LỜIMỞĐẦU
Ngày 11/7/1998, chính phủđã ban hành nghị quyết số 48/1998/NĐ-TTg
về việc thành lập trung tâm giao dịch chứng khoán Hà nội và thành phố Hồ
Chí Minh. Đây là những văn bản pháp lýđầu tiên cho việc thành lập và hoạt
động của TTCKở Việt Nam.
Theo đó UBCKNN và các bộ ngành đã tích cực chuẩn bị các điều kiện
cần thiết cho sự ra đời TTCKmà bước đi đầu tiên là thành lập trung tâm giao
dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh.
Như vậy, có thể thấy TTCK còn khá mới mẻở Việt nam, có những mặt
được và tồn tại những mặt cần khắc phục .Do đó em đã chọn đề tài: "TTCK
Việt Nam và một số giải pháp để tiếp tục phát triển"để nghiên cứu trong
bài tiểu luận này. Bài viết được chia làm 3 phần chính:
I: Tìm hiểu về thị trường chứng khoán.
II: TTCKViệt Nam.
III: Những giải pháp hoàn thiện TTCKViệt Nam.
1
PHẦN NỘIDUNG
I. Tổng quan về thị trường chứng khoán (TTCK)
1. Khái niệm:
TTCKlà hoạt động giao dịch mua bán các loại chứng khoán dài hạn (cổ
phiếu, trái phiếu) có tổ chức, theo pháp luật (luật giao dịch chứng khoán).
TTCKlà nơi chắp nối quan hệ cung và cầu vốn đầu tư dài hạn của nền kinh tế
quốc gia và quốc tế, là nơi gặp gỡ giữa những người cần vốn huy động đầu tư
(người phát hành chứng khoán) với những người có vốn nhàn rỗi muốn đầu tư
(người muốn mua chứng khoán) cũng như giữa các nhà kinh doanh chứng
khoán với nhau.
2. Chức năng của thị trường chứng khoán trong nền kinh tế quốc dân
a. Chắp nối tích luỹ với đầu tư:
TTCKlà nơi thu hút mạnh mẽ mọi nguồn vốn nhàn rỗi và tạm thời nhàn
rỗi trong nước và ngoài nước và chuyển giao những nguồn này cho các nhu
cầu đầu tư phát triển.
bí mật. Đây là một nguyên tắc rất cơ bản và quan trọng của thị trường chứng
khoán.
3.4. Thực hiện chếđộ kế toán theo tiêu chuẩn quốc tế:
Những công ty đãđăng ký và có cổ phiếu niêm yết trên TTCKphải thực
hiên chếđược báo cáo định kỳ, đúng tiêu chuẩn. Các báo cáo chỉ có giá trị sau
khi đãđược tổ chức kiểm toán xem xét và xác nhận. Các tài liệu được công bố
công khai trên thị trường đều phải được kiểm toán.
3.5. Pháp chế hoá mọi giao dịch:
Mọi nghiệp vụ giao dịch đều được quy định bằng các đạo luật, quy chế,
điều lệ của thị trường chứng khoán, nhằm bảo vệ các nhàđầu tư.
II. TTCK Việt Nam:
3
1. Những thuận lợi cơ bản hình thành và phát triển TTCK ở nước
ta
Thứ nhất, chúng ta có hệ thống chính trịổn định, hơn mười lăm năm đổi
mới, từĐại hội Đảng khóa VI năm 1986, chúng ta đã thu được những thành
quảđáng phấn khởi, uy tín của Đảng Cộng sản Việt Nam được củng cố, nhân
dân tin Đảng, chấp hành tốt chủ trương đường lối đổi mới của Đảng.
Thứ hai, nền kinh tế nước ta đạt mức phát triển cao vàổn định, mức
tăng trưởng GDP hàng năm bình quân từ 6% đến 7% năm 1986 tăng 2,84%
so với 1985, đến năm 1996 tăng 9,34% so với 1995, năm 2001 tăng 6,8% dự
kiến năm 2002 GDP tăng 7%: lạm phát được kiểm soát ở mức dưới 10% một
năm (năm 1994: 8,8%; năm 1995: 12,7%, năm 1996: 1,5%. . . năm 2002:
5%), hàng năm chúng ta tạo thêm khoảng 1,2- 1,3 triệu việc làm mới, từng
bước xóa đói giảm nghèo cho khoảng 30 vạn hộ dân. . .
Thứ tư, quá trình cải cách và cơ cấu lại hệ thống ngân hàng Việt Nam
đảm bảo an toàn và hiệu quả trong hoạt động kinh doanh theo luật ngân hàng
nhà nước và luật các tổ chức tín dụng. Hệ thống này bao gồm Ngân hàng nhà
nước, các ngân hàng thương mại 100% vốn nước ngoài, ngân hàng liên
doanh, ngân hàng quốc doanh, ngân hàng cổ phần, công ty tài chính, quỹ tín
chúng ta sẽ có các nhà chuyên gia chứng khoán, những nhà tạo lập thị trường
và phân tích chuyên nghiệp.
Thứ chín, nước ta là nước đang phát triển, tài nguyên thiên nhiên chưa
được thăm dò, khai thác, đây là yếu tố quan trọng thu hút vốn đầu tư nước
ngoài. Chính sách mở cửa kinh tế, hội nhập với bên ngoài đã thu được kết quả
khả quan tạo thế thuận lợi cho TTCK nước ta.
Thứ mười, các văn bản quy định pháp luật của nhà nước về chứng
khoán và thị trường chứng khoán như: Thông báo số 91/TB/TW, ngày
28/9/1991 của thường vụ Bộ chính trị về việc chuẩn bị thành lập TTCK ở
Việt Nam: Nghịđịnh số 75/1996/ND-CP ngày 28/11/1996 của thủ tướng
5