Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS)
LỜI MỞ ĐẦU
Kể từ khi trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Quốc tế (WTO), Việt
Nam đã đạt được nhiều bước tiến đáng kể cả về kinh tế, chính trị và xã hội, không
những nâng cao được vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế mà còn nâng cao được
mức sống của người dân. Một trong những động lực của sự phát triển này là do Việt
Nam, với tư cách là một thành viên chính thức của WTO, phải tham gia ký kết và
cam kết thực hiện tất cả các hiệp định đa phương của tổ chức này. Tuy nhiên, bên
cạnh những thành quả đã đạt được, Việt Nam vẫn đang gặp nhiều khó khăn trong
việc thực hiện các hiệp định, trong đó có “Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới
thương mại của quyền sở hữu trí tuệ” (gọi tắt là Hiệp định TRIPS). Mặc dù đã ban
hành Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 và sửa đổi năm 2009, song tại Việt Nam, quyền
sở hữu trí tuệ vẫn đang là một vấn đề chưa được thực hiện triệt để, gây ra rào cản lớn
đối với sự phát triển thương mại quốc tế cũng như thực hiện cam kết xây dựng hệ
thống bảo hộ hữu hiệu quyền sở hữu trí tuệ với WTO.
Chính vì lý do đó, nhóm 9 đã quyết định chọn đề tài “Hiệp định về các khía
cạnh thương mại liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ” nhằm nghiên cứu tình hình
thực hiện các cam kết trong Hiệp định TRIPS tại Việt Nam, từ đó đưa ra những kiến
nghị, giải pháp để vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ không còn là rào cản đối tiến
trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới của Việt Nam.
Nhóm 9 – Chính sách Thương mại Quốc tế và Việt Nam
1
Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS)
PHẦN I : HIỆP ĐỊNH VỀ CÁC KHÍA CẠNH LIÊN QUAN TỚI
THƯƠNG MẠI CỦA QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ (HIỆP ĐỊNH TRIPS)
1. Hoàn cảnh ra đời và nội dung cơ bản của Hiệp định TRIPS
1.1. Hoàn cảnh ra đời
Sở hữu trí tuệ (SHTT) là một vấn đề xuất hiện từ rất sớm, ngay từ thế kỷ 19 đã
có nhiều điều ước đa phương về SHTT như Công ước Paris (1983), Công ước Berne
(1886), Công ước Rome (1961)… Tuy nhiên, chỉ từ những năm 1980 trở lại đây,
SHTT mới trở thành mối quan tâm thường xuyên và là điều kiện để tham gia các thể
Theo quy định của Hiệp định TRIPS, việc ban hành và thực thi các biện pháp
bảo hộ về quyền SHTT phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
a) Đối xử tối huệ quốc (MFN)
Điều 4 của Hiệp định quy định thành viên WTO phải dành cho tất cả các
thành viên khác sự bảo hộ đối với các quyền SHTT như nhau, nhằm bảo đảm sự công
bằng giữa các nước thành viên
b) Đối xử quốc gia (NT)
Điều 3 của Hiệp định quy định: “Mỗi Thành viên phải chấp nhận cho các
công dân của các Thành viên khác sự đối xử không kém thiện chí hơn so với sự đối
xử của Thành viên đó đối với công dân của mình trong việc bảo hộ SHTT”
Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt (được quy định tại Điều 3 và
Điều 4 của Hiệp định), các thành viên có thể được miễn trừ các nghĩa vụ tuân thủ
Hiệp định TRIPS.
1.4. Các quy định cơ bản của hiệp định TRIPS
Các quy định cơ bản của Hiệp định có thể chia thành 5 nhóm sau:
- Nhóm 1 gồm các quy định liên quan đến việc thực hiện sự bảo hộ theo nguyên
tắc đối xử quốc gia và tối huệ quốc, đặc biệt đối với việc cấp bằng độc quyền, xác lập,
hưởng, phạm vi, duy trì và thực thi các quyền SHTT;
- Nhóm 2 gồm các quy định về tiêu chuẩn tối thiểu về nội dung bảo hộ, các
quyền kèm theo bằng và thời hạn bảo hộ tối thiểu của 7 loại quyền SHTT.
Nhóm 9 – Chính sách Thương mại Quốc tế và Việt Nam
3
Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS)
- Nhóm 3 gồm các quy định về quyền áp dụng các biện pháp thích hợp nhằm
ngăn chặn chủ SHTT lạm dụng quyền của mình hoặc có hành động hạn chế thương
mại hay chuyển giao công nghệ một cách bất hợp lý;
- Nhóm 4 gồm các quy định về bảo đảm việc thực thi sự bảo hộ bằng các quy
định về cơ chế tổ chức, thủ tục và đền bù có liên quan đến những việc như chủ sở hữu
có thể được hỗ trợ, trợ giúp tạm thời trong luật dân sự; không để hải quan cho qua
hàng giả, hàng ăn cướp hoặc vi phạm quyền SHTT; trừng trị những kẻ làm hàng giả,...;
champagne được hiểu là rượu được sản xuất tại Pháp chứ không phải nơi khác -
Điều 22 và 23);
• Kiểu dáng công nghiệp (ít nhất là 10 năm - Điều 26:3);
• Sáng chế (20 năm từ ngày nộp đơn xin cấp bằng - Điều 33);
• Bảo hộ giống cây trồng;
• Thiết kế - bố trí mạch tích hợp (10 năm từ ngày đăng ký hoặc sử dụng - Điều 38:2 và
38:3);
• Các yêu cầu đối với thông tin mật, bao gồm bí mật thương mại và dữ liệu thử nghiệm
(được bảo hộ chống lại việc tiết lộ không được phép và việc sử dụng không công
bằng vì mục đích thương mại - Điều 39).
Thứ hai: Các biện pháp kiểm soát hành vi lạm dụng quyền SHTT
Thứ ba: Cơ chế thực thi bảo hộ quyền SHTT, gồm có:
• Các thủ tục và chế tài dân sự;
• Các biện pháp tạm thời;
• Các thủ tục và chế tài hành chính;
• Các biện pháp kiểm soát biên giới đặc biệt;
• Các thủ tục hình sự.
Nhóm 9 – Chính sách Thương mại Quốc tế và Việt Nam
5
Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS)
PHẦN II : THỰC TRẠNG ÁP DỤNG HIỆP ĐỊNH TRIPS Ở VIỆT NAM
1. Những động thái từ phía Chính phủ và các cơ quan chức năng
1.1.Sự đổi mới và hoàn thiện pháp luật sở hữu trí tuệ của Việt Nam cho phù hợp
với hiệp định TRIPS
Pháp luật của Việt Nam về quyền SHTT là một lĩnh vực mới được phát triển
trong thời gian qua. Tuy nhiên, với việc nhận thức rõ tầm quan trọng của việc bảo hộ
quyền SHTT tới sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nên trong suốt quá trình
đàm phán gia nhập WTO, Việt Nam đã từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật về
SHTT nhằm đảm bảo sự phù hợp với những điều ước quốc tế trong lĩnh vực này.
Hoạt động bảo hộ quyền SHTT ở nước ta đã được bắt đầu triển khai từ những
thống các quy định hoàn chỉnh và thống nhất về quyền SHTT thay thế cho các quy
định truớc đây. Trong đó Bộ luật Dân sự 2005 là luật gốc còn Luật SHTT 2005 là
luật chuyên ngành, trong trường hợp có sự xung đột giữa hai văn bản thì Luật SHTT
2005 sẽ được áp dụng (Điều 5.2 của Luật SHTT 2005).
Bên cạnh đó, cùng với việc ban hành và triển khai Luật SHTT, nhiều Quyết
định và Nghị định hướng dẫn thi hành cũng đã được ban hành, chủ yếu là để cụ thể
hóa từng khía cạnh, từng lĩnh vực và hướng dẫn thi hành, nên không có sự chồng
chéo, phức tạp.
Đặc biệt, ngày 19/6/2009, Quốc hội đã ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật SHTT (có hiệu lực từ ngày 01/01/2010) nhằm sửa đổi một số bất cập
trong Luật SHTT 2005, cụ thể là một số điều khoản chưa tương thích với điều ước
quốc tế và một số quy định chưa phù hợp với thực tiễn thi hành.
Nhìn vào hệ thống luật pháp SHTT của Việt Nam, có thể khẳng định rằng
chúng ta đã hoàn thành khung pháp lý phù hợp với chuẩn mực quốc tế, điển hình là
Hiệp định TRIPS (WTO), Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ (BTA) và các
thỏa thuận song phương khác; đồng thời đã đáp ứng yêu cầu về tính đầy đủ của Hiệp
định TRIPS, tạo nền tảng vững chắc cho Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế
quốc tế, đẩy mạnh công tác thực thi pháp luật về SHTT.
1.2.Sự tích cực trong công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức về SHTT và mạnh
tay thực thi pháp luật về SHTT
Ngoài các kết quả đạt được về mặt lập pháp, chúng ta còn thấy được sự tích
cực triển khai các chương trình hành động về SHTT của các cơ quan hữu quan. Các
hoạt động hỗ trợ và bổ trợ cho công tác thực thi quyền SHTT như đào tạo cán bộ,
tuyên truyền – phổ biến kiến thức và pháp luật SHTT, về tác hại của hàng giả, hàng
xâm phạm bản quyền cũng được thực hiện thường xuyên, liên tục nhằm nâng cao
nhận thức của các cán bộ quản lý, giới doanh nhân và toàn thể công chúng về SHTT.
Nhóm 9 – Chính sách Thương mại Quốc tế và Việt Nam
7
Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS)
Điển hình nhất, có thể kể đến Chương trình hành động số 168/CTHĐ/VHTT-KHCN-
dừng làm thủ tục hải quan 05 trường hợp, xử lý 03 trường hợp xác định là hàng
Nhóm 9 – Chính sách Thương mại Quốc tế và Việt Nam
8