NGHIÊN CỨU SỦ DỤNG VẬT LIỆU GIỮ NƯỚC TỪ ACID ACRYLIC VÀ
CELLULOSE CHO CÂY NGÔ VÀ CÀ PHÊ Ở TỈNH GIA LAI
STUDY ON APPLICATION OF RETAINING WATER BASE OF ACID
ACRYLIC AND CELLULOSE FOR CORN AND COFFEE TREE AT GIA
LAI PROVINCE
Nguyễn Cửu Khoa, Hoàng Thị Kim Dung, Trần Ngọc Quyển, Nguyễn Công Trực
Phòng Hoá Hữu cơ –Polime, Viện Công nghệ Hoá học
SUMMARY
Using water storing materials is one of published solutions which supports trees
to get over lack of water in dry season. In our paper, we have experimented our
superabsorbent copolymer for corn-tree and coffee-tree at Gia Lai province.
Results of investigation show that the using new material decreases about 30-50
percentage of water for trees and significantly increases the productivity of corn tree
over 50% and coffee tree about 10-15% (especially, it can get about 400-500% on the
extreme lack of water).
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm gần đây, hạn hán xảy ra ngày càng nghiêm trọng đối với các
tỉnh vùng Tây Nguyên và ven biển Miền Trung. Nhằm góp phần vào chống sa mạc hoá,
tiết kiệm nước, bảo vệ nguồn nước ngầm, nâng cao năng suất cây trồng và nâng cao đời
sống kinh tế-xã hội của đồng bào Tây Nguyên, duyên hải Miền Trung chúng tôi đã nghiên
cứu tổng hợp thành công vật liệu hút nước, giữ ẩm từ acid acrylic-cellulose (CH-03). Bước
đầu thử nghiệm vật liệu trên cho kết quả tốt trên cây ngô, cà phê ở tỉnh Gia Lai.
II. THỬ NGHIỆM
1. Địa điểm và đối tượng thử nghiệm
- Cây ngô vụ 1 tại Trung tâm Nghiên cứu Giống cây trồng- Sở Nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn tỉnh Gia lai.
- Cây cà phê tại Công ty cà phê Chư Păh và Công ty cà phê Gia Lai, tỉnh Gia Lai.
- Cây Bông tại Công ty Bông Chư Sê huyện Chư Sê tỉnh Gia Lai.
2. Bố trí thử nghiệm
Cây cà phê tại Công ty chư Păh:
- Diện tích: 10.000m
Các chỉ tiêu cấu thành năng suất Sâu bệnh
Độ héo
Số cành
Số chùm
quả/cành
Số quả
trên
chùm
Sâu
(%)
Bệnh
(%)
I Đối chứng 45
6 40 <1 <1.5
Không
II
Giảm T gian tưới
1
Sau 4tuần tưới <1 <1.5 Không
Bón 15g 46 6 42
Bón 20g 48 6 45
Bón 25g 50 7 47
2
Sau 5 tuần <1 <1.5 Héo nhẹ
Bón 15g
42
6 41
Bón 20g
44
7 43
42 5 41
Bón 25g
44 6 42
Hình 1: Đối chứng Hình 2: Bón CH-03 4 tuần tưới
Hình 3: Bón CH-03 5 tuần tưới Hình 4: Bón CH-03 6 tuần tưới
Nhận Xét: Theo đánh giá của Cán bộ kỹ thuật Công ty cà phê Gia lai:
- Chất lượng vườn cây xanh tốt có khả năng cho năng suất 17-18 tấn quả tươi/ha
- Ở công thức giảm thời gian tưới sau 6 tuần có héo nhưng ở mức trung bình chưa ảnh
hưởng đến năng suất.
- Ở công thức giảm lượng nước tưới có héo nhưng cây vẫn sinh trưởng và phát triển
tốt, tỉ lệ đậu quả khá.
Kết luận: Khi bón vật liệu CH-03 ở liều lượng 20-25g/ cây và giảm lượng nước tưới
30% cũng như thời gian tưới từ 4 tuần lên 5 lô cà phê thử nghiệm vẫn phát triển tốt và
cho năng suất khá, tiết kiệm được chi phí sản xuất.
2. Thử nghiệm tại Công ty cà phê Chư PăhNhận xét: Kết quả thử nghiệm cho thấy lô đối chứng sau đợt 28 ngày tưới bắt
đầu héo, lô bón 20g sau 38 ngày vẫn còn xanh tốt và năng suất dự kiến tăng 10-20%.
Đối vơi lô bón 40g/cây được bón trên vùng đất cát khô cằn và giữ nước kém thì năng
suất dự kiến tăng 500-600% (1 tấn quả khô những năm trước lên 5-6tấn khi có chế
phẩm) mặc dù điều kiện thời tiết năm nay có nhiều thuận lợi mùa mưa đến sớm.
Kết luận: Khi bón vật liệu ở liều lượng 20g đã giảm được thời gian tưới đáng kể
mà chất lượng của vườn cây thử nghiệm vẫn tốt hơn so với đối chứng không bón. Theo
Cán bộ kỹ thuật của Công ty Cà phê Chư Păh ngoài tiết kiệm lượng nước tưới 30%, vật
liệu này có khả năng làm tăng năng suất cây lên 10-20%. Đối với các vùng đất trồng cà
phê khô cằn, khi dùng vật liệu với liều lượng 40/cây thì có thể cho năng suất như những
vùng đất tốt.
3. Cây ngô vụ 1:
Thu lần 1
(kg)
Thu lần 2
(kg)
Thu lần 3
(kg)
Tổng NSTT
(tạ/ha)
Đối chứng
I 46.2 80.4 27.0 153.6 23.6
II 52.3 85.6 24.0 161.9 24.9
II 62.9 94.7 18.0 175.6 27.0
Trung bình 25.1
Bón 1
(*)
g/cây
I 55.9 85.3 42.0 183.2 28.2
II 67.1 91.7 28.0 186.8 28.8
II 55.9 85.5 42.0 183.2 29.7
Trung bình 28.9
Bón 3
(*)
g/cây
I 36.5 81.7 57.0 175.2 27.0
II 45.1 79.5 63.0 187.6 28.9
II 37.2 96.2 58.9 192.3 29.6
Trung bình 28.2
Bón 5
(*)
g/cây
II 93.0 48.0 4.0 145.0 17.5
II 69.0 51.0 25.0 145.0 17.5
Trung bình 17.86
Bón 3
(*)
g/cây
I 106.0 36.0 14.0 154 18.6
II 89.0 44,0 7 140 16.9
II 88.0 44.0 7 142.0 17.2
Trung bình 17.56
Bón 5
(*)
g/cây
I 111.0 39.0 16.0 166.0 20.1
II 95.0 37.0 16.9 148.9 17.9
II 93.0 41.0 16.9 144.9 17.5
Trung bình 18.5
Nhận xét:
- Biểu hiện về sự chống hạn về hình thái của cây bông chưa rõ giưã các nghiệm thức.
- Nghiệm thức bón 1 và 3g CH-03/cây cho kết quả gần như nhau nhưng năng suất tăng
hơn đối chứng khoảng 10%.
- Nghiệm thức bón 5g/cây cho năng suất cao nhất tăng khoảng 18% so với đối chứng.
- Nghiệm thức bón 1 và 3g CH-03/cây cho kết quả gần như nhau nhưng năng suất tăng
hơn đối chứng khoảng 15%.
- Nghiệm thức bón 5g/cây cho năng suất cao nhất tăng khoảng 18% so với đối chứng.
Với kết quả thu được trên 2 vùng thử nghiệm cho thấy chế phẩm CH-03 có thể
dùng chế phẩm CH – 03 bón cho cây bông nhằm hạn chế tác động của hạn hán cuối vụ
bông làm giảm năng suất ruộng bông. Khi bón chế phẩm giữ ẩm giúp cây bông ít bị
rung quả do thiếu nước cuối vụ.
5. Đánh giá sơ lược hiệu quả kinh tế của vật liệu
lần tưới lên 14 ngày, chi phí đầu tư cho nước và nhân công tưới giảm được
650.000đ/ha.
Cây Bông ở công ty Bông Chư Sê.
- Sản lượng bông thu được: Tính theo ha và giá thành mà công ty thu mua
Lô thử nghiệm Năng suất (kg) Giá tiền/kg Thành tiền
Đối chứng 1.540 6,000đồng/kg 9.200.000
Bón 1 và 3g CH-03 1.786 6,000đồng/kg 10.716.000
Bón 5g CH-03 1.850 6,000đồng/kg 1.110.000
- Chi phí bón chế phẩm: 600.000 -1.500.000đ/ha.
Dựa vào 2 bảng đánh giá trên và chi phí bón chế phẩm CH-03 cho 1 ha cho thấy khi
bón chế phẩm trên cho cây bông người nông dân được tăng thêm lợi nhuận từ 400ngàn-
800ngàn đồng/1ha trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt của thời tiết vùng Kong Chro vụ
qua. Lợi nhận tăng do năng suất của lô có bón chế phẩm tăng cao.
III. KẾT LUẬN
1. Thử nghiệm đạt kết quả tốt trên cây cà phê và ngô ở Tỉnh Gia Lai.
- Cây cà phê:
Tại công ty cà phê Chư Păh, khi bón vật liệu trên vùng đất thường thì thời gian tưới
giữa 2 lần tăng 136% (từ 28 ngày lên 38 ngày) cây vẫn xanh tốt hơn đối chứng và
năng suất tăng 10-15%. Đối với vùng pha cát khó giữ nước, khi bón chế phẩm thì
năng suất tăng 500-600%.
Ở công ty cà phê Gia Lai Khi bón vật liệu CH-03 ở liều lượng 20-25g/ cây có tác
dụng kéo dài thời gian giữa 2 lần tưới (4 tuần lên 5-6 tuần), lượng nước tưới giảm
25% và năng suất dự kiến tăng 10-15%.
- Cây ngô, vật liệu có tác dụng tốt ở liều lượng bón:1-2g, nếu gặp hạn sau khi gieo hạt
cây vẫn sinh trưởng và phát triển tốt. Năng suất tăng 50% ở lượng bón 1g và 200%
đối với lượng bón 2g/cây.
2. Đã xác định sơ lược hiệu quả kinh tế xã hội khi sử dụng vật liệu làm chất giữ
nước, chống hạn cho cây cà phê và cây ngô ở Tỉnh Gia Lai.
- Đối với cây ngô trong trường hợp gieo trồng gặp hạn thì có thể tăng lợi nhận
thêm 1.600,000đ /ha cho người nông dân.