Một số giải pháp tiếp tục khuyến khích các hoạt động đầu tư trong nước - Pdf 26

Phân tích các hình thức trả lương tại Công Ty Cơ Khí An Giang

PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài:
Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người nhằm tạo ra các
của cải vật chất và tinh thần cho xã hội. Lao động có năng suất, chất lượng và
hiệu quả cao là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước.
Để tuyển dụng và giữ lại đúng người làm đúng việc, ban giám đốc cần
có một hệ thống thù lao cạnh tranh và công bằng. Mặt dù tiền không phải là lý
do duy nhất để nhân viên làm việc cho một doanh nghiệp, nhưng những
phương pháp trả lương không công bằng vẫn là nguyên nhân chính gây ra sự
bất mãn của nhân viên và làm tăng tình trạng bỏ việc, giảm hiệu quả quan hệ
lao động và gây ra những chi phí không cần thiết cho doanh nghiệp.
Hệ thống tiền lương và tiền công sẽ cho phép doanh nghiệp tuyển dụng
các nhân viên mới với m
ức lương thỏa đáng, tăng mức lương phù hợp cho
nhân viên và hình thành một con đường sự nghiệp cho các cá nhân. Để thực
hiện được tất cả các công việc này, cần phải có một hệ thống tiền lương và
tiền công có tổ chức hợp lý. Mục đích của một hệ thống tiền lương và tiền
công là đảm bảo rằng những người thực hiện các nhiệm vụ đượ
c coi là có giá
trị như nhau sẽ nhận được mức thù lao như nhau.Thù lao bao hàm tất cả các
hình thức thu nhập mà các cá nhân nhận được cho phần lao động của họ.
Bản chất của tiền lương cũng thay đổi tùy theo các điều kiện, trình độ
phát triển kinh tế xã hội và nhận thức của con người. Trước đây, tiền lương
được coi là giá cả sức lao động trong nền kinh tế thị trường. Giờ
đây, với việc
áp dụng quản trị nguồn nhân lực vào các doanh nghiệp, tiền lương không chỉ
đơn thuần là giá cả sức lao động nữa. Quan hệ giữa người chủ sử dụng sức lao
động và người lao động đã có những thay đổi căn bản. Liệu rằng với việc áp
dụng quản trị nguồn nhân lực trong doanh nghiệp, quan hệ này có thể chuyển

( áp dụng năm 2001 ), 290000 đồng / người/ tháng ( áp dụng năm 2003 ), hiện
nay chính phủ đang cân đối ngân sách để nâng lương cơ bản lên 400000 đồng/
người/ tháng ( năm 2007). Tại sao lương cơ bản phải tăng lên? Đó là những
biệp pháp mà nhà quản trị cấp cao muốn cải thiện đời sống vật chất của người
lao động, không những thế thông qua tiền lương ta có thể biết đượ
c xu hướng
đời sống của người công nhân trong xã hội như thế nào; Thế nhưng khi trả
lương cho công nhân quá cao sẽ ảnh hưởng đến tổng chi phí sản phẩm và giá
thành sản phẩm sẽ tăng. Chính vì vậy, thông qua kế toán tiền lương nhà quản
trị sẽ đưa ra một hệ thống thang lương hợp lý.
Tổ chức sử dụng lao động hợp lý, bình đúng thù lao lao động và thanh
toán kịp thời tiền và các khoả
n khác có liên quan cho người lao động sẽ kích
thích họ quan tâm đến doanh nghiệp dẫn đến năng suất lao động cao, giảm chi
phí về lao động sẽ hạ được giá thành sản phẩm,làm cho lợi nhuận của doanh
nghiệp tăng lên, một mặt nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người lao
động.
Nhận thức được tầm quan trọng của kế toán tiền lương tôi quyết định
chọn đề tài: “Phân Tích Các Hình Thứ
c Trả Lương Tại Công Ty Cơ Khí An
Giang” . Đề tài sẽ giúp tôi tìm hiểu thực tế về việc trả lương tại Công Ty Cơ
Khí tỉnh An Giang, đồng thời mong cùng công ty nghiên cứu, hoàn thiện và
nâng cao hiệu quả của việc trả lương tại doanh nghiệp.
II. Mục đích nghiên cứu:
Phân tích và nghiên cứu tình hình trả lương ở công ty Cơ Khí nhằm trả
lời các câu hỏi sau:
• Công ty đang áp dụng các hình thức trả lương nào? Tại sao ph
ải áp
dụng hình thức đó ?
GVHD:Nguyễn Tri Như Quỳnh_ SVTH:Đoàn Hà Hồng Nhung -


GVHD:Nguyễn Tri Như Quỳnh_ SVTH:Đoàn Hà Hồng Nhung -
3
-

Phân tích các hình thức trả lương tại Công Ty Cơ Khí An Giang

PHẦN NỘI DUNG:
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
I.Khái niệm và nhiệm vụ của kế toán tiền lương:
1. Khái niệm về lao động, tiền lương:
Lao động là hoạt động chân tay và trí óc của con người nhằm biến đổi
các vật thể tự nhiên thành những vật phẩm cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của
xã hội. Trong một chế độ xã hội, việc sáng tạo ra của cả
i vật chất không thể
tách rời khỏi lao động, lao động là điều kiện đầu tiên, cần thiết cho sự tồn tại
và phát triển của xã hội. Xã hội càng phát triển, tính chất quyết định của lao
động con người đối với quá trình tạo ra của cải vật chất cho xã hội càng biểu

phạm vi trách nhiệm của kế toán. Tổ chức phân tích tình hình sử dụng lao
GVHD:Nguyễn Tri Như Quỳnh_ SVTH:Đoàn Hà Hồng Nhung -
4
-

Phân tích các hình thức trả lương tại Công Ty Cơ Khí An Giang

động đề xuất các biện pháp nhằm khai thác có hiệu quả tiềm năng lao động,
tăng năng suất lao động. Đấu tranh chống những hành vi vô trách nhiệm, vi
phạm kỷ luật lao động, vi phạm chính sách chế độ về lao động tiền lương.
II. Một số hình thức trả lương:
1.Những nguyên tắc cơ bản của tổ chức tiền lương:
Dưới chế độ xã hội chủ ngh
ĩa dù thực hiện bất kì chế độ tiền lương nào,
muốn phát huy đầy đủ tác dụng đòn bẩy kinh tế của nó đối với sản xuất và đời
sống phải thực hiện đầy đủ những nguyên tắc sau:
• Trả lương bằng nhau cho lao động như nhau
Nguyên tắc này bắt nguồn từ nguyên tắc phân phối theo lao động. Trả
lương bằng nhau cho lao động như nhau có nghĩa là khi quy
định tiền lương,
tiền thưởng cho công nhân viên chức nhất thiết không được phân biệt giới
tính, tuổi tác, dân tộc mà phải trả cho mọi người đồng đều số lượng, chất
lượng mà họ đã cống hiến cho xã hội.
• Bảo đảm tốc độ tăng năng suất lao động bình quân phải nhanh hơn tốc
độ tăng tiền lương bình quân trong toàn đơn vị và trong kỳ kế hoạch.
Tiền lương bình quân tăng chủ yếu phụ thuộc vào các yếu tố chủ yếu do
nâng cao năng suất lao động như nâng cao trình độ lành nghề, giảm bớt thời
gian tổn thất cho lao động, còn năng suất lao động tăng không phải chỉ do
những nhân tố trên mà còn trực tiếp phụ thuộc vào các nhân tố khách quan
như: áp dụng kỹ thuật mới, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, tổ chức tốt

Đối với những cơ sở sản xuất ở những vùng xa xôi hẻo lánh, điều kiện
khí hậu xáu, sinh hoạt đắt đỏ, đời sống gặp khó khăn, nhân lực thiếu,…Cần
được đãi ngộ tiền lương cao hơn hoặc thêm những khoản phụ cấp thì mới thu
hút được công nhân đến làm việc
 Khuyến khích bằng lợi ích vật chất kết hợp với giáo dục t
ư tưởng cho
người lao động.
2.Xác định quỹ tiền lương năm kế hoạch để xây dựng đơn giá tiền
lương:
Quỹ tiền lương năm kế hoạch để xây dựng đơn giá tiền lương theo công thức:
ZV kh = [ L đb * TL mindn * ( H cb + H pc ) + V vc ] * 12 tháng
Trong đó:
ZV kh: Tổng quỹ lương kế họach
L đb: lao động định biên
TL mindn: mức lương tối thiểu của doanh nghiệp lựa chọn trong khung
quy định
H cb: hệ số lương cấp bậc công viêc bình quân
H pc: hệ số các khoản phụ cấp lương bình quân được tính trong đơn giá
tiền lương
V vc: quỹ tiền lương của bộ máy gián tiếp mà số lao động này chưa
tính trong định mức lao động tổng hợp
Đơn giá tiền lương của doanh nghiệp được xây dựng theo 4 phương
pháp:
+ Đơn giá tiền lương tính trên đơn vị sản phẩm ( hoặc sả
n phẩm quy
đổi):
Phương pháp này tương ứng với chỉ tiêu kế hoạch sản xuất, kinh doanh
được chọn là tổng sản phẩm bằng hiện vật (kể cả sản phẩm quy đổi) thường
được áp dụng đối với doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh sản phẩm hoặc một
số sản phẩm có thể quy đổi được

Z P kh: lợi nhuận kế hoạch
* Tổng quỹ lương chung năm kế hoạch:
V c = V kh + V pc + V bs + V tg
Trong đó:
Vc: tổng quỹ lương chung năm kế hoạch
Vkh: tổng quỹ lương năm kế hoạch để xây dựng đơn giá tiền lương
Vpc: quỹ các khoản phụ cấ
p lương kế hoạch và các chế độ khác
( nếu có ) không được tính trong đơn giá tiền lương theo quy định
Vbs: quỹ tiền lương bổ sung theo kế hoạch chỉ áp dụng đối với doanh
nghiệp được giao đơn giá tiền lương theo đơn vị sản phẩm
Vtg: quỹ tiền lương làm thêm giờ được tính theo kế hoạch, không vượt
quá số giờ làm thêm của bộ luật lao động quy định.
3. Hình thức trả
lương theo sản phẩm:
Hiện nay phần lớn các nhà máy, xí nghiệp ở nước ta đều áp dụng hình
thức trả lương theo sản phẩm. Trả lương theo sản phẩm là hình thức tiền lương
căn cứ vào số lượng, chất lượng sản phẩm sản xuất ra của mỗi người và đơn
giá lương sản phẩm để trả lương cho cán bộ công nhân viên chức.
GVHD:Nguyễn Tri Như Quỳnh_ SVTH:Đoàn Hà Hồng Nhung -
7
-

Phân tích các hình thức trả lương tại Công Ty Cơ Khí An Giang

Sở dĩ như vậy là vì chế độ lương cấp bậc và các khoản phụ cấp chưa
kiểm tra giám sát được chặt chẽ về sức lao động của mỗi người để đãi ngộ về
tiền lương một cách đúng đắn. Hình thức tiền lương trả theo sản phẩm là hình
thức căn bản để thực hiện quy luật phân phối theo lao động. Để quán triệ
t đầy

gắng học tập để không ngừng nâng cao trình độ văn hóa khoa học kỹ thuật thì
mới có thể dễ dàng tiếp thu, nắm vững và áp dụng các phương pháp sản xuất
tiên tiến. Hơn nữa họ còn phải biết tìm tòi suy nghĩ để phát huy sáng kiến,cải
tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất. Có như vậy thì s
ản phẩm làm ra sẽ tăng và
sức lao động sẽ giảm xuống. Đẩy mạnh việc cải tiến, tổ chức quá trình sản
xuất, thúc đẩy việc thực hiện tốt chế độ hạch toán kinh tế. Khi áp dụng chế độ
tiền lương tính theo sản phẩm đòi hỏi có sự chuẩn bị sản xuất nhất định. Phải
GVHD:Nguyễn Tri Như Quỳnh_ SVTH:Đoàn Hà Hồng Nhung -
8
-

Phân tích các hình thức trả lương tại Công Ty Cơ Khí An Giang

củng cố kiện toàn tổ chức sản xuất, kỹ thuật sản xuất, tổ chức lao động đảm
bảo cho quá trình sản xuất được cân đối hợp lý. Trong quá trình thực hiện do
năng suất lao động của công nhân tăng, nhiều vấn đề mới đặt ra cần giải quyết
như cung cấp nguyên vật liệu đúng quy cách, chất lượng, kịp thời gian. Kiểm
tra nghiệm thu được chính xác s
ố lượng, chất lượng sản phẩm. Điều chỉnh lại
lao động trong dây chuyền sản xuất. Thống kê thanh toán tiền lương nhanh
chóng, chính xác, đúng kì hạn,…Các vấn đề đó ảnh hưởng trực tiếp đến năng
suất tiền lương của công nhân nên họ rất quan tâm phát hiện và yêu cầu giải
quyết. Bất kì một hiện tượng nào vi phạm đến kỹ thuật công nghệ và chế độ

phục công tác, người công nhân không những tìm cách khắc phục kịp thời mà
còn tích cực đề phòng các khuyết điểm có thể xảy ra. Đồng thời, đấu tranh
chống hiện tượng tiêu cực, làm việc thiếu trách nhiệm trong cán bộ quản lí và
công nhân sản xuất.
- Củng cố và phát triển mạnh mẽ phong trào thi đua xã hội chủ


- Chuẩn bị về nhân lực: khi tổ chức trả lương theo sản phẩm, việc
chuẩn bị về nhân lực là vấn đề cần thiết vì con người là yếu tố quan trọng
trong quá trình sản xuất. Con người có quán triệt ý nghĩa tác dụng cúa chế độ
lương sản phẩm thì mới đề cao tinh thần trách nhiệm, tích cực và quyết tâm
tạo điều kiện cần thiết cho việc thực hi
ện chế độ lương sản phẩm. Để chuẩn bị
tốt yếu tố con người cần phê phán các tư tưởng rụt rè, cầu toàn, khuynh hướng
làm bừa, làm ẩu. Thiếu chuẩn bị điều kiện cần thiết, thiếu chỉ đạo chặt chẽ gây
hoang mang dao động trong công nhân. Phải giải thích giáo dục cho công
nhân hiểu rõ mục đích ý nghĩa của chế độ lương sản phẩm và cho họ
thấy mục
tiêu phấn đấu của họ về sản lượng và năng suất lao động, chát lượng sản
phẩm, chi phí sản xuất. Ngoài ra còn phải bồi dưỡng, nâng cao nghiệp vụ cho
các cán bộ lao động tiền lương, cán bộ kỹ thuật, kiểm tra chất lượng sản
phẩm,…
- Chuẩn bị về kế hoạch sản xuất: kế hoạch sản xuất phải rõ ràng cụ
th
ể, phải tổ chức cung cấp đầy đủ thường xuyên nguyên vật liệu, máy móc
thiết bị và phương tiện phòng hộ lao động để công nhân có thể sản xuất được
liên tục.
3.2.2. Xác định đơn giá lương sản phẩm:
Để thực hiện chế độ lương sàn phẩm cần xác định đơn giá lương
sản phẩm cho chính xác trên cơ sở xác định cấp bậc công việc và định mức lao
động chính xác.
Xác định cấp bậc công việc như ta đã biết đơn giá lương sản phẩm
được tính như sau:
Mức lương cơ bản công nhân + phụ cấp
Đơn giá sản phẩm =
Mức sản lượng

để
tăng thu nhập, làm ra những sản phẩm sai hỏng, không đúng quy cách và
yêu cầu kỹ thuật đồng thời đảm bảo việc trả lương cho công nhân đúng đắn,
kịp thời.
Hình thức trả lương theo sản phẩm gồm nhiều chế độ trả lương như
sau:

Chế độ trả lương sản phẩm trực tiếp không hạn chế:
Chế độ tiền lương này được trả theo từng đơn vị sản phẩm hoặc chi tiết
sản phẩm và theo đơn giá nhất định. Tiền lương của công nhân căn cứ vào số
lượng sản phẩm hoặc chi tiết sản phẩm do họ trực tiếp sản xuất được để trả
lương. Bất kì trường hợp nào công nhân sản xuất hụt mức, đạt mứ
c hoặc vượt
mức bao nhiêu, cứ mỗi đơn vị sản phẩm làm ra đều được trả lương nhất định
gọi là đơn giá sản phẩm. Như vậy tiền lương của công nhân sẽ tăng theo số
lượng sản phẩm sản xuất ra. Nếu sản xuất được nhiều sản phẩm thì được trả
nhiều lương và ngược lại sản xuất được ít s
ản phẩm thì được trả ít lương.
Đơn giá sản phẩm là cơ sở của chế độ tiền lương tính theo sản phẩm trực
tiếp không hạn chế. Khi xác định đơn giá sản phẩm người ta căn cứ vào hai
nhân tố: định mức lao động và mức lương cấp bậc công việc
Công thức tính đơn giá sản phẩm như sau:
• Nếu công việc được định mức thời gian:

Đơn giá = Mức lương cấp bậc công viên * mức thời gian
• Nếu công việc định mức sản lượng:
Mức lương cấp bậc công việc + Phụ cấp
Đơn giá =
Mức sản lượng


công việc đó là mứ
c thời gian hay mức sản lượng để tính cho chính xác.
Chế độ tiền lương tính theo sản phẩm trực tiếp ( không hạn chế ) thích
hợp với những loại công việc có thể tiến hành định mức lao động, giao việc và
nghiệm thu từng đơn vị sản phẩm hoặc chi tiết sản phẩm riêng rẽ được. Tùy
theo đặc điểm về tổ chức kỹ thuật sản xuất. N
ếu những công việc mà người
công nhân có thể tiến hành sản xuất độc lập thì có thể quy định mức lao động
và tiến hành thống kê nghiệm thu sản phẩm riêng cho từng công nhân và trả
lương sản phẩm trực tiếp cho từng công nhân. Nếu công việc cần nhiều công
nhân phối hợp, cộng tác với nhau mới sản xuất ra một sản phẩm thì có thể tiến
hành trả lương trực tiếp cho nhóm hoặc t
ổ sản xuất đó.

Chế độ tiền lương tính theo sản phẩm gián tiếp:
Chế độ lương này không áp dụng đối với công nhân trực tiếp sản xuất mà
chỉ áp dụng cho công nhân phục vụ sản xuất. Công việc của họ có ảnh hưởng
trực tiếp đến việc đạt và vượt mức của công nhân chính hưởng lương theo sản
phẩm. Nhiệm vụ và thành tích của họ gắn liền với nhiệm vụ và thành tích của
công nhân đứng máy. tiền lương của công nhân phụ
c vụ được tính căn cứ vào
số lượng sản phẩm của công nhân đứng máy sản xuất ra. Những công nhân
sửa chữa máy nếu áp dụng lương sản phẩm gián tiếp cần phải quy định và
kiểm tra chặt chẽ việc nghiệm thu trong định kì sửa chữa máy, đề phòng hiện
GVHD:Nguyễn Tri Như Quỳnh_ SVTH:Đoàn Hà Hồng Nhung -
12
-

Phân tích các hình thức trả lương tại Công Ty Cơ Khí An Giang


ền lương này thường xảy ra hai trường hợp và
cách giải quyết như sau:
• Nếu bản thân công nhân phục vụ có sai lầm làm cho công nhân chính
sản xuất ra sản phẩm hỏng, hàng xấu thì tiền lương của công nhân phục vụ
hưởng theo chế độ trả lương khi làm ra hàng hỏng, hàng xấu_xong vẫn đảm
bảo ít nhất bằng mức lương cấp bậc của người đó.
• Nếu công nhân đứng máy không hoàn thành đị
nh mức sản lượng thì
tiền lương của công nhân phục vụ sẽ không tính theo đơn giá sản phẩm gián
tiếp mà theo lương cấp bậc của họ
Chế độ tiền lương tính theo sản phẩm gían tiếp có tác dụng làm cho công
nhân phục vụ quan tâm hơn đến việc nâng cao năng suất lao động của công
nhân chính mà họ phục vụ.
Chế độ tiền lương sản phẩm lũy tiến:
Chế độ tiền lương này được tính như sau:
Đối với số sản phẩm được sản xuất ra trong phạm vi định mức khởi điểm
lũy tiến thì được trả theo đơn giá bình thường, còn số sản phẩm sản xuất ra
vượt mức khởi điểm lũy tiến được trả theo đơn giá lũy tiến, nghĩa là có nhiều
GVHD:Nguyễn Tri Như Quỳnh_ SVTH:Đoàn Hà Hồng Nhung -
13
-

Phân tích các hình thức trả lương tại Công Ty Cơ Khí An Giang

đơn giá cho những sản phẩmvượt mức khởi điểm lũy tiến. Nếu vượt mức với
tỷ lệ cao thì được tính những sản phẩm vượt mức bằng đơn giá cao hơn.
Chế độ lương này áp dụng cho công nhân sản xuất ở những khâu quan
trọng, lúc sản xuất khẩn trương để bảo đảm tính đồng bộ ở những khâu mà
năng suất tă
ng có tính chất quyết định đối với việc hoàn thành chung kế hoạch

động hay tập thể người lao động ở những bộ phận sản xuất cần thiết phải đẩy
mạnh tốc độ sản xuất. Nó khuyến khích người lao động phải luôn phát huy
sáng tạo cải tiến kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất lao động đảm bảo cho đơn
vị thực hiện kế hoạch sản xuất sản phẩm một cách đồng bộ và toàn diện. Tuy
nhiên, khi áp dụng tính lương theo sản phẩm lũy tiến doanh nghiệp cần chú ý
khi xây dựng tiền thưởng lũy tiến nhằm hạn chế hai trường hợp có thể xảy ra
đó là, người lao động phải tăng cường độ lao động, không bảo đảm sức khỏe
cho lao động sản xuất lâu dài và tốc độ tăng tiền lương lớn hơn tốc độ tăng
năng suất lao động.
Mu
ốn thực hiện chế độ lương này cần phải chuẩn bị những điều kiện sau:
• Định mức lao động có căn cứ kỹ thuật, đây là vấn đề quan trọng vì đơn
giá sản phẩm sẽ tăng lũy tiến theo tỉ lệ vượt mức sản lượng
GVHD:Nguyễn Tri Như Quỳnh_ SVTH:Đoàn Hà Hồng Nhung -
14
-

Phân tích các hình thức trả lương tại Công Ty Cơ Khí An Giang

• Phải thống kê xác định rõ chất lượng và số lượng sản phẩm tiền lương
của công nhân, mức lũy tiến, mức hạ thấp giá thành và giá trị tiết kiệm được
• Phải dự kiến được kết quả kinh tế của chế độ lương tính theo sản phẩm
lũy tiến nhằm xác định mức lũy tiến cao nhất của đơn giá sản phẩm. Vì khi
th
ực hiện chế độ tiền lương này lương của công nhân sẽ tăng nhanh hơn sản
lượng làm cho phần tiền lương trong đơn vị sản phẩm cũng tăng lên. Do đó
giá thành sản phẩm cũng tăng theo, bởi vậy khi áp dụng chế độ lương này phải
tính toán kết quả kinh tế, nâng cao năng suất lao động làm hạ giá thành sản
phẩm.
Chế độ lương khoán sản phẩm:

GVHD:Nguyễn Tri Như Quỳnh_ SVTH:Đoàn Hà Hồng Nhung -
15
-

Phân tích các hình thức trả lương tại Công Ty Cơ Khí An Giang

cho việc thống kê phân tích năng suất lao động của công nhân không chính
xác, làm ảnh hưởng đến chất lượng công việc, ảnh hưởng đến sức khỏe và các
mặt sinh hoạt của công nhân.
Chế độ tiền lương theo sản phẩm có thưởng và chế độ lương khoán có thưởng:
• Chế độ lương khoán sản phẩm có thưởng là chế độ lương khoán kết
hợp với khen thưởng khi công nhân đạt những chỉ tiêu về số lượng, chất lượng
hay thời gian đã quy định. Nhưng nếu vượt được các chỉ tiêu đã quy định về
chất lượng sản phẩm, tiết kiệm được nguyên liệu bảo đảm an toàn hoặc nâng
cao năng suất máy móc, thiết bị,…thì đượ
c thêm tiền thưởng. Khoản tiền
thưởng này chi trả khi công nhân hoàn thành định mức sản lượng.
Thực hiện chế độ lương này phải xác định rõ những chỉ tiêu và điều
kiện thưởng. Tỷ lệ tiền thưởng cũng phải xác định đúng đắn.
• Chế độ tiền lương tính theo sản phẩm có thưởng là tiền lương tính theo
sản phẩm trực tiếp hay gián tiếp kết h
ợp với chế độ khen thưởng do doanh
nghiệp quy định như thưởng chất lượng sản phẩm_tăng tỷ lệ chất lượng sản
phẩm chất lượng cao, thưởng tăng năng suất lao động, tiết kiệm nguyên
liệu,…
Tiền lương theo sản phẩm có thưởng được tính cho từng người lao động hoặc
cho một tập thể người lao động.
Ví dụ: công ty may S quy định đơ
n giá tiền lương cho 1 sản phẩm là
2000 đồng, nhưng đơn giá có các sản phẩm thứ 11 sẽ là 2.200 đồng.

ừng người lao động trong tập thể có thể
được tiến hành theo các phương án khác nhau:
- Chia lương theo cấp bậc tiền lương và thời gian lao động thực tế của từng
người lao động trong tập thể đó. Các bước tiến hành như sau:
• Xác định hệ số chia lương:

Tổng tiền lương thực tế được lĩnh của tập thể
Hệ số chia
lương
=
Tổ
ng tiền lương theo cấp bậc và thời gian làm việc
của các công nhân trong tập thể
• Tính tiền lương chia cho từng người:
Tiền lương được lĩnh
từng người
=
Tiền lương theo cấp bậc
và thời gian làm việc của
từng người
*
Hệ số chia
lương

- Chia lương theo cấp bậc công việc và thời gian làm việc thực tế của từng
người lao động kết hợp với việc bình công chấm điểm của từng ngườ
i lao
động trong tập thể đó, các bước tiến hành như sau:
• Xác định tiền lương tính theo cấp bậc công việc và thời gian làm việc
cho từng người:

Tổng số điểm được bình của tập thể
*
số điểm được
bình mỗi
người
• Xác định tiền lương được lĩnh của từng người là số tổng cộng phần
lương tính theo cấp bậc công việc và thời gian làm việc với phần lương được
lĩnh do tăng năng suất lao động.
- Chia lương theo bình công chấm điểm hàng ngày cho từng người lao động
trong tập thể đó.
Tùy thuộc vào tính chất công việc được phân công cho từng người lao
động trong tập thể lao động có phù h
ợp giữa cấp bậc kỹ thuật công nhân với
cấp bậc công việc được giao; lao động giản đơn hay lao động có yêu cầu kỹ
thuật cao… để lựa chọn phương án chia lương cho thích hợp nhằm động viên,
khuyến khích và tạo điều kiện chi người lao động phát huy hết năng lực của
mình.
 Trong thực tế, hình thức trả lương này thường áp dụng trong các dây
chuyền lắp ráp, trong ngành xây dựng, s
ửa chữa cơ khí, trong nông nghiệp,…
để kích thích các nhân viên trong nhóm làm việc tích cực, việc phân phối tiền
công giữa các thành viên trong nhóm thường căn cứ vào các yếu tố sau:
• Trình độ của nhân viên (thông qua hệ số mức lương Hs
i
của mỗi người)
• Thời gian thực tế làm việc của mỗi người (Tt
i
)
• Mức độ tham gia tích cực, nhiệt tình của mỗi người vào kết quả thực
hiện công việc của nhóm (Ki)


Tiền công của mỗi công nhân sẽ được xác định trên cơ sở số tiền khoán
chung cho cả nhóm và thời gian làm việc chuẩn của mỗi người, theo công
thức:

Số tiền khoán cho cả nhóm * Tc
i
Wi =
Tổng thời gian chuẩn
Ví dụ: sau khi giám định mức độ hư hỏng của một chiếc máy tiện ,
phân xưởng khoán cho 3 công nhân thực hiện với tổng số tiền thù lao là
60.000đồng. 3 người thợ sửa chữa trong nhóm sẽ được trả lương tương ứng
với các hệ số lương, thời gian làm việc thực tế và mức độ tích cực của mỗi
người như trong bảng 9.1
Bảng 9.1 : trả lươ
ng khoán cho nhóm người lao động

Công
nhân
Hệ số
lương
( Hs )
Tổng thời
gian thực
tế làm việc
( giờ )
Mức độ tíc
h
cực của mỗi
người ( Ki )

Phân tích các hình thức trả lương tại Công Ty Cơ Khí An Giang

xuất cũng phải được đảm bảo như cung cấp vật tư, thiết bị, điện, các điều kiện
về an toàn, vệ sinh công cộng,…
4. Hình thức tiền lương theo thời gian:
Tiền lương tính theo thời gian là tiền lương tính trả cho người lao động
theo thời gian làm việc, cấp bậc công việc và thang lương của người lao động.
Tiền lương tính theo thời gian có thể thực hiện tính theo tháng, ngày ho
ặc giờ
làm việc của người lao động tùy thuộc theo yêu cầu và trình độ quản lý thời
gian lao động của doanh nghiệp.
Tiền lương thời gian có thể thực hiện tính theo thời gian giản đơn hoặc
thời gian có thưởng.
• Tiền lương thời gian giản đơn: tính theo thời gian làm việc và đánh giá
lương thời gian.
• Tiền lương có thưởng: là hình thức thời gian giản đơn kết hợp với ch
ế
độ tiền lương.
o Tiền lương tháng là tiền lương trả cố định hàng tháng trên cơ sở
hợp đồng lao động.
o Tiền lương tuần là tiền lương trả cho một tuần làm việc được xác
định trên cơ sở tiền lương tháng nhân với 12 tháng và chia cho 52 tuần.
o Tiền lương ngày là tiền lương trả cho một ngày làm việc được
xác định trên cơ sở tiền lương tháng chia cho 22 hoặ
c 26 ngày.
o Tiền lương giờ là tiền lương trả cho một giờ làm việc được xác
định trên cơ sở tiền lương ngày chia cho số giờ tiêu chuẩn.
Công thức tính lương theo thời gian:

Mức lương

khối lượng hoàn thành không xác định được hoặc những loại công việ
c cần
thiết phải trả lương thời gian nhằm đảm bảo chất lượng sản phẩm như công
việc kiểm tra chất lượng sản phẩm, công việc sửa chữa thiết bị máy móc.
Do những hạn chế trên, khi áp dụng hình thức tiền lương theo thời gian
cần thực hiện một số biện pháp phối hợp như: giáo dục chính trị tư tưởng,
động viên khuyến khích v
ật chất, tinh thần dưới các hình thức tiền thưởng;
thường xuyên kiểm tra việc chấp hành kỷ luật lao động và sử dụng thời gian
lao động. Việc phối hợp nhiều biện pháp sẽ tạo cho người lao động tự giác lao
động có kỷ luật, có kỷ thuật và có năng suất cao.
5. Chế độ phụ cấp, tiền thưởng:
5.1 Phụ cấp:
Điều 04 nghị định số 26/CP ngày 23/05/1993 quy
định các khoản phụ
cấp lương của người lao động trong các doanh nghiệp như sau: phụ cấp khu
vực, phụ cấp độc hại, nguy hiểm, phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp làm đêm, phụ
cấp thu hút, phụ cấp đắt đỏ, phụ cấp làm thêm giờ.
5.2. Tiền thưởng:
Bộ Luật Lao Động quy định tại Điều 64: “Người sử dụng lao động có
trách nhiệm trích t
ừ lợi nhuận hàng năm để thưởng cho người lao động đã làm
việc từ một năm trở lên theo quy định của Chính Phủ phù hợp với đặc điểm
của từng loại doanh nghiệp”.
Cụ thể:
- Đối với doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh, dịch vụ thuộc thành
phần kinh tế quốc doanh, mức tiền thưởng tối đa không quá 06 tháng tiền
lương theo hợp đồ
ng lao động.
- Đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp

GVHD:Nguyễn Tri Như Quỳnh_ SVTH:Đoàn Hà Hồng Nhung -
22
-

Phân tích các hình thức trả lương tại Công Ty Cơ Khí An Giang

CHƯƠNG II : GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN
CÔNG TY CƠ KHÍ AN GiANG
I. Khái quát về công ty Cơ Khí An Giang:
1. Giới thiệu chung về công ty:
- Tên tiếng việt : Công Ty Cơ Khí An Giang
- Tên giao dịch quốc tế : Angiang Mechanical Company

Châu Lăng, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang.
GVHD:Nguyễn Tri Như Quỳnh_ SVTH:Đoàn Hà Hồng Nhung -
23
-

Phân tích các hình thức trả lương tại Công Ty Cơ Khí An Giang

2. Lịch sử hình thành và phát triển của công ty:
Công ty Cơ Khí An Giang trước đây là Xí Nghiệp Cơ Khí quốc doanh
được thành lập theo quyết định số 117/QĐ.UB ngày 04/09/1976 của UBND
tỉnh An Giang. Quyết định số 572/QĐ.UB ngày 21/11/1992 của UBND tỉnh
An Giang thành lập lại doanh nghiệp nhà nước theo nghị định 388/CP. Quyết
định số 764/QĐ.UB ngày 20/04/1999 của UBND tỉnh An Giang đổi tên doanh
nghiệp thành Công Ty Cơ Khí An Giang.
Cơ sở vật chất kỹ thuật ban đầu lúc mới thành lậ
p có nhiều khó khăn,
máy móc thiết bị cũ kỹ không đồng bộ, tuy nhiên công ty đã nổ lực phấn đấu
vươn lên từ hiệu quả họat động sản xuất kinh doanh, để tái đầu tư đổi mới máy
móc thiết bị và sửa chữa nâng cấp nhà xưởng mở rộng sản xuất, đáp ứng yêu
cầu của cơ chế kinh tế thị trường.
3. Phạm vi hoạt độ
ng:
Công ty Cơ Khí An Giang là một doanh nghiệp nhà nước hoạt động sản
xuất kinh doanh thuộc ngành công nghiệp cơ khí góp phần đẩy nhanh tiến
trình cơ giới hóa nông nghiệp và phát triển giao thông nông thôn tại địa
phương khu vực đồng bằng sông Cửu Long và cả nước, phục vụ mục tiêu
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn của Đảng Nhà nước và
tham gia thị trường xuất khẩu
II. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạ
n, sơ đồ tổ chức công ty:

được giao đúng luật định.
- Được ký kết hợp đồng tuyển dụng lao động theo chế độ và chính
sách tuyển dụng lao động của nhà nước.
2. Sơ đồ tổ chức và nhiệm vụ các phòng ban :
2.1. Sơ đồ tổ chức:

GVHD:Nguyễn Tri Như Quỳnh_ SVTH:Đoàn Hà Hồng Nhung -
25
-

Trích đoạn DANH SÁCH CÁN BỘ CÔNG NHÂN VIÊN ĐƯỢC HƯỞNG LƯƠNG KHUYẾN KHÍCH NĂM Trả lương sản phẩm: BẢNG CHẤM CÔNG TỔ ĐÚC PHÂN XƯỞNG CƠ KHÍ 2/2003 Đvt: đồng Điều chỉnh quỹ lương: Tiền lương bổ sung ( lương tháng 13 ): được lấy từ quỹ tiền lương với cách tính như sau:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status