Một số giải pháp nhằm tiếp tục khuyến khích các hoạt động đầu tư trong nước - Pdf 10

Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
BẢNG KÊ CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1. KKĐTTN = Khuyến khích đầu tư trong nước
2. TSCĐ = Tài sản cố định .
3. DA' = Dự án .
4. KCX = Khu chế xuất .
5. KCN = Khu công nghiệp .
6 . TƯ = Trung ương .
7. XHCN = Xã hội chủ nghĩa .
8. NĐ = Nghị định .

1
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
LỜI NÓI ĐẦU
Đổi mới cơ chế và nâng cao hiệu quả đầu tư nói
chung, đầu tư trong nước nói riêng, là một nội dung quan
trọng của quá trình đổi mới kinh tế theo hướng kinh tế thị
trường ở nước ta. Ngay sau khi kết thúc các cuộc chiến
tranh biên giới phía Bắc và Tây Nam, năm 1979, với Nghị
quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 6 (Khoá IV), Đảng ta
đã khởi xướng những quan điểm đầu tiên về giải phóng
tiềm năng trong nước, bước đầu gỡ bỏ những trì hãm của
cơ chế cũ, tạo tiền đề cho nhân tố mới và cơ chế mới ra đời
và phát triển. Tư tưởng chỉ đạo của các chính sách của
Đảng và nhà nước ta từ đó đến nay, đặc biệt là Nghị quyết
Hội nghị Trung ương 4 (khoá VIII), đề cao việc khai thác
và phát huy tốt những tiềm năng nội lực, coi đó như là một
yếu tố cốt lõi bảo đảm cho sự phát triển đất nước diễn ra
một cách bền vững lâu dài và đúng hướng.

Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
Phần I: Một số vấn đề chung về đầu tư và khuyến khích đầu tư trong
nước.
Phần II: Thực trạng hoạt động khuyến khích đầu tư trong nước những
năm qua.
Phần III: Những giải pháp chủ yếu tiếp tục khuyến khích các hoạt
động đầu tư trong nước.
Qua đây em xin gửi lời cảm ơn đến GS. TS .Đỗ Hoàng Toàn, TS.
Nguyễn Lê Trung , các thầy cô giáo trong Khoa và các cô chú trong Vụ
doanh nghiệp - Bộ kế hoạch Đầu tư đã giúp em hoàn thành luận văn tốt
nghiệp của mình. Vì thời gian có hạn và sự hiểu biết còn hạn chế nên luận
văn tốt nghiệp của em không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận
được sự góp ý của các thầy cô giáo trong khoa Khoa học quản lý và các cô
chú công tác ở Vụ doanh nghiệp để luận văn của em được hoàn thiện hơn.
Em xin cam đoan nội dung báo cáo đã viết là do bản thân thực hiện,
không sao chép, cắt ghép các báo cáo hoặc luận văn của người khác. Nếu sai
phạm em xin chịu kỷ luật với nhà trường.
Hà Nội 01/06/2001
Sinh viên: Trần Công Khanh
PHẦN I

4
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ VÀ
KHUYẾN KHÍCH ĐẦU TƯ TRONG NƯỚC
1. Đầu tư và các hình thức đầu tư
Trong nền kinh tế thị trường, để tiến hành hoạt động kinh doanh thì
điều kiện không thể thiếu là phải có tiền. Đối với các cơ sở sản xuất kinh

Quá trình sử dụng tiền đầu tư, xét về mặt bản chất, là quá trình thực
hiện sự chuyển hoá vốn bằng tiền (vốn đầu tư) thành vốn hiện vật để tạo nên
những yếu tố cơ bản của quá trình tái sản xuất. Đó cũng chính là quá trình
hoạt động đầu tư hay quá trình đầu tư vốn.
Đầu tư trong nước, theo cách diễn đạt của Luật Khuyến khích đầu tư
trong nước năm 1994 là việc bỏ vốn vào sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam
của các tổ chức, công dân Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài,
người nước ngoài cư trú lâu dài ở Việt Nam (Điều 2 - Luật Khuyến khích
đầu tư trong nước năm 1994). Luật Khuyến khích đầu tư trong nước (sửa
đổi) số 03/1998/QH10 cũng có quan niệm về đầu tư trong nước tương tự.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm
1996, diễn đạt như sau: "là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam
vốn bằng tiền hoặc bằng bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư
theo quy định của luật này". Đối tượng của luật đầu tư nước ngoài là tổ chức

6
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
kinh tế, cá nhân nước ngoài đầu tư vào Việt Nam. Đối tượng của Luật
Khuyến khích đầu tư trong nước gồm: tổ chức, công dân Việt Nam, người
Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài cư trú lâu dài (hay còn
gọi là thường trú) tại Việt Nam. Các đối tượng tham gia hoạt động đầu tư có
yếu tố nước ngoài thì có thể lựa chọn một trong hai Luật.
Tuỳ theo góc độ đề cập, hoạt động đầu tư trong nước có thể được phân
theo các tiêu thức sau:
- Theo tính chất của các đối tượng đầu tư, hoạt động đầu tư gồm:
+ Đầu tư cho đối tượng vật chất: nhà xưởng, máy móc thiết bị, công
trình hạ tầng... là điều kiện tiên quyết, cơ bản làm tăng tiềm lực của nền kinh
tế.
+ Đầu tư cho đối tượng tài chính: mua cổ phần, cổ phiếu... là điều kiện

chủ thể khác, giữ vai trò đặc biệt quan trọng, có khi là then chốt, là các cá
nhân, tổ chức mua các loại chứng chỉ có giá trị như cổ phiếu, trái phiếu để
hưởng lợi tức (còn gọi là đầu tư tài chính).
+ Đầu tư trực tiếp: ở đây người bỏ vốn trực tiếp tham gia quản lý hoặc
điều hành quá trình thực hiện và vận hành các kết quả đầu tư. Đầu tư trực
tiếp lại được phân thành: đầu tư chuyển dịch và đầu tư phát triển.

8
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
++ Đầu tư chuyển dịch là loại đầu tư trong đó, người có tiền mua lại
một số cổ phiếu đủ lớn để nắm quyền chi phối hoạt động của doanh nghiệp.
Trong trường hợp này, việc đầu tư không làm gia tăng tài sản của doanh
nghiệp, mà chỉ làm thay đổi quyền sở hữu các cổ phần của doanh nghiệp.
++ Đầu tư phát triển là loại bỏ vốn đầu tư để tạo nên những năng lực
sản xuất phục vụ mới (cả về chất và lượng). Đây là loại đầu tư để tái sản
xuất mở rộng, là biện pháp chủ yếu để tạo việc làm cho người lao động, là
tiền đề để thực hiện đầu tư tài chính và đầu tư chuyển dịch.
- Căn cứ vào thời gian thực hiện và thời gian phát huy tác dụng, hoạt
động đầu tư có thể phân chia thành:
+ Đầu tư thương mại: là hoạt động đầu tư là thời gian thực hiện đầu tư
và hoạt động của các kết quả đầu tư để thu hồi đủ vốn đầu tư ngắn hạn, vốn
vận động nhanh, mức độ mạo hiểm thấp do trong một thời gian ngắn, tính
bất động không cao, lại dễ dự đoán và độ chính xác của dự đoán khá cao.
+ Đầu tư sản xuất: Là loại đầu tư dài hạn, vốn đầu tư lớn, thu hồi chậm,
thời gian thực hiện đầu tư lâu, độ mạo hiểm cao, vì tính chất kỹ thuật của
hoạt động đầu tư phức tạp, phải chịu tác động của nhiều yếu tố bất định
trong tương lai không dự đoán trước được hoặc chất lượng dự đoán khó
chính xác (về nhu cầu, giá cả đầu vào, cơ chế, chính sách, tốc độ phát triển
khoa học kỹ thuật, thiên tai, sự ổn định về chính trị...). Loại đầu tư này phải


10
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
1987, trong tổng vốn huy động cho đầu tư, nguồn vốn huy động từ ngân
sách Nhà nước chiếm vị trí chủ yếu. Từ 1988 đến nay, với chính sách mở
cửa, phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, nền kinh tế nước ta đang
từng bước hoà nhập với khu vực và trên thế giới đã tạo điều kiện thuận lợi
để chúng ta mở rộng dần diện huy động vốn trong nước, đồng thời thu hút
thêm các nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài. Cho đến nay, nguồn vốn cho đầu tư
ở nước ta khá phong phú hơn trước và chủ yếu được huy động từ các nguồn
chính:
* Vốn huy động trong nước:
- Vốn ngân sách tập trung: đây là nguồn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
đối với các hoạt động đầu tư trong nước. Nguồn này hiện nay chủ yếu được
tập trung cho đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế và xã hội, đầu tư phát
triển một số công trình công nghiệp then chốt, bảo đảm giữ các cao điểm
trong nền kinh tế quốc dân, các công trình liên quan đến An ninh - Quốc
phòng.
- Vốn của các doanh nghiệp Nhà nước: nguồn vốn này luôn có vai trò
quan trọng rất lớn và có tác dụng trực tiếp nhất đối với tốc độ tăng trưởng
hàng năm tổng sản phẩm trong nước. Đây chính là nguồn vốn mà các chính
sách kinh tế vĩ mô xem là một đối tượng hàng đầu tác động vào nền kinh tế,
có vai trò rất lớn trực tiếp tác động tới tốc độ tăng trưởng bình quân trong
các năm sắp tới.
- Vốn của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh: nguồn này chủ yếu
dùng vào các định hướng đầu tư phát triển chiều sâu, đổi mới công nghệ, đa

11
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ

dụng, có hiệu quả hơn, đặc biệt trong việc cải thiện và phát triển các vấn đề
xã hội.
- Vốn đầu tư trực tiếp (FDI) của tư nhân nước ngoài: đây là nguồn vốn
khá lớn và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Một mặt, nó tạo điều kiện thuận
lợi cho quá trình chuyển giao công nghệ, đào tạo kỹ thuật nghiệp vụ và tìm
thị trường tiêu thụ hàng hoá ổn định trong điều kiện Việt Nam còn thiếu
kinh nghiệm kinh doanh trên trường quốc tế. Mặt khác vốn FDI gắn với
trách nhiệm bảo toàn và phát triển vốn của bên nước ngoài đỡ được gánh
nặng nợ nần của Chính phủ.
- Vốn của Kiều dân Việt Nam làm ăn, sinh sống ở nước ngoài: Người
Việt Nam định cư ở nước ngoài nói chung không có nhiều vốn như Kiều dân
của một số nước khác như Trung Quốc, ... nhưng không phải là không có.
Do đó một mặt phải xây dựng được chính sách thích hợp để thu hút đầu tư
của họ; mặt khác cần phát huy tiềm năng của Việt kiều làm cầu nối để thu
hút vốn của các quốc gia nơi họ sinh sống đầu tư vào Việt Nam.
Thực tế ngày càng chứng tỏ rằng, nếu không huy động tốt và đủ các
nguồn vốn đầu tư trong nước thì rất khó có thể khai thác và sử dụng có hiệu
quả những nguồn đầu tư lớn từ bên ngoài nhằm phục vụ định hướng phát
triển đất nước. Chính vì vậy trong công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế
theo đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước ta hiện nay, chiến lược lâu
dài của nước ta là tăng nhanh tiết kiệm nội địa, huy động tối đa nguồn vốn

13
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
trong nước, nâng dần tỷ trọng vốn trong nước trong tổng nguồn vốn đầu tư
toàn xã hội.
2 - Khuyến khích đầu tư trong nước
2.1. Nhận thức
Khuyến khích đầu tư trong nước là việc sử dụng các cơ chế, chính sách,

hành từ ngày 1/1/1995. Để hướng dẫn thực hiện Luật này, ngày 12 tháng 5
năm 1995, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 29/CP quy định chi tiết thi
hành Luật KKĐTTN. Đây là những văn bản pháp luật đầu tiên ở cấp Luật và
cấp Nghị định nhằm điều chỉnh các quan hệ chủ yếu về KKĐTTN ở nước ta.
Tuy mới được triển khai thực hiện từ 1/1/1995, Luật KKĐTTN đã có những
đóng góp đáng kể cho sự phát triển kinh tế đất nước đem lại những luận
điểm, kết quả đáng mừng, góp phần thúc đẩy đáng kể hoạt động đầu tư trong
nước.
Muốn khuyến khích một hoạt động nào đó, trước hết phải hình thành
được ý tưởng khuyến khích. Khâu tiếp theo là phải thiết kế được cơ chế vận
hành cụ thể rồi tiến hành pháp lý hoá chung. Nói đến chính sách khuyến
khích là nói trên tổng thể, trên những nét khái quát nhất thuộc lĩnh vực ý
tưởng khuyến khích. ý tưởng đó có vào được cuộc sống hay không và mức
độ chấp nhận, thái độ của đông đảo quần chúng trong việc đón nhận ý tưởng
đó như thế nào phần nhiều phụ thuộc vào khâu thiết kế cơ chế vận hành và
tính chính xác, tính khách quan của khâu pháp lý hoá. Trong việc khuyến

15
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
khích đầu tư trong nước cũng vậy, muốn đạt được mục tiêu phát triển nào
đó, trong những điều kiện lịch sử cụ thể thái độ khuyến khích cần được xác
định rõ ràng. Đây cũng là điều kiện đầu tiên để đảm bảo yêu cầu về tính nhất
quán của chính sách. Khâu tiếp đến hết sức cơ bản là việc thiết kế cơ chế
vận hành của chính sách. Công việc này thường do các nhà chuyên môn kịp
ra chính sách thực hiện dưới sự chỉ đạo của các nhà chính trị. Khâu này phải
bảo đảm thoả mãn 3 yêu cầu cùng một lúc: thể hiện được thái độ chính trị
của nhà nước trong việc khuyến khích, quy phạm hoá các quan hệ khuyến
khích cần điều chỉnh bằng luật pháp và cuối cùng là bảo đảm khả năng chấp
nhận của quần chúng số đông (khía cạnh tâm lý xã hội).

KKĐTTN (sửa đổi) số 03/QH10; Hai là từ ngày 01/01/1999 đến nay. Trong
thời kỳ thứ nhất cũng có thể chia thành hai giai đoạn nhỏ: giai đoạn thực
hiện Nghị định số 29/CP ngày 12/5/1995 của Chính phủ quy định chi tiết thi
hành Luật KKĐTTN cho đến ngày 30/01/1998 ngày mà Nghị định số
07/1998/NĐ-CP thay thế Nghị định số 29/CP chính phủ; giai đoạn từ Nghị
định 07 có hiệu lực đến ngày 01/01/1999 tức là ngày Luật KKĐTTN (sửa
đổi) số 03/QH10 có hiệu lực - thực hiện Nghị định số 51/1999/NĐ-CP- cho
đến nay. Xét về mặt kỹ thuật của vấn đề pháp lý có thể có một số điểm
không giống nhau quy định tại các văn bản quy phạm, song xét về tư tưởng
chính sách thì những nội dung về khuyến khích, hỗ trợ, ưu đãi không cách
nhau quá xa. Nhiều nội dung quy định tại Luật KKĐTTN năm 1994 đã được

17
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
các văn bản quy phạm pháp luật sau đó hoàn thiện và bổ sung dần. Dưới đây
là một số nội dung về hỗ trợ và ưu đãi mà Luật KKĐTTN đề cập.
Mục đích của Luật KKĐTTN được xác định rõ ràng ở căn cứ ban hành
Luật. Đó là, để huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn vốn, tài nguyên
lao động và các tiềm năng khác của đất nước nhằm góp phần phát triển kinh
tế xã hội, vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh. Cả
Luật 1994 và Luật 1998 đều quy định như vậy. Đồng thời cả hai Luật đều
khẳng định sự bảo hộ, sự khuyến khích của Nhà nước đối với mọi tổ chức,
công dân đầu tư trên lãnh thổ Việt Nam. Tuy nhiên Luật 1998 còn nói rõ và
khẳng định một sự "đối xử bình đẳng", "sự tạo điều kiện thuận lợi" của Nhà
nước đối với các chủ thể tham gia đầu tư.
2.2.1. Luật quy định ba loại hình đầu tư được áp dụng theo Luật Khuyến
khích đầu tư trong nước bao gồm:
a - Dự án đầu tư thành lập và phát triển cơ sở sản xuất kinh doanh mới
thuộc mọi thành phần kinh tế.

a - Giao đất hoặc cho thuê đất theo quy định của pháp luật về đất đai.
b - Xây dựng kết cấu hạ tầng các khu công nghiệp (KCN) để cho thuê
làm mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất kinh doanh.

19
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
c - Lập và khuyến khích các quỹ hỗ trợ đầu tư để cho vay đầu tư trung
hạn và dài hạn. Chính phủ quy định về tổ chức và hoạt động của các quỹ hỗ
trợ đầu tư.
d - Góp vốn thông qua các quỹ hỗ trợ đầu tư, Ngân hàng Thương mại,
Công ty Tài chính, vào các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc các thành phần
kinh tế trên cơ sở cùng có lợi.
e - Quy định việc bảo lãnh tín dụng đầu tư của các Ngân hàng, Tổ chức
tín dụng và Công ty tài chính.
g - Phổ biến và chuyển giao công nghệ; tạo điều kiện cho các chủ đầu
tư được sử dụng với mức phí ưu đãi các công nghệ mới, tạo ra từ vốn ngân
sách Nhà nước.
h - Hỗ trợ việc tổ chức thực hiện các chương trình, dịch vụ khuyến
khích đầu tư gồm: Tư vấn quản lý kinh doanh, tư vấn pháp lý, tổ chức dạy
nghề và đào tạo cán bộ kỹ thuật, đào tạo và nâng cao kiến thức quản lý cung
cấp thông tin kinh tế.
2.2.4 - Các dự án đầu tư được hưởng ưu đãi:
Luật KKĐTTN dành một chương quy định về các nội dung ưu đãi đầu
tư bắt đầu bằng việc xác định rõ các loại dự án được hưởng ưu đãi. Luật
KKĐTTN còn quy định các dự án đầu tư được hưởng ưu đãi như:
2.2.4.1 - Các dự án đầu tư Đầu tư vào các lĩnh vực:
a) Trồng rừng, trồng cây trên đất chưa sử dụng, tận dụng, khai thác đất
trống, đồi núi trọc vào mục đích kinh doanh; nuôi trồng thuỷ sản ở các vùng


d) Công nghệ sạch, công nghệ sử dụng các chất phế thải rắn, lỏng, khí.
2.2.4.5 - Đầu tư vào các dự án sản xuất, kinh doanh sử dụng số lao động
bình quân trong năm ít nhất là:
a) ở đô thị loại 1 và loại 2: 100 người.
b) ở các vùng, huyện thuộc vùng dân tộc thiểu số, miền núi, hải đảo và
các vùng khó khăn khác (được quy định tại danh mục B và C Nghị định
07/1998/ND-CP): 20 người.
c) Các vùng khác: 50 người.
2.2.5 - Các nội dung ưu đãi chủ yếu theo Luật Khuyến khích đầu tư trong
nước:
Từ 2 và 1 xác định các loại dự án được hưởng ưu đãi, Luật KKĐTTN
và các văn bản Nghị định của Chính phủ quy định và cụ thể hoá các nội
dung ưu đãi chủ yếu theo Luật Khuyến khích đầu tư trong nước, đó là:
2.2.5.1 - Ưu đãi về thuế:
Luật KKĐTTN quy định việc miễn, giảm đối với các loại thuế như:
thuế doanh thu, thuế lợi tức, thuế tài nguyên (Nghị định số 07 quy định thêm
trên cơ sở quy định của Luật thuế tài nguyên), thuế thu nhập cá nhân, kể cả
thuế thu nhập bổ sung đối với người có thu nhập cao, thuế chuyển lợi nhuận
ra nước ngoài, và thuế nhập khẩu máy móc, thiết bị.
2.2.5.2 - Ưu đãi về đất đai:

22
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
Một số dự án được Nhà nước giao đất thì không phải trả tiền sử dụng
đất, còn những dự án phải thuê đất thì có các chế độ miễn giảm tiền thuê đất
theo quy định của Luật Khuyến khích đầu tư trong nước.
2.2.5.3 - Ưu đãi về vay vốn từ Quỹ hỗ trợ đầu tư Quốc gia, bảo lãnh tín
dụng và vay tín dụng xuất khẩu.
Quỹ hỗ trợ đầu tư Quốc gia thực hiện chức năng hỗ trợ thông qua việc

Tuy nhiên, kết quả quan trọng đó vẫn còn nhiều mặt hạn chế, còn thấp
xa so với tiềm năng có thể và cần khai thác, cũng như chưa tương xứng với
yêu cầu của công cuộc phát triển. Đất nước ta đang chuyển sang một giai
đoạn phát triển mới, theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá càng đòi hỏi
sự phát triển phải có tính ổn định vững chắc hơn và nhịp độ tăng trưởng phải
duy trì được ở mức cần thiết. Điều đó đòi hỏi bên cạnh việc tìm mọi biện
pháp thu hút tốt hơn các nguồn vốn từ bên ngoài phải hết sức coi trọng việc
khơi thông các nguồn vốn đầu tư trong nước bảo đảm cho các nguồn vốn
này ngày càng có vị trí quan trọng trong hoạt động đầu tư, thể hiện rõ dần
vai trò quyết định trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Kinh nghiệm thành công của nhiều nước trên Thế giới cho thấy, không
một nước nào đã phát triển kinh tế thành công mà chỉ duy nhất dựa vào
nguồn vốn từ nước ngoài. Nếu như trong giai đoạn đầu, khi đất nước còn
nghèo và chưa phát triển, tỷ lệ vốn nước ngoài có thể cao, song trong toàn

24
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
bộ quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cùng với quá trình phát triển, tỷ
lệ vốn nước ngoài thường thấp hơn so với tỷ lệ vốn trong nước và theo thời
gian, các nguồn vốn trong nước ngày càng chiếm vị trí quyết định. Đó là
thực tế và là yêu cầu khách quan của sự phát triển nhanh, bền vững và bảo
đảm được sự độc lập của nền kinh tế trong quá trình phát triển và hội nhập.
Đó cũng còn là điều kiện khách quan cho sự độc lập về thể chế chính trị của
một đất nước.
Xuất phát từ luận điểm trên và đáp ứng ý nguyện của nhân dân trong
nước và Việt kiều ở nước ngoài, nhất là của giới kinh doanh, Nhà nước Việt
Nam đã và đang cho xúc tiến mạnh mẽ quá trình chuẩn bị khung pháp lý cần
thiết để tạo môi trường thu hút mọi nguồn vốn tiềm tàng trong dân đầu tư
vào sản xuất kinh doanh. Nhằm phục vụ mục tiêu đó, bên cạnh việc điều tra


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status