NHỮNG vấn đề sức KHỎE môi TRƯỜNG của xã hội HIỆN đại - Pdf 26

NHỮNG VẤN ĐỀ SỨC KHỎE
MÔI TRƯỜNG CỦA XÃ HỘI HIỆN ĐẠI
Mục tiêu:
1. Trình bày được xu hướng phát triển kinh tế xã hội
2. Trình bày được các yếu tố nguy cơ phát sinh từ các mô hình phát triển
hiện đại ảnh hưởng đến vấn đề sức khỏe.
3. Trình bày được các vấn đề sức khỏe liên quan đến phát triển hiện đại
4. Trình bày được các biện pháp dự phòng vấn đề sức khỏe hiện đại
Nội dung:
1. Tổng quan tình hình dịch tễ các bệnh, xu hướng gia tăng trong môi
trường hiện đại.
1.1. Dịch tễ hoc bệnh ung thư
Bệnh ung thư được coi là một trong những chứng bệnh nan y nguy hiểm
được phát hiện với số ca mắc bệnh ngày càng gia tăng trên thế giới. Không ít giả
thuyết cho rằng: ung thư là căn bệnh phát sinh do lối sống, lối sinh hoạt thiếu
khoa học của con người.
Với số lượng bệnh nhân được phát hiện là mắc bệnh ung thư và số ca tử
vong do ung thư tăng đột biến trong một vài năm trở lại đây, ung thư đã được
xem là căn bệnh của xã hội thời hiện đại.
TS. Rosalie David – trường đại học Manchester – Anh và TS. Michael
Zimmermann – trường đại học Villanova trong nghiên cứu của mình đã khẳng
định: cuộc sống xã hội thời hiện đại đã góp phần đẩy mạnh sự hình thành của
nhiều yếu tố gây bệnh ung thư. Các loại hoá chất độc hại từ các sản phẩm gia
dụng, tia cực tím, khói bụi công nghiệp, môi trường sống bị ô nhiễm, thói quen
sinh hoạt thiếu khoa học, bia rượu, thuốc lá… đã đẩy nhanh số ca mắc bệnh ung
thư trên khắp thế giới. tình trạng bệnh ung thư gia tăng như hiện nay xuất phát từ
lối sống thiếu khoa học và tác động từ môi trường sống, thực phẩm ăn uống đang
tiềm ẩn nhiều yếu tố gây biến đổi tế bào trong cơ thể.
Thói quen nghiện thuốc lá là một trong những yếu tố làm gia tăng ung thư
hàng đầu thế giới. Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới, 1/4 tổng số bệnh
nhân mắc ung thư hiện nay trên toàn cầu là do ảnh hưởng của thuốc lá. Trong

Theo thống kê của Tổ chức ung thư Liên hợp quốc, tới năm 2030, số các
trường hợp mắc ung thư trên thế giới sẽ tăng gấp nhiều lần con số hiện nay và số
các trường hợp tử vong do ung thư sẽ nhiều gấp đôi con số đã được thống kê trên
thế giới vào năm 2008. Theo ước tính này, số người bị tử vong do ung thư sẽ lên
tới khoảng hơn 13,2 triệu người vào năm 2030.
Hiệp hội nghiên cứu ung thư quốc tế – IARC cũng cho biết khoảng 21,4
triệu trường hợp mắc mới ung thư sẽ được phát hiện vào năm 2030 và sẽ tập
trung chủ yếu tại các nước nghèo – nơi có mức sống thấp và tỉ lệ mắc bệnh tật
cao nhất thế giới.
1.2. Dịch tễ học bệnh tăng huyết áp (THA)
THA là một bệnh mạn tính phổ biến nhất trên thế giới. THA không chỉ có
ảnh hưởng lớn đến gánh nặng bệnh lý tim mạch mà cũng có ảnh hưởng nhiều
đến gánh nặng bệnh tật toàn cầu. Theo tài liệu của Tổ chức Y tế Thế giới
(WHO), HA là một trong sáu yếu tố nguy cơ chính ảnh hưởng tới phân bố gánh
nặng bệnh tật toàn cầu.
Tần suất THA trong cộng đồng ngày càng gia tăng và hiện tại đang ở mức
rất cao, đặc biệt ở các nước phát triển. Tại các nước đang phát triển có hình thái
bệnh tật chuyển đổi từ các bệnh nhiễm trùng là chủ yếu sang các bệnh không lây
truyền là chính. Tần suất THA là 28,7% ở Hoa Kỳ (2000); 22% ở Canada
(1992); 45,9% ở CuBa; 38,8% ở Anh (1998); 38,4% ở Thuỵ Điển (1999); 26,3%
ở Ai Cập (1991); 15,4% ở Cameroon (1995); 27,2% ở Trung Quốc (2001);
20,5% ở Thái Lan (2001); 26,6% ở Singapore (1998).
Tỷ lệ THA tại Việt Nam đang ngày càng gia tăng. Theo thống kê của GS.
Đặng Văn Chung năm 1960, tần suất THA ở người lớn phía Bắc Việt Nam chỉ là
1% và hơn 30 năm sau (1992), theo điều tra trên toàn quốc của Trần Đỗ Trinh và
cộng sự thì tỷ lệ này đã là 11,7%, tăng lên hơn 11 lần và mỗi năm tăng trung
bình 0,33%. Và 10 năm sau (2002), theo điều tra dịch tễ học THA và các yếu tố
nguy cơ tại 4 tỉnh phía Bắc Việt Nam ở người dân lớn hơn hoặc bằng 25 tuổi thì
tần suất THA đã tăng đến 16,3%, trung bình mỗi năm tăng 0,46%. Như vậy, tốc
độ gia tăng về tỷ lệ THA trong cộng đồng ngày càng tăng cao. Tỷ lệ THA ở

Tình hình bệnh đái tháo đường loại II (ĐTĐ) hiện nay ở châu Á được phổ
biến trên tạp chí JAMA số 20 ngày 27.5.2009 đã cho thấy ĐTĐ đang có khuynh
hướng tăng cao. Kết quả nghiên cứu cho biết trong vòng 3 thập kỷ qua, ĐTĐ
đã tăng lên gấp bội ở châu Á, nhất là ở khu vực thành thị. So với tốc độ phát
triển bệnh tương ứng với những thay đổi về điều kiện kinh tế và lối sống, trong
khi châu Âu cần trải qua 200 năm thì châu Á chỉ có 50 năm[i]. Phần đông người
bệnh có vòng bụng to và tỷ lệ mỡ cao dù chỉ số khối thân thể BMI thấp hơn so
với người châu Âu. Trong khi ĐTĐ xảy ra ở những người từ 60 đến 79 tuổi ở
phương Tây thì ở châu Á bệnh phát triển ở độ tuổi từ 20 đến 59 và đang có
khuynh hướng trẻ hoá.
Nhóm tác giả nghiên cứu, J.C.N. Chan và các cộng sự đặc biệt nhấn mạnh
không chỉ tỷ lệ người bệnh cao mà tỷ lệ người ĐTĐ nhưng không được chẩn
đoán và điều trị cũng tăng cao. Báo cáo cho biết có đến 2/3 người ĐTĐ ở Trung
Quốc và ½ người ĐTĐ ở Hong kong và Đài loan không được chẩn đoán. Theo
thống kê năm 2007, Ấn độ có tỷ lệ người ĐTĐ cao nhất, kế đến là Trung Quốc.
ĐTĐ là nổi ám ảnh của nhiều người lớn tuổi và gây tốn kém nhiều cho xã
hội, không chỉ là chi phí điều trị mà là những biến chứng nguy hiểm ở nhiều cơ
quan như tim, thận, não, mắt hoặc hoại thư ở các chi. Ước tính đến năm 2025 sẽ
có khoảng 380 triệu người trên thế giới mắc bệnh ĐTĐ thì có đến 60% số người
thuộc châu Á. Do đó, các nhà khoa học cho rằng những nước phát triển cần có
kế hoạch giáo dục quần chúng về ý thức phòng bệnh và việc thay đổi lối sống để
ngăn chận ĐTĐ, loại bệnh đang được cho là dịch bệnh.
Việt Nam không phải là quốc gia có tỷ lệ ĐTĐ lớn nhất thế giới nhưng
bệnh ĐTĐ ở Việt Nam phát triển nhanh nhất thế giới. Bệnh gia tăng cả về tỷ lệ,
biến chứng và đối tượng mắc bệnh
i
. Thông tin mới nhất cho biết trong vòng 5
năm gần đây, bệnh ĐTĐ ở nước ta tăng nhanh, năm sau cao hơn năm trước 30%.
Nước ta hiện có khoảng 4,5 triệu người bệnh ĐTĐ, 65% trong số này không
biết mình bị mắc bệnh. Chậm trễ trong việc phát hiện và điều trị dễ dẫn đến

thanh thiếu niên, ồn định việc làm cho người dân, giảm cách biệt giầu nghèo
cũng như san bằng bất công trong việc chăm sóc sức khỏe toàn dân.
2.2. Căng thẳng.
Các hoàn cảnh tâm lý xã hội xấu có thể tạo ra các căng thẳng triền miên
cho con người. Họ sẽ trở nên luôn luôn lo sợ , không đối phó được. Chẳng hạn
một việc làm không bảo đảm, một đời sống bấp bệnh, một lo sợ chiến tranh bất
ổn xã hội, những thiếu thốn kém dinh dưỡng. Đó là những yếu tố dẫn đến căng
thẳng tâm lý (stress) là nguy cơ đưa tới bệnh tim mạch, tai biến não, suy giảm
sức đề kháng của cơ thể, tăng trầm cảm, nhiễm trùng, cao huyết áp, bệnh tiểu
đường
Thường thường, khi nói tới căng thẳng tâm thần là ta nghĩ tới dùng thuốc
an thần, giảm buồn để chữa trị. Nhưng đó chỉ là “ đau dâu chữa đấy”. Chính
quyền phải có chương trình ngăn chặn sự xuất hiện các căng thẳng này cho dân
chúng. Bằng hỗ trợ các gia đình có con vị thành niên, khích lệ các sinh hoạt cộng
đồng, loại trừ cô lập xã hội, giảm thiều bất công vật chất tinh thần cũng như tăng
cường giáo dục, khả năng phục hồi, thích nghi với hoàn cảnh xấu
2.3. Chăm sóc ban đầu.
Ðầy đủ dinh dưỡng và an toàn của thai nhi cũng như của đứa bé sau khi
sanh có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển và sức khỏe trong suốt đời người.
Khi mà mẹ ghiền rượu thuốc thì thai nhi bị nhiều khuyết tật. Sinh ra mà cha mẹ
nghèo túng không đủ tiền nuôi nấng dậy dỗ con cái thì con hay bệnh tật, chậm
phát triển cả trí tuệ lẫn thể chất. Và tới tuổi cuối đời thì cũng chịu nhiều ảnh
hưởng xấu.
Do đó, chính quyền cần có các chương trình bảo trợ mẫu nhi, cung cấp
đầy đủ dinh dưỡng cho mẹ và con; hướng dẫn quần chúng về giữ gìn sức khỏe,
phòng ngừa bệnh tật; mở rộng giáo dục học đường để mọi trẻ em có cơ hội học
tập, mở mang kiến thức.
2.3. Ðặc quyền xã hội.
Ðời sống sẽ rút ngắn khi mà phẩm chất của cuộc sống giảm. Sự nghèo
khó, kỳ thị và đặc quyền xã hội có ảnh hưởng lớn tới tình trạng sức khỏe và đưa

giảm, thiếu dinh dưỡng, suy nhược dễ bị bệnh tâm thần cũng như thể chất.
Chính quyền cần có các chính sách ngăn ngừa thất nghiệp, giảm thiểu khó
khăn của công nhân khi mất việc bằng trợ cấp xã hội và tạo công ăn việc làm cho
nhân dân.
2.6.Tương quan hỗ trợ xã hội
Con người không những không thể sống lẻ loi trong cộng đồng mà còn
cần sự hỗ trợ của cộng đồng này. Sự cô lập với xã hội đưa tới trầm cảm, buồn
phiền, bệnh hoạn kinh niên, sớm tử vong.
Nghiên cứu dịch tễ cho hay, quan hệ bạn bè tốt, sự hỗ trợ xã hội thắm thiết
đều nâng cao sức khỏe tại nhà, nơi làm việc cũng như trong cộng đồng.
2.7. Nghiện rượu/thuốc.
Lạm dụng rượu, thuốc lá, thuốc cấm nâng cao tỷ lệ tử vong vì bệnh tật, tai
nạn. Dùng thuốc rượu có thể tạm thời giải tỏa khó khăn về tinh thần, kinh tế
nhưng trong trường kỳ, vấn đề lại trầm trọng hơn. Rượu đưa tới ung thư gan;
thuốc là gây ung thư phổi; thuốc cấm tạo bệnh tâm thần. Ngoài ra ảnh hưởng xấu
của rượu thuốc cũng đưa tới xáo trộn gia đình, tội phạm xã hội.
2.8.Thực phẩm
Dinh dưỡng đầy đủ là yếu tố căn bản cho một sức khỏe tốt. Thiếu thực
phẩm các loại đưa tới suy dinh dưỡng và một số bệnh tật. Mà ăn uống quá độ lại
đưa tới nhiều bệnh về tim mạch, tiểu đường, ung thư, mập phì, sâu răng. Thực
phẩm có nhiều chất béo, đường tinh chế gây ra mập phì nhiều hơn, nhất là ở lớp
người kém lợi tức. Lý do là dân nghèo tiêu thụ nhiều thực phẩm chế biến hơn là
thực phẩm tươi.
Các cơ quan co thẩm quyền và các nhà sản xuất thực phẩm cần lưu ý cung
cấp thực phẩm tươi nhiều chất dinh dưỡng cho người dân, không phân biệt giầu
nghèo; cung cấp các thông tin về thực phẩm, cách thức nấu nướng, chế độ dinh
dưỡng đúng đắn cho mọi người; hỗ trợ sự nuôi trồng, sản xuất để bảo vệ giá trị
tự nhiên của thực phẩm
Kết luận.
Trên khắp thế giới, còn rất nhiều người kém may mắn, không nhận được


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status