1. A. Dẫn Nhập
Từ trước đến nay, trong lịch sử nhân loại chưa hề có một tôn giáo nào mà
kinh điển lại nhiều như Phật giáo. Toàn bộ kinh điển của Phật giáo chia làm
ba loại gọi là Tam Tạng (Tripitaka). “Tạng” (Pitaka) có nghĩa là chứa đựng.
Tam tạng gồm có: kinh (Sũtra, Pali: sutta), Luật (vinaya) và Luận
(Abhidharma, Pali: Abhidamma). Kinh là lời tư liệu ghi lại những lời Phật
dạy.[1] Luật là ghi chép những giới luật của tăng đoàn. Luận là tác phẩm giải
thích về kinh.
1./ Lý do chọn đề tài
Trong kho tàng văn học phật giáo bao gồm các bản gốc và các bản dịch được
tìm thấy phần lớn trong các ngôn ngữ Sanskrit, Pàli, Tây tạng và Trung hoa.
Văn học pàli xuất hiện rất sớm và chiếm một số lượng lớn. Do xuất hiện sớm
và được bảo lưu khá tốt, văn học pàli lưu giữ niềm thông tin và tài liệu quan
trọng liên quan đến cuộc đời và sự nghiệp truyền giáo của đức Phật, các sự
kiện, chính trị, kinh tế, xã hội, hoạt động của các trường phái tư tưởng và tôn
giáo khác nhau hiện diện trong thời đại của Ngài, song song với các quan
điểm tư tưởng và thực hành tôn giáo mà Ngài đã đề ra cho các đệ tử. Như vậy
văn học Pàli đóng vai trò quan trọng trong Phật giáo bởi trước hết nó chứa
đựng các tài liệu liên quan đến bậc đạo sư và những lời dạy của Ngài.
2./ Lịch sử nghiên cứu đề tài
Sự nghiệp 45 năm thuyết pháp độ sinh của đức Phật để lại nhiều ấn tượng
lớn và lưu lại nhiều thành quả văn hóa tâm linh sâu sắc không ngừng đánh
thức và khuyến khích thiện tâm trong lòng mọi người ở trong mọi thời đại.
Đức Phật đại diện cho sự giác ngộ ở đời và là tấm gương lớn của sự nghiệp
rộng mở con đường giác ngộ. Phát biểu về Ngài, người ta dùng các lời lẽ
trang trọng như thế này: “Thế Tôn đã giác ngộ, ngài thuyết pháp để giác ngộ.
Thế Tôn đã điều phục, Ngài thuyết pháp để điều phục. Thế Tôn đã tịch tĩnh,
ngài thuyết pháp để tịch tĩnh. Thế Tôn đã vượt qua, ngài thuyết pháp để vượt
qua. Thế Tôn đã chứng Niết- bàn, Ngài thuyết pháp để chứng Niết-
bàn.”[2] Hoặc họ biểu cảm: “Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã
Trung Bộ Kinh là một trong năm bộ kinh của Kinh Tạng, gọi là Trung Bộ vì
mang hình thức trung bình, đó là những pháp thoại mà phần lớn được Ðức
Phật trực tiếp truyền dạy cho Chư Tăng trong sinh hoạt hàng ngày của Ngài.
Vì thời lượng vừa phải nên những lời bài kinh trong Trung Bộ Kinh chuyên
chở những đề tài như những bài tiểu luận và chính vì thế nên phong phú và
sâu sắc. Theo nhiều học giả thì nội dung nổi bật nhất của Trung Bộ Kinh là
Phật ngôn hướng dẫn cách tu tập cho các hành giả, ở đây thường chỉ cho các
tỳ kheo. Hòa thượng Thích Minh Châu, dịch giả của Kinh Tạng Pàli, đã viết
trong lời giới thiệu bản dịch: “Chỉ có người đọc, sau khi tự mình đọc, tự mình
tìm hiểu, tự mình suy tư, tự mình quan sát, tự mình chứng nghiệm trên bản
thân mới có thể tự mình tìm hiểu và thấy đoạn nào là thật sự nguyên thủy.
Trách nhiệm tìm hiểu, chứng nghiệm trên cá nhân là trách nhiệm của người
đọc, không phải của người dịch, vì đạo Phật là đạo đến để mà thấy chớ không
phải đạo đến để nhờ người khác thấy hộ, đạo của người có mắt (Cakkumato),
không phải đạo của người nhắm mắt; đạo của người thấy, của người biết
(Passoto Jànato), không phải là đạo của người không thấy, không biết
(Apassoto Ajànato). Nên chỉ có người đọc mới có thể tự mình thấy mình, tự
mình hiểu và tự mình chứng nghiệm”. Nội dung Kinh Trung Bộ quả thật cho
chúng ta cơ hội trắc nghiệm quý báu đó.
Sách viết có vẻ như tóm lược nhưng có thể cung cấp cho chúng ta những dữ
kiện Văn học Phật giáo hệ Pàli một cách đầy đủ, giống như một bức tranh sơn
thủy, khi nhìn ngắm, người ta sẽ có cảm giác được tham quan một cảnh trời
sông núi hùng vĩ vậy.
2. Nội Dung Trung Bộ Kinh (Majjhima-nikàya)
Ở đây gồm những bài Kinh không đến nỗi quá dài như Trường Bộ, dù cũng
không phải là quá ngắn. Bộ Kinh gồm 152 bài Kinh được chia thành 3 phần.
Cũng giống như Trường Bộ Kinh, mỗi bài Kinh của Trung Bộ đều có một tiêu
chí giáo lý độc lập.
Nội dung của Trung Bộ Kinh bàn về tất cả những vấn đề giáo lý căn bản và
phổ biến nhất của Phật Giáo như Bốn Thánh Đế, lý nhân quả, tính tập khí của
III. Khái quát về Thuyết Tứ Đế (Catursatya)
1. Định Nghĩa
Còn gọi là Tứ Thánh đế, Tứ Diệu đế. Đế (Satya) là chân lý, sự thật. “Thánh”,
“Diệu” là thần thánh, cao cả. Tứ Thánh đế (Satya- catustaya) hay Tứ đế nghĩa
là “ bốn chân lý giải quyết triệt để vấn đề vũ trụ nhân sinh.”[4] Bốn chân lý đó
là:
Khổ đế (Duhkha- satya)
Tập đế (Samudaya- satya)
Diệt đế (Nirodha- satya)
Đạo đế (Mãrga- satya)
“Khổ đế” và “Tập đế” nhắm thuyết minh cuộc sống con người là khổ và
nguyên nhân của nổi khổ đó. “Diệt đế” và “Đạo đế” nhằm thuyết minh luận
chứng “khổ” của con người là hoàn toàn có thể khắc phục được (giải thoát)
và con đường khắc phục điều đó.[5]
2. Thuyết Tứ đế
a. khổ đế (Duhkha- satya)[6]
Khổ Đế hay còn gọi là Khổ Thánh Đế, là một sự kiện hiển nhiên, phổ biến
trong cuộc đời. Gọi là Khổ Thánh Đế vì sự thật này được chứng nghiệm bởi
chính trí tuệ của Đức Phật.
Đức phật khẳng định khổ là một thực trạng bi đát mà con người không sao
tránh khỏi được, dù là kẻ khôn ngoan trí thức hay kẻ hèn hạ khó nghèo. Kinh
Trung Bộ III Đức Phật dạy: “Thế nào là khổ thánh đế? Sanh là khổ, già là khổ,
bệnh là khổ, chết là khổ, sầu, bi, khổ, uư, não là khổ, cầu không được là khổ.
Tóm lại, năm thủ uẩn là khổ“[7] Ngoài ra, Khổ Thánh Đế còn được hiểu là
trạng thái bức bách, dao động, phiền não, bất an về các mặt như : vật lý, tâm
lý và triết lý.
Khổ về vấn đề triết lý: Là do sự chấp thủ 5 uẩn. Trong Kinh Vô Ngã Tướng,
Đức Phật dạy :
bàn là phải do tự thân tu tập, chứng nghiệm chứ không thể dựa vào ngôn từ
hay hình ảnh mà biết được. Vì thế, khi nói đến Niết bàn các kinh điển thường
sử dụng những từ ngữ có tính chất phủ định như vô vi, tịch tĩnh, ái diệt, khổ
diệt, giải thoát … nhằm nói lên trạng thái tĩnh lặng của tâm hồn do từ bỏ mọi
đam mê dục vọng.
d. Đạo Đế (Mãrga- satya)
Đạo đế còn gọi là đạo thánh đế, đạo đế. Tức là “phương pháp để đạt được
trạng thái tịch diệt, loại trừ mọi đau khổ phiền não trong cuộc sống”[11] Đạo
đế nói cho đủ thì gồm có 37 phẩm trợ đạo, nói gọn lại thì đó là Bát Thánh Đạo
hay còn gọi là Bát Chánh Đạo. Đây là tám phương pháp tu tập mầu nhiệm để
giúp con người diệt trừ tất cả các lậu hoặc, nghiệp chướng, khổ đau. Bát
Thánh Đạo chính là :
ï Chánh Kiến (sammã- dithi): Loại bỏ tà kiến, thể hiện sự hiểu biết đầy đủ về
Phật pháp, là trí huệ của Phật pháp.
ï Chánh Tư Duy (sammã- sammkappa): Tư duy đúng đắn về tứ đế, là suy tư
đúng đắn về trí tuệ Phật giáo.
ï Chánh Ngữ (sammã- vãcã): Lời nói đúng đắn, không giả dối.
ï Chánh Nghiệp (sammã- kammanta): Hành vi đúng đắn, giữ gìn đừng để sai
lầm về thân, khẩu, ý.
ï Chánh Mệnh (sammã- ãjiva): Mưu sống đúng đắn (về nghề nghiệp).
ï Chánh Tinh Tấn (sammã- vyãyama): Nỗ lực tu hành không lười nhác.
ï Chánh Niệm (sammã- sati): Niệm là luôn nhớ tới, không quên, luôn nhớ tới
những điều đúng đắn.
ï Chánh Định (sammã- samãdhi): Thiền định đúng đắn.
IV. Khổ Diệt Thánh Đế Và Những Giá Trị Thiết Thực.
1. Vài nét về Khổ Diệt Thánh Đế :
Kinh Trung Bộ III, Đức Phật đã dạy rằng : “Sự diệt tận không còn luyến tiếc
tham ái ấy, sự xả ly, sự khí xả, sự giải thoát, sự vô nhiễm, (Tham ái) ấy. Này
chư Hiền, như vậy gọi là Khổ Diệt Thánh Đế“[12]
Như vậy, Diệt Đế chính là kết quả tất yếu, là mặt đối lập của khổ đau trong
5. Khổ Diệt Thánh Đế- Con Đường Đạt Đến An Lạc Tối Thượng
a. Tịnh Hoá Tâm Hồn
Đức Thế Tôn có dạy rằng : “Không lửa nào bằng lửa tham dục, không ái nào
bằng ái sân hận, không khổ nào bằng khổ ngủ uẩn và kông vui nào bằng vui
Niết bàn (Natthi raagasamo aggi, natthi dosasamo kali, Natthi
khandhasamaa dukkhaa, natthi santipara.m sukha.m)”[14]. Thật vậy, khi
ngọn lửa tham dục bùng lên thiêu đốt tâm can con người thì dễ khiến cho con
người trở nên điên đảo, mê vọng, không còn một chút tỉnh táo và gây nên biết
bao khổ cảnh cho thế gian. Chỉ có những người nào dứt trừ được ái dục một
cách trọn vẹn thì mới không còn vướng vào sầu khổ nữa, người ấy sẽ thoát
khỏi tâm trạng lo âu, sợ sệt, tham lam, sân hận, tâm hồn được an tịnh, đạt
đến trạng thái tốt đẹp hoàn toàn thanh tịnh của tâm, tức Niết bàn hiện hữu.
Do vậy, khi tiếp xúc với ngoại cảnh, tâm không bị dao động, nên vị ấy dễ dàng
đi vào cuộc đời để độ sanh mà không hề bị vướng mắc, như chim bay giữa hư
không mà không để lại dấu vết.
b. Nguồn An Lạc Vô Biên
Khi nói đến Khổ Diệt Thánh Đế là Đức Phật hoàn toàn tin tưởng vào khả
năng tu tập giải thoát của con người. Chân lý này đã mở ra một lối đi quang
đãng, an lành để đưa mọi người vế đến bờ bình yên. Trên lối đi ấy, mỗi người
đều có thể vững vàng bước đi nếu biết tự củng cố cho mình đầy đủ niềm tin về
con đường diệt khổ và khả năng đạt được giải thoát của chính bản thân
mình, thoát ly sanh tử. “Sung sướng thay chúng ta sống không tham dục giữa
những người tham dục ! giữa những người tham dục ta sống không tham
dục“[15]
Với giáo lý Tứ Thánh Đế, đức Phật đã chỉ rõ về khổ và con đường diệt khổ một
cách khá đầy đủ, vậy muốn thoát khổ thì mỗi người phải tự dấn thân trên con
đường ấy.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ayya khema, Diệu Đạo dịch, Vô Ngã Vô Ưu, Thiền Quán Về Phật Đạo
2. Thích Minh Châu (dịch), Kinh Trung Bộ, Tập III, Tu Thư Đại Học Vạn Hạnh,
1975.
3. Minh Chi, Thuyết Bốn Đế, Giáo trình giảng dạy TNS-HVPGVN Tại
TPHCM,1996.
4. Đại Tạng Kinh VN, Trung A Hàm
5. Đại Tạng Kinh VN, Tương Ưng Bộ, Quyển V, NXB Tôn Giáo, 2002.
6. Dhammananda, Nhuận Châu dịch, Làm Sao Tránh Khỏi Sự Sợ Hãi Và Lo
Lắng, NXB Tổng Hợp TPHCM.
7. Trí Hải, Bóng Nguyệt Lòng Sông, NXB Tôn Giáo, 2004.
8. Trí Hải, Từ Nguồn Diệu Pháp, NXB Tôn Giáo, 2004.
9. Thích Thiện Nhơn biên soạn, Đại Cương Luận Thành Duy Thức, Giáo trình
giảng dạy TNS- HVPGVN Tại TPHCM, 2004.
10.Tarthang Tulku, Minh Chi dịch, Những Yếu Tố Căn Bản Để Sống Thanh
Thảnh Và Nhẹ Nhàng, NXB Tổng Hợp TPHCM, 2004.
11. Thích Chơn Thiện, Phật Học Khái Luận, NXB TPHCM, 1999.
12. Thích Trí Tịnh dịch, Đại Bát Niết Bàn, Quyển I, NXB TPHCM, 1999.
13. Thích Trí Tịnh dịch, Kinh Pháp Hoa, THPG TPHCM, 1989.
14. Thích Thiện Siêu dịch, Kinh Pháp Cú, NXB Thuận Hoá-Huế, 1996.
15. Thích Tâm Minh, Khảo Cứu Về Văn Học Pàli. Nxb Phương Đông, 2006.
[1] Cũng có những trường hợp gọi là “Kinh” nhưng không phải lời Phật dạy.
ví dụ như Lục Tổ Đàn Kinh, Na Tiên Tỳ Kheo Kinh
[2] Tiểu kinh Saccaka, Trung Bộ.