Vai trò của thuế đối với ngân sách nhà nước (NSNN) - Pdf 26

GVHD: Cô Triệu Kim Lanh. Tiểu Luận
SVTH: Huỳnh Đức Lâm Hiếu.
Lê Xuân Trường.

BÀI TIỂU LUẬN MÔN THUẾ
Câu 1: Vai trò của thuế đối với ngân sách nhà nước (NSNN):
Pháp luật thuế là công cụ chủ yếu và lâu dài của Nhà nước nhằm huy
động tập trung một phần của cải vật chất trong xã hội vào ngân sách Nhà nước. Ngân sách
có thể huy động bằng nhiều cách khác nhau như đi vay, bán tài nguyên thiên nhiên, nhận
viện trợ, in tiền…nhưng không có nguồn thu nào mang tính chất bền vững như thuế. Thuế
chính là công cụ tác động vào sự phân bổ nguồn lực trong xã hội.Thuế gắn liền với sự tồn
tại và phát triển của nhà nước và là công cụ quan trọng mà bất cứ quốc gia nào cũng sử
dụng để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình. Thuế là khoản thu bắt buộc, không bồi
hoàn trực tiếp của nhà nước đối với các tổ chức cá nhân nhằm trang trải mọi chi phí về
mục đích chung. Doanh thu từ thuế sẽ được sủ dụng để trang trải cho các hoạt đông đầu
vào cần thiết để sản xuất các hang hóa và dịch vụ công của chính phủ.
Mặt khác:
Nhà nước ban hành pháp luật thuế và ấn định các loại thuế áp dụng đối
với các pháp nhân và thể nhân trong xã hội.Việc các chủ thể nộp thuế - thực hiện nghĩa vụ
nộp thuế theo quy định của pháp luật thuế đã tạo ra nguồn tài chính quan trọng, chiếm tỷ
trọng lớn trong cơ cấu nguồn thu ngân sách Nhà nước.
Cũng như pháp luật nói chung, Pháp luật thuế có chức năng điều chỉnh
các quan hệ xã hội. Mục đích chủ yếu và quan trọng nhất cuả sự điều chỉnh quan hệ pháp
luật thu - nộp thuế là nhằm tạo lập qũy ngân sách Nhà nước. Hầu hết ở các quốc gia, thuế
là hình thức chủ yếu mà pháp luật quy định để thu ngân sách Nhà nước.
Một nền tài chính quốc gia lành mạnh phải dựa chủ yếu vào nguồn thu
nội bộ của nền kinh tế quốc dân. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, xuất phát từ phạm
vi hoạt động mà đòi hỏi Nhà nước phải ban hành và tổ chức thực hiện pháp luật thuế để tập
Lớp ĐH23KT02.
1
GVHD: Cô Triệu Kim Lanh. Tiểu Luận

Thuế TNDN phải nộp theo
thuế
= Thu nhập chịu thuế
TNDN
X Thuế suất thuế TNDN hiện
hành (t%)
Lớp ĐH23KT02.
2
GVHD: Cô Triệu Kim Lanh. Tiểu Luận
SVTH: Huỳnh Đức Lâm Hiếu.
Lê Xuân Trường.
Tình huống này chỉ xảy ra khi có sự khác nhau giữa quy định của thuế và quy định của kế
toán (Thái độ nhằm phá vỡ liên kết giữa kế toán và thuế)
Nguyên nhân xảy ra sự chênh lệch là do cách xác định khác nhau như sau:
Chỉ tiêu Theo quy định của kế toán Theo quy định của Thuế
Doanh thu Tổng giá trị các lợi ích kinh tế
của Doanh nghiệp thu được
trong kỳ kế toán góp phần
làm tăng vốn chủ sở hữu, phát
sinh từ các hoạt động sản xuất
kinh doanh thông thường của
doanh nghiệp. Thoả mãn 5
điều kiện theo chuẩn mực kế
toán số 14
Toàn bộ tiền bán hàng, tiền gia
công, tiền cung ứng dịch vụ
bao gồm cả trợ giá và phụ thu,
phụ trội mà cơ sở kinh doanh
được hưởng. Doanh nghiệp đã
phát hành hoá đơn hoặc dịch

Theo tỷ lệ quy định
Mức trích Quỹ dự phòng về
trợ cấp mất việc làm từ 1% -
3% trên quỹ tiền lương
Phân bổ chi phí của công ty
Mẹ ở nước ngòai
Là chi phí Quy định cụ thể phương pháp
tính
Chi phí không có hoá đơn,
chứng từ theo quy định
Là chi phí Không được coi là chi phí
Tiền phạt Là chi phí Không được coi là chi phí
Thu nhập sau thuế từ góp vốn
Liên doanh, cổ phần
Doanh thu Không được tính là doanh thu

Có hai loại chênh lệch giữa kế toán và thuế, đó là chênh lệch vĩnh viễn
và chênh lệch tạm thời
(1). Chênh lệch vĩnh viễn là chênh lệch giữa lợi nhuận kế toán và thu
nhập chịu thuế TNDN phát sinh từ các khoản Doanh thu, thu nhập khác, chi phí được ghi
vào lợi nhuận kế toán nhưng không được tính vào thu nhập, chi phí khi tính thu nhập chịu
thuế TNDN. Hoặc ngược lại, các khoản Doanh thu, thu nhập khác, chi phí đựơc tính vào
thu nhập chịu thuế TNDN nhưng không được tính vào lợi nhuận kế toán. Ví dụ:
- Lãi cổ tức, lãi từ trái phiếu doanh nghiệp nhận được là khoản thu nhập
không chịu thuế và được loại trừ toàn bộ ra khỏi thu nhập chịu thuế TNDN.
- Các khoản được tài trợ, biếu tặng phải nộp thuế trên giá trị các khoản
tài trợ, biếu tặng này nhưng kế toán không được xem là phần lợi nhuận kế toán mà phải ghi
tăng nguồn vốn.
Lớp ĐH23KT02.
4

có nhiều chính sách biện pháp để thúc đẩy việc sử dụng hóa đơn như: Chính sách thanh
toán không dùng tiền mặt, bán hóa đơn lẻ và nhất là khuyến khích sử dụng hóa đơn tự in...
Các doanh nghiệp cũng thấy rằng sử dụng hóa đơn trong mua bán hàng hóa, cung ứng dịch
vụ không những sẽ làm cho việc xác định số thuế TNDN chính xác, phù hợp hơn với lợi
nhuận thực tế mà còn là biện pháp làm lành mạnh tình hình tài chính doanh nghiệp, giám
sát được chi phí để hạ giá thành sản phẩm hàng hóa, dịch vụ.
Câu 4 : Thuế chống phá giá được áp dụng khi nào? Các biện pháp
tự vệ về thuế là như thế nào? ở Việt Nam hiện nay có áp dụng hay không?
Lớp ĐH23KT02.
5
GVHD: Cô Triệu Kim Lanh. Tiểu Luận
SVTH: Huỳnh Đức Lâm Hiếu.
Lê Xuân Trường.
Thuế chống bán phá giá là loại thuế được các quốc gia đặt ra để bảo vệ
lợi ích cùa cùa các chủ thể trong nội địa trước sự cạnh tranh với các chủ thể bên ngoài.
Hiệp định về Chống bán Phá giá là một trong những hiệp định của Tổ chức Thương mại
Thế giới (WTO) được ký kết tại Vòng đàm phán Uruguay.
Đầu tiên ta nên hiểu một số vần đề:
Bán phá giá là gì?
Bán phá giá trong thương mại quốc tế là hiện tượng xảy ra khi một loại
hàng hóa được XK với giá thấp hơn giá bán của mặt hàng đó tại thị trường nội địa nước
XK. Như vậy có thể hiểu đơn giản là nếu giá XK của một mặt hàng thấp hơn giá nội địa
của nó thì sản phẩm đó bị coi là bán phá giá. Ví dụ: lạc nhân của nước A bán tại thị trường
nước A với giá (X) nhưng lại được XK sang nước B với giá (Y) (Y<X) thì xảy ra hiện
tượng bán phá giá đối với sản phẩm này XK từ A sang B.
Tại sao bán phá giá?
Có nhiều nguyên nhân dẫn tới hiện tượng bán phá giá trong thương mại
quốc tế. Nhiều trường hợp cố tình bán phá giá nhằm đạt được những lợi ích nhất định như:
Bán phá giá để loại bỏ các đối thủ cạnh tranh trên thị trường nước NK từ đó chiếm thế độc
quyền; Bán giá thấp tại thị trường nước NK để chiếm lĩnh thị phần; Bán giá thấp để thu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status