học sinh nắm bắt được các dạng đề bài và về nhà thực
hành để vừa khắc sâu kiến thức vừa thuần thục trong kĩ năng làm một bài văn.
2. Hệ thống kiến thức các bài đọc văn theo từng giai đoạn, mảng đề tài, xu hướng,
trào lưu, thể loại.
a. Hệ thống theo từng giai đoạn:
* Hệ thống lại, hoàn cảnh lịch sử, xã hội ,nội dung, đặc điểm cơ bản của văn học Việt
Nam hiện đại qua từng giai đoạn với mục đích:
- Giúp học sinh nắm kiến thức một cách khái quát nhất về một giai đoạn văn học,
đó sẽ là cơ sở ở học sinh nắm bắt các bài đọc văn được sáng tác trong giai đoạn ấy
một cách bài bản, khoa học, sâu sắc nhất. Ngược lại, khi giáo viên giảng các bài đọc
văn cụ thể cần gắn với nét chính của giai đoạn văn học ấy và xem đó như một dẫn
chứng làm sáng tỏ phần nào giai đoạn văn học. Rõ ràng đó là một mối quan hệ hữu cơ
với nhau và nó sẽ phục vụ rất nhiều cho việc làm một bài văn Nghị luận về một ý kiên

b. Hệ thống theo trào lưu, xu hướng văn học.
- Giáo viên phải giúp học sinh phương pháp nắm bắt từng văn bản cụ thể trên tinh
thần của từng trào lưu, xu hướng văn học. Để học sinh vừa nắm được đặc trưng, xu
hướng của từng trào lưu văn học, có nghĩa từ đó các em có thể làm sáng tỏ nó ở từng
tác phẩm cụ thể .Ví dụ như: Với phong trào thơ mới là tinh thần của nó chính là ở cái
tôi cá nhân với sự giải phóng về tình cảm, cảm xúc và về trí tưởng tượng; Văn học
hiện thực phê phán chính là ở nhân vật điển hình và tính cách điển hình cho một giai
cấp, tầng lớp người nào đó; văn xuôi chống Mĩ là đề cập đến chất sử thi và chủ nghĩa
anh hùng cách mạng; Văn học sau năm 1975 mang cảm hứng thế sự - đời tư
c. Hệ thống theo thể loại văn học.
Giáo viên giúp học sinh hệ thống các bài đọc văn có cùng một thể loại, bởi khi đã
cùng chung một thể loại thường có những nét tương đồng về nghệ thuật. Cùng với
việc học sinh đã nắm kĩ từng văn bản, học sinh có thể so sánh nét giống nhau và khác
nhau để chỉ ra sự độc đáo trong nghệ thuật sáng tạo của nhà văn. Ví dụ bài Tùy bút
Người lái đò sông Đà ( Nguyễn Tuân) và bài Bút kí Ai đã đặt tên cho dòng sông
( Hoàng Phủ Ngọc Tường) ta có thể nhận thấy chúng có nét tương đồng của thể kí.Đó
là bằng ngòi bút phóng khoáng, tự do các nhà văn thoải mái ghi chép lại những sự vật,
sự việc, con người cụ thể bằng phong cách nghệ thuật tài hoa, uyên bác.
V. Hệ thống các khái niệm thuộc về phần lí luận văn học.
Khi học sinh làm bài văn về một vấn đề trong tác phẩm văn học, hay xử lí một đề
bài tổng hợp mà trong đó có chứa đựng khái niệm bắt buộc các em phải hiểu và giải
thích được khái niệm rồi sau đó mới đi phân tích làm sáng tỏ. Các khái niệm đó trong
quá trình giảng dạy giáo viên cũng đã cung cấp nhưng cụ thể thành khái niệm, lời văn
như thế nào, giáo viên phải cho học sinh nắm lại. Các khái niệm đó là:
- Tình huống truyện.
- Tiềm tàng, tiềm ẩn.
- Tình huống truyện.
- Yêu nước.
- Nhân đạo.
- Cái tôi cá nhân.

tính chất lịch sử tháng 10 - 1954 Trung ương Đảng quyết định
rời chiến khu Việt Bắc về lại thủ đô Hà Nội,Tố Hữu đã sáng
tác bài thơ Việt Bắc .
- Bài thơ đã nói lên được tình nghĩa thắm thiết với Việt Bắc
quê hương cách mạng, với nhân dân và cuộc kháng chiến gian
khổ của người cán bộ cách mạng. Tất cả nay đã thành kỉ niệm
sâu nặng, để trong niềm vui không quên những cội nguồn của
thắng lợi, không quên những ngày gian khổ và nghĩa tình gắn
bó, để càng tin tưởng ở tương lai.
2. Nghệ thuật : Việt Bắc tiêu biểu cho giọng thơ tâm tình
ngọt ngào tha thiết của TH và nghệ thuật biểu hiện giàu
tính dân tộc trong thơ ông.
a. Thể thơ lục bát truyền thống được vận dụng tài tình trong
một bài thơ dài, vừa tạo được âm hưởng chung thống nhất vừa
thể hiện một sự biến hóa đa dạng, không nhàm chán cho người
đọc. Để rồi suối nguồn tình cảm cứ tuôn chảy dạt dào dưới
ngòi bút của ông.
b. Kết cấu đối đáp: Diễn biến tâm trạng được tổ chức theo lối
đối đáp giao duyên trong ca dao - dân ca: bên hỏi, bên đáp,
người bày tỏ, người hô ứng.Hỏi và đáp điều mở ra bao nhiêu
kỷ niệm về cách mạng và kháng chiến gian khổ mà anh hùng,
bao nỗi niềm nhớ thương.Thực ra, bên ngoài là đối đáp, còn
bên trong là lời độc thoại, là biểu hiện tâm tư tình cảm của
chính nhà thơ, của những người tham gia kháng chiến. Nên
vừa có sự biến đổi linh hoạt , vừa như phân thân, hóa thân của
chính nhân vật trữ tình vào hai đại từ mình- ta.
c.Những lối nói giàu hình ảnh, cách chuyển nghĩa truyền thống
như so sánh, ẩn dụ được sử dụng thích hợp: Nhớ gì như nhớ
người yêu; Nhớ hoa cùng người nhằm gợi hình ảnh và giàu
biểu cảm, cảm xúc cho câu thơ.

a/ Yêu cầu về kĩ năng:
Biết cách làm bài nghị luận xã hội về một hiện tượng đời
sống. Sử dụng linh hoạt phương pháp: Giải thích, phân tích,
bình luận. Lập luận chặt chẽ, thuyết phục, diễn đạt lưu loát,
không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp.
b/ Yêu cầu về kiến thức:
Thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng cần
đảm bảo các ý sau:
- Vấn đề cần nghị luận: Sự thiếu thốn khó khăn của mình
chẳng thấm gì nếu so với những khổ đau, bất hạnh của nhiều
người khác trong cuộc sống.
0,5
- Nội dung cần nghị luận:
* Giải thích hai hình ảnh đối lập nhau: “không có giày để đi”
và “không có chân để đi giày”
+ “Không có giày để đi”: là sự thiếu thốn, khó khăn về vật
chất (tức là nói về hoàn cảnh nghèo khó)
+ “Không có chân để đi giày”: là nỗi bất hạnh nghiệt ngã
của số phận (nỗi đau về thể xác và tâm hồn)
=> Ý nghĩa của lời tâm sự: Cuộc sống có muôn vàn khổ đau và
bất hạnh, sự thiếu thốn của bạn chẳng thấm vào đâu khi so với
nỗi bất hạnh của nhiều người của nhiều người khác. Hãy thấy
mình còn là người may mắn để biết chia sẻ và cố gắng vươn
lên và không bao giờ được cúi đầu tuyệt vọng trước những bất
hạnh, những chông gai trong cuộc sống.
* Phân tích, bình luận:
+ Người ta khóc là khi trạng thái tâm hồn xúc động, đau buồn,
có khi vui quá cũng khóc. Nữ sĩ khóc vì hoàn cảnh túng thiếu
của mình “không có giày để đi” bà đã khóc mãi cho đến khi bà
nhìn thấy một người không có cả đôi chân để đi giày→bà đã

hiến nhiều hơn. Tương lai của mỗi người phụ thuộc vào sự nỗ
lực của bản thân
1.0
1.0
III Cần đảm bảo được các yêu cầu sau: 10
a, Yêu cầu về hình thức:
- Biết cách viết một bài văn nghị luận văn học
- Bài viết đảm bảo một văn bản hoàn chỉnh, trình bày rõ ràng,
mạch lạc. Văn viết không sai phạm về dùng từ, ngữ pháp.
b, Yêu cầu về nội dung:
a. Giới thiệu khái quát về tác phẩm Người lái đò sông Đà
và tác phẩm Ai đã đặt tên cho dòng sông?.
- Người lái đò sông Đà: Là tùy bút đặc sắc , in trong tập Sông
Đà, Nguyễn Tuân đi tìm chất vàng của thiên nhiên và chất
vàng mười đã qua thử lửa trong tâm hồn người lao động miền
Tây Bắc.
- Ai đã đặt tên cho dòng sông?: Là bút kí viết về vẻ đẹp của
dòng sông Hương, qua đó ca ngợi vẻ đẹp của một vùng văn
hóa xứ sở và con người xứ Huế.
=> Đều là thể kí in đậm phong cách nghệ thuật tài hoa, uyên
bác của hai nhà văn
Gợi ý:
b.Giải thích khái niệm Phong cách nghệ thuật:
- Là một phạm trù thẩm mĩ, chỉ sự thống nhất tương đối ổn
định của hệ thống hình tượng của các phương tiện biểu hiện
0,5
0,5
0,5
nghệ thuật, nói lên cái nhìn độc đáo trong các sáng tác của nhà
văn, trong tác phẩm riêng lẻ, trong trào lưu văn học hay văn

+ SĐ : NT sử dụng kiến thức của nhiều ngành khi miêu tả
con sông Đà như : địa lí, quân sự, điện ảnh, võ thuật và tài
hoa ở cách sử dụng ngôn từ: nhiều từ ngữ độc đáo mới lạ, sử
dụng nghệ thuật liên tưởng, tưởng tượng, so sánh, nhân hóa.
0,25
0,25
0,5
0,5
0,5
1.0
1.0
+ AĐ ĐTCDS: HPNT am hiểu về các lĩnh vực địa lí, lịch
sử, văn hóa, thi ca và miêu tả dòng sông bằng bút pháp
nghệ thuật miêu tả đặc sắc như: liên tưởng, tưởng tượng, so
sánh nhân hóa.
e.Nét khác biêt: Thể hiện cá tính sáng tạo độc đáo:
a. Nguyễn Tuân với Người lái đò sông Đà: Nghiêng về
phát hiện và diễn tả những hiện tượng đập mạnh vào giác
quan người đọc ( Phân tích con sông Đà Hung bạo và cuộc
chiến giữa người lái đò với con sông).
b. Hoàng Phủ Ngọc Tường với Ai đã đặt tên cho dòng
sông?: Thiên về chất thỏ trữ tình dịu ngọt ( Phân tích sông
Hương để nhận thấy).
g. Đánh giá nhận xét.
- Họ đều là những nhà văn tài năng, tâm huyết với nghề, có
tâm với nghề.
- Có tình yêu quê hương đất nước thiết tha.
1.0
1.0
1.0

nhau. Phòng ăn vang tiếng ca hát, nói cười vui vẻ.
(Theo internet)
Anh/chị suy nghĩ như thế nào trước những điều anh ký giả trông thấy ?
Câu 3 ( 10 điểm) : Số phận bi thảm và vẻ đẹp tiềm ẩn trong tâm hồn người phụ nữ
Việt Nam qua ba nhân vật Mị trong Vợ chồng A Phủ ( Tô Hoài), người vợ nhặt
trong Vợ nhặt ( Kim Lân) , người đàn bà hàng chài trong tác phẩm Chiếc thuyền
ngoài xa ( Nguyễn Minh Châu).
Hướng dẫn chấm:

U
YÊU CẦU ĐIỂ
M
I Học sinh cần nêu được các ý chính sau: 4,0
* Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm, vị trí khổ thơ và vấn
đề cần nghị luận.
* Giải thích ngắn gọn khái niệm cổ điển và hiện đại : Cổ điển là
cách sử dụng đề tài, thể thơ,thi liệu, tứ thơ của thơ cổ, còn hiện
đại chính là tinh thần của thơ mới, đó là cái tôi cá nhân.
* Vẻ đẹp cổ điển của khổ thơ:
- Màu sắc cổ điển hiện rõ ở các hình ảnh: mây, núi, cánh chim,
bóng chiều.
+ Hình ảnh: "Lớp lớp mây cao đùn núi bạc" khiến người đọc liên
tưởng tới hai câu thơ của Đỗ Phủ trong bài Thu hứng:
Giang gian ba lãng kiêm thiên dũng
Tái thượng phong vân tiếp địa âm
(Lưng trời sóng gợn lòng sông thẳm
Mặt đất mây đùn cửa ải xa)
Lớp lớp mây trắng "đùn" lên, chồng lên nhau thành những núi
mây. Ánh hoàng hôn chiếu vào như dát bạc, núi mây trở thành
núi bạc. Cảnh tượng thật hùng vĩ nhưng không vì thế mà nỗi sầu

mãi đi vào lòng người với phong cách tiêu biểu rất "Huy Cận",
với vẻ đẹp cổ điển trang nhã sâu lắng và vẻ đẹp hiện đại mang
nặng một tấm lòng yêu nước, yêu quê hương thầm kín.
0,5
0,75
0,25
II Cần đảm bảo được các yêu cầu sau: 6
điểm
a/ Yêu cầu về kĩ năng:
Biết cách làm bài nghị luận xã hội về một hiện tượng đời
sống. Sử dụng linh hoạt phương pháp: Giải thích, phân tích, bình
luận. Lập luận chặt chẽ, thuyết phục, diễn đạt lưu loát, không
mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp.
b/ Yêu cầu về kiến thức:
Thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng cần
đảm bảo các ý sau:
- Vấn đề cần nghị luận: Dù sống ở đâu, noi cuộc sống giàu có
hay nơi thiếu thốn về vật chất nhưng tình người mới là quan
trọng để con người sống có tính cộng đồng, sống cho nhau và vì
nhau.
- Nội dung cần nghị luận:
* Giới thiệu và phân tích vấn đề xã hội đặt ra trong truyện:
Trong truyện là hai cảnh tượng trái ngược nhau mà anh kí giả
nhận thấy:
0,5
- Địa ngục là nơi giàu có về vật chất nên mọi người có những
bữa ăn ngon, sơn hào hải vị. Nhưng ai cũng gày còm, ốm yếu, da
bọc xương vì sống ích kỉ, thiếu tình yêu thương, quan tâm, chăm
sóc lẫn nhau . Điều đó thể hiện qua những bữa ăn: muỗng, thìa
dài không thể cho thức ăn vào miệng, thức ăn rơi vãi . Rồi thậm

đồng, sống cho nhau và vì nhau đó mới là giá trị đích thực của
cuộc sống. Làm được điều đó cá nhân mỗ người sẽ thấy cuộc
1.0
1.0
1.0
1.0
1.0
sống này có ý nghĩa hơn. Hơn thế nữa chúng ta sẽ góp phần làm
cho cuộc đời này người gần người và yêu thương người hơn.
0,5
III Cần đảm bảo được các yêu cầu sau: 10
a, Yêu cầu về hình thức:
- Biết cách viết một bài văn nghị luận văn học
- Bài viết đảm bảo một văn bản hoàn chỉnh, trình bày rõ ràng,
mạch lạc. Văn viết không sai phạm về dùng từ, ngữ pháp.
b, Yêu cầu về nội dung:
* Giới thiệu vấn đề:
- Người phụ nữ xuất hiện trong văn học xưa nay dù được hưởng
niềm vui và hạnh phúc trọn vẹn hay đau khổ tủi nhục vẫn luôn
làm rung động trái tim người đọc. Người đọc cùng đau buồn cảm
thông, chia sẻ với nỗi đau khổ bất hạnh của họ, nhưng người đọc
vui cùng niềm vui và trân trọng vẻ đẹp trong tâm hồn của họ.
- Ba nhân vật nữ : Mị trong Vợ chồng A Phủ( Tô Hoài), Người
vợ nhặt trong Vợ nhặt( Kim Lân), Người đàn bà hàng chài trong
Chiếc thuyền ngoài xa ( Nguyễn Minh Châu), họ đều có số phận
bi thảm nhưng đằng sau nỗi khổ đó vẫn tiềm ẩn sâu trong họ vẻ
đẹp tâm hồn, dù mỗi người một vẻ khác nhau nhưng tựu trung lại
là vẻ đẹp của người phụ nữ Việt nam.
* Hoàn cảnh của từng nhân vật: Ba tác phẩm ra đời trong ba thời
điểm khác nhau, phản ánh số phận con người trong mỗi hoàn

- Cuộc đời làm dâu gạt nợ là cuộc đời tôi tớ. Mị sông tăm tối,
nhẫn nhục , cam chịu, trỏi tim chai sạn, nguội lạ nh
* Người vợ nhặt: nghốo khổ, đúi rỏch, đỏnh mất cả sĩ diện vỡ
miếng ăn và theo khụng anh Tràng về làm vợ => nghốo khổ, tợn
tạo, liều lĩnh.
* Người đàn bà hàng chài : Số phận cực khổ, cam chịu, nhẫn
nhục:
- Ngoài 40 tuổi, to lớn, thụ kệch, rỗ mặt, “khuụn mặt mệt
mỏi”, cuộc đời nghốo khổ, lam lũ, vỡ đụng con.
-Bị chồng đỏnh đập “ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một
trận nặng” nhưng vẫn cam chịu “khụng hề kờu một tiếng, khụng
chống trả, khụng tỡm cỏch chạy trốn”,coi đú là lẽ đương nhiờn,
sẵn sàng chịu đựng tất cả
- Người đàn bà đó từ chối lời đề nghị và sự giỳp đỡ của chỏnh
ỏn Đẩu và nghệ sĩ Phựng: van nài toà “Quý toà bắt tội con cũng
được, phạt tự con cũng được, đừng bắt con bỏ nú”
b. Vẻ đẹp tiềm ẩn trong tõm hồn.
* Giải thớch khỏi niệm vẻ đẹp tiềm ẩn: Đú là vẻ đẹp ẩn sõu
bờn trong tõm hồn con người mà khụng dễ gỡ nhận thấy .
Chỳng ta phải khỏm phỏ, phỏt hiện bằng chớnh rung cảm
0,25
0,25
0,25
0,25
0,25
0,75
0, 25
0, 25
của trỏi tim mỡnh , bằng tõm hồn mỡnh mới thấy hết được
vẻ đẹp đú của nhõn vật.

chồng ; biết “ngồi mớm xuống mép giường”, biết “điềm nhiên và
vào miệng” bát cháo cám đắng chát.
- Người phụ nữ âm thầm khao khát cháy bỏng được sống và
sống hạnh phúc: Theo không Tràng về làm vợ là rất liều lĩnh,
song chính sự liều lĩnh ấy đã đem đến cho họ một trang đời mới,
0, 25
0, 25
0, 5
0, 25
0, 5
0, 5
bất ngờ, đầy hạnh phúc: Thị đã đem đến cho Tràng một cuộc
sống bình dị hạnh phúc ; Người vợ nhặt mang lại niềm vui ,hạnh
phúc miềm hi vọng tương lai trên gương mặt bà cụ Tứ - người
mẹ nghèo khổ ; Khi đã có mái ấm gia đình, vẻ đẹp tình người ,
mái ấm gia đình người vợ nhặt đã thay đổi kì diệu : Vợ đảm
,dâu hiền hậu đúng mực.
* Người đàn bà hàng chài: Đằng sau cái vẻ bề ngoài thô kệch,
xấu xí và sự cam chịu ấy là vẻ đẹp thật đáng trân trọng:
-Người đàn bà thất học nhưng rất hiểu cuộc đời: hiểu thiên chức
làm mẹ, giàu đức hy sinh phải sống cho con chứ không thể sống
cho mình vì thế “ đám đàn bà hàng chài ở thuyền chúng tôi cần
phải có người đàn ông để chèo chống khi phong ba, để cùng làm
ăn nuôi nấng đặng một sấp con mà nhà nào cũng trên dưới chục
đứa. Ở chị là tình thương con vô bờ Vui nhất là lúc ngồi nhìn
đàn con tôi chúng nó được ăn no…”
- Giàu lòng vị tha, nhân hậu – chắt chiu hạnh phúc đời thường –
nhìn đời một cách sâu sắc : Cũng có những lúc: “trên chiếc
thuyền cũng có lúc vợ chồng con cái chúng tôi sống hoà thuận,
vui vẻ”.Trong đau khổ triền miên, người đàn bà ấy vẫn chắt lọc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status