MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hội nhập kinh tế quốc tế đã, đang và sẽ ngày càng trở nên một nhu cầu
tất yếu và cần thiết của Việt Nam. Gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam
Á (ASEAN) năm 1995, ký kết và phê chuẩn Hiệp định Thương mại Việt
Nam- Hoa Kỳ (BTA) năm 2000, ký kết và phê chuẩn các Hiệp định thương
mại đầu tư với nhiều quốc gia là một số ví dụ điển hình về các hoạt động hội
nhập tích cực của Việt Nam. Gần đây nhất là việc Việt Nam trở thành thành
viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Trở thành thành
viên của tổ chức này đồng nghĩa với việc Việt Nam phải tham gia tất cả các
hiệp định đa biên của WTO, trong đó có Hiệp định về các khía cạnh liên quan
tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (sau đây gọi tắt là Hiệp định TRIPS).
Quyền sở hữu trí tuệ lần đầu tiên được bàn tới trong chương trình nghị
sự của Hiệp định chung về Thương mại và Thuế quan (GATT) tại Vòng đàm
phán về hàng giả ở Tokyo năm 1978. Tuy nhiên phải đến Vòng đàm phán
Urugoay của GATT (1986-1994), quyền sở hữu trí tuệ mới thực sự trở thành
đối tượng thuộc phạm vi điều chỉnh của GATT và với việc thông qua Hiệp
định TRIPS, quyền sở hữu trí tuệ trở thành đối tượng điều chỉnh của WTO.
Tại các nước phát triển, nơi có nền kinh tế tri thức, thương mại điện tử và
khoa học công nghệ ở trình độ cao, vai trò của bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
được nhìn nhận và đánh giá đúng giá trị đích thực của nó. Tuy nhiên, tại các
nước đang phát triển và đặc biệt là chậm phát triển thì quyền sở hữu trí tuệ
đang bị vi phạm nghiêm trọng. Các sản phẩm sao chép, bắt chước được bán
với giá thấp hơn rất nhiều so với các sản phẩm hợp pháp. Kết quả là nhà sản
xuất chân chính không có khả năng thu hồi vốn và lợi nhuận cần thiết để tiếp
tục tồn tại, tiếp tục nghiên cứu và tiếp tục sáng tạo.
Việt Nam không nằm ngoài hiện tượng trên. Là một nước đang phát
triển, đang trong quá trình chuyển đổi, Việt Nam đang phải đối mặt với nạn
hàng giả, hàng nhái tràn lan. Bản thân các doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa
nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và còn
cho rằng đó là việc của Nhà nước. Thậm chí, nhiều doanh nghiệp vẫn hàng
luật, Ohio State University.
- Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới (2001), Cẩm nang sở hữu trí tuệ :
Chính sách, pháp luật và áp dụng.
- Liên minh sở hữu trí tuệ quốc tế (International Interlectual Property
Alliance- IIPA) (2005-2007), Báo cáo tình hình vi phạm sở hữu trí tuệ ở Việt
Nam.
Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu về xây dựng hệ thống
bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ phù hợp với hiệp định TRIPS.
2.2. Ở Việt Nam
Ở Việt Nam cũng có những công trình đáng chú ý sau :
- Trần Hồng Minh (2006), So sánh hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ
của Việt Nam theo Hiệp định TRIPS- WTO, đề tài nghiên cứu khoa học cấp
Bộ.
- Đinh Thị Mai Phương (2004), Cẩm nang pháp luật về sở hữu trí tuệ
và chuyển giao công nghệ (Dùng cho doanh nghiệp, doanh nhân), Nxb Chính
trị Quốc gia.
- Nguyễn Thị Quế Anh (2005), Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các
quy định về xác lập quyền sở hữu công nghiệp, Tạp chí Dân chủ và pháp luật
số tháng 3.
- Đoàn Năng (2005), Thực trạng pháp luật về sở hữu trí tuệ ở Việt nam,
Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số tháng 3.
- Trần Lê Hồng (2007), Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để đưa
sở hữu trí tuệ vào giảng dạy và đào tạo tại các trường đại học, đề án Nghiên
cứu Khoa học cấp Bộ.
Các công trình xuất bản ở nước ngoài nêu trên chỉ tập trung khai thác
khía cạnh tác động của Hiệp định TRIPS tới sức khoẻ cộng đồng và tác động
tới các nước nghèo trong việc hưởng lợi từ những phát minh khoa học trên thế
giới. Các công trình công bố ở Việt Nam phần lớn chỉ nghiên cứu pháp luật về
sở hữu trí tuệ hoặc phân tích vấn đề quyền sở hữu trí tuệ từ thực trạng điều
chỉnh của pháp luật đối với vấn đề bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp và đưa
cam kết theo yêu cầu của Hiệp định TRIPS.
- Chỉ ra các điểm chưa tương thích giữa hệ thống bảo hộ quyền sở hữu
trí tuệ ở Việt Nam so với các yêu cầu của Hiệp định TRIPS.
- Đề xuất các giải pháp cụ thể về xây dựng hệ thống bảo hộ quyền sở
hữu trí tuệ của Việt Nam phù hợp với các quy định của Hiệp định TRIPS
nhằm tạo thuận lợi để Việt Nam thực hiện tốt các cam kết quốc tế của mình.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận án bao gồm những vấn đề liên quan
đến sở hữu trí tuệ, quyền sở hữu trí tuệ, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và hệ
thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Đối tượng nghiên cứu của Luận án còn bao
gồm những quy định của Hiệp định TRIPS, của Việt Nam về bảo hộ quyền sở
hữu trí tuệ và xây dựng hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Ngoài ra, để
hoàn thành luận án, việc phân tích kinh nghiệm của một số nước về xây dựng
hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cũng là đối tượng nghiên cứu của luận
án.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về mặt nội dung, phạm vi nghiên cứu của Luận án giới hạn ở việc
phân tích các quy định trong pháp luật Việt Nam và của Hiệp định TRIPS về
quyền sở hữu trí tuệ, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và hệ thống bảo hộ quyền sở
hữu trí tuệ.
Hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ là một khái niệm rất rộng và phức
tạp với ý nghĩa là tập hợp các bộ phận có mối quan hệ hữu cơ với nhau. Trong
khuôn khổ của một Luận án tiến sỹ, khi phân tích những vấn đề liên quan đến
hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, nội dung của Luận án giới hạn sự phân
tích ở ba bộ phận cấu thành hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Đó là tập
hợp các hoạt động bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của nhà nước, là tập hợp các
hoạt động bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của chủ sở hữu và tập hợp các hoạt
động tạo thành hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của xã hội.
- Về mặt thời gian, Luận án nghiên cứu quá trình xây dựng hệ thống
nội dung của Luận ánđược phân bổ thành ba chương, cụ thể:
Chương 1: Cơ sở khoa học của việc xây dựng hệ thống bảo hộ quyền
sở hữu trí tuệ phù hợp với Hiệp định TRIPS.
Chương 2: Thực trạng xây dựng hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở
Việt Nam.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp xây dựng hệ thống bảo hộ
quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam phù hợp với Hiệp định TRIPS.
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC XÂY DỰNG HỆ THỐNG BẢO HỘ
QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ PHÙ HỢP VỚI HIỆP ĐỊNH TRIPS
1.1. Sở hữu trí tuệ, quyền sở hữu trí tuệ và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
1.1.1. Sở hữu trí tuệ và quyền sở hữu trí tuệ
Sở hữu trí tuệ là một thuật ngữ được cấu tạo bởi hai cụm từ là cụm từ
“sở hữu” và cụm từ “trí tuệ”. Muốn hiểu rõ khái niệm này, cần phải tìm hiểu
nghĩa cả hai cụm từ “sở hữu” và “trí tuệ”.
“Sở hữu” là khái niệm dùng để chỉ sự chiếm hữu của con người đối
với tài sản. Sự chiếm hữu như vậy xuất hiện trong quá trình con người lao
động sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội. Trong quá trình lao động sản
xuất này, con người đã tham gia vào các mối quan hệ xã hội- quan hệ sản
xuất, đồng thời con người cũng chiếm hữu của cải vật chất để phục vụ cho
cuộc sống của mình và phục vụ cho quá trình sản xuất. Đó là quan hệ sở hữu.
Quan hệ sở hữu là quan hệ giữa người với người, trong quá trình lao động sản
xuất và chiếm hữu của cải thu được trong quá trình sản xuất đó. Quan hệ sở
hữu tồn tại trong mọi chế độ xã hội. Sở hữu là “chiếm hữu, sử dụng và hưởng
thụ của cải vật chất trong xã hội” [46, tr.1077]. Của cải vật chất trong xã hội
là những giá trị hữu hình hoặc vô hình đem lại lợi ích thiết thực cho người sở
hữu. Hay nói cách khác, của cải vật chất này chính là tài sản [46, tr.1096].
Có hai loại tài sản, tài sản hữu hình và tài sản vô hình. Tài sản trí tuệ là
tài sản vô hình. “Trí tuệ” là thuật ngữ chỉ “khả năng nhận thức lý tính của con
tuệ được hiểu là “quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ” [46,
tr.1076]. Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam năm 2005 quy định rằng quyền sở hữu
trí tuệ là “quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền
tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và
quyền đối với giống cây trồng.” (Điều 4, khoản 1 Luật Sở hữu trí tuệ năm
2005). Quyền sở hữu công nghiệp được hiểu (tại điều 4 khoản 4 Luật này) là
quyền đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp
bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý.
Pháp luật nhiều nước không định nghĩa thế nào là quyền sở hữu trí tuệ
mà chỉ liệt kê các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ.
.
Ví dụ, Bộ luật Sở hữu
trí tuệ năm 2003 của Pháp không nêu khái niệm về quyền sở hữu trí tuệ mà
chỉ liệt kê những đối tượng thuộc sự điều chỉnh của Bộ luật này, đó là quyền
tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng mới tại
điều L111-1, L412-1, L511-1, L611-2 [63]. Theo đó, quyền sở hữu công
nghiệp gồm quyền đối với phát minh, sáng chế, nhãn hiệu hàng hoá, kiểu
dáng công nghiệp và bí quyết công nghệ.
Pháp luật của Hoa Kỳ cũng không có quy định khái niệm của quyền sở
hữu trí tuệ mà chỉ quy định cụ thể về từng đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ.
Bộ luật Hoa Kỳ năm 1996 (United States Code 1996) dành hẳn quyển 7,
chương 58 để đưa ra những quy định về bảo hộ giống cây trồng; quyển 15,
chương 22 về nhãn hiệu hàng hoá; toàn bộ quyển 17 về quyền tác giả; quyển
35 về bằng phát minh, kiểu dáng công nghiệp [74].
Pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ của Nhật Bản thay vì nêu khái niệm
quyền sở hữu trí tuệ, cũng chỉ liệt kê các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ
bao gồm quyền đối với bằng phát minh (bao gồm cả bằng bảo hộ giống cây
trồng mới), giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá,
quyền tác giả, bí quyết thương mại, hành vi chống cạnh tranh không lành
mạnh [54, tr.2].
mở rộng hoặc thu hẹp tuỳ theo cách quy định của từng nước. Ví dụ như quyền
sở hữu công nghiệp ở Hoa Kỳ và Nhật không bao gồm chỉ dẫn địa lý trong
khi đây lại là đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp theo Hiệp định
TRIPS, WIPO, Việt Nam, v.v.
Trên cơ sở nhận xét ở trên, tác giả Luận án cố gắng phân tích để làm rõ
hơn khái niệm về quyền sở hữu trí tuệ. Quyền sở hữu trí tuệ là quyền chiếm
hữu, sử dụng và định đoạt các tài sản trí tuệ. Không phải mọi tài sản trí tuệ
đều được nhà nước ghi nhận và bảo hộ. Pháp luật các nước đều liệt kê các tài
sản trí tuệ mà các chủ thể có quyền sở hữu. Luận án chọn cách liệt kê của
Hiệp định TRIPS về các tài sản trí tuệ được bảo hộ để nghiên cứu, theo đó
quyền sở hữu trí tuệ gồm quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền
đối với giống cây trồng. Quyền sở hữu công nghiệp gồm quyền đối với nhãn
hiệu hàng hoá, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng công nghiệp, patent (bằng phát
minh), thiết kế bố trí mạch tích hợp, bảo hộ thông tin bí mật và khống chế các
hoạt động chống cạnh tranh trong các hợp đồng li- xăng.
Quyền sở hữu trí tuệ có những đặc điểm sau:
- Quyền sở hữu trí tuệ được điều chỉnh bằng pháp luật rất muộn so với
quyền sở hữu tài sản hữu hình mặc dù trên thực tế đã tồn tại sự sáng tạo
không ngừng của con người trong quá trình lao động, sản xuất, kinh doanh.
Cùng với lao động tạo ra của cải vật chất, con người đã tạo ra các sản phẩm
tinh thần như các bài hát, bài thơ, v.v. Đồng thời, cũng trong lao động tạo ra
vật chất, con người tạo ra những giải pháp kỹ thuật dưới dạng sáng chế, giải
pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp nhằm nâng cao hơn chất lượng cuộc
sống của mình. Tuy nhiên, phải đến năm 1474, đạo luật đầu tiên điều chỉnh
quyền sở hữu trí tuệ mới xuất hiện, đó là đạo luật về văn bằng phát minh do
thành phố tự trị Venedig cấp cho những người phát minh ra những đồ vật mới
mang tính sáng tạo, được đặc quyền khai thác thương mại đồ vật đó trong thời
hạn 10 năm [36, tr. 184].
- Quyền sở hữu trí tuệ là một quan hệ pháp luật đặc biệt vì khách thể
của quyền này không phải vật cụ thể mà là sản phẩm của lao động sáng tạo
nay vai trò của tri thức, của tài sản trí tuệ ngày càng được khẳng định. Giá trị
kinh tế và khả năng sinh lợi của tài sản trí tuệ đã dẫn đến một thực tế ngày
càng trở nên hiện hữu. Đó là tài sản trí tuệ cũng mang tính thương mại và vì
vậy, pháp luật phải có cách tiếp cận mới đối với quyền sở hữu trí tuệ: tính
thương mại của quyền sở hữu trí tuệ.
- Quyền sở hữu trí tuệ dễ bị xâm phạm hơn bất kỳ quyền sở hữu tài sản
hữu hình nào. Những sản phẩm sáng tạo của trí tuệ một khi đã được bộc lộ
công khai sẽ dễ dàng được phổ biến và bị khai thác giá trị kinh tế thông qua
hệ thống thông tin của một quốc gia, của một khu vực, của các tổ chức quốc
tế. Việc xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ ngày càng phát triển và đã vượt ra
ngoài phạm vi quốc gia, ngoài khả năng kiểm soát của chủ sở hữu và quan
trọng hơn cả là khó có thể ngăn chặn nếu không có những cơ chế bảo hộ hữu
hiệu. Quyền sở hữu trí tuệ được ghi nhận và bảo hộ ở một quốc gia thì không
có nghĩa là sẽ được bảo hộ ở các quốc gia khác. Việc xâm phạm có thể diễn ra
ngay trước mắt chủ sở hữu tại quốc gia khác mà không hề bị coi là phạm
pháp. Do đó, trong điều kiện tự do hoá thương mại, việc bảo hộ quyền sở hữu
trí tuệ trên quy mô quốc tế thông qua các điều ước quốc tế là cần thiết.
1.1.2. Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
Bảo hộ được hiểu là “che chở, không để bị tổn thất” [46, tr. 49]. Như
vậy, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ sẽ là những hành động mang tính chất che
chở quyền sở hữu trí tuệ nhằm không để xảy ra tổn thất về cả tinh thần và vật
chất. Bên cạnh thuật ngữ bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, chúng ta cũng thường
gặp cụm từ “bảo vệ quyền sở hữu”. “Bảo vệ” là “chống lại mọi sự huỷ hoại,
xâm phạm để giữ cho được nguyên vẹn” [46, tr. 50]. Như vậy, về nghĩa, “bảo
vệ” cũng tương đương với “bảo hộ” nhưng từ “bảo hộ” thường hay được hiểu
là hoạt động của nhà nước trong khi “bảo vệ” có thể là hoạt động của bất cứ
chủ thể nào. Do đó, hiểu theo nghĩa hẹp thì bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ là
“việc nhà nước-thông qua hệ thống pháp luật-xác lập quyền của các chủ thể
đối với đối tượng sở hữu trí tuệ tương ứng và bảo vệ quyền đó, chống lại bất
kỳ sự vi phạm nào của bên thứ ba” [44, tr. 20]. Hiểu theo nghĩa rộng thì bảo
tạo ra tài sản trí tuệ- có thể khai thác lợi ích thiết thực từ những tài sản do họ
sáng tạo ra. Nếu phân tích từ góc độ dân sự, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ là
xác lập, củng cố và bảo vệ quyền sở hữu (gồm quyền chiếm hữu, quyền sử
dụng và quyền định đoạt) của các chủ sở hữu đối với tài sản trí tuệ. Xác lập
quyền sở hữu trí tuệ là xác nhận về mặt pháp lý rằng một người sáng tác, một
nhà viết kịch, một nhà sáng chế... là chủ sở hữu của sáng tác, của kịch bản đó.
Khi là chủ sở hữu của những tài sản này, họ có quyền thủ đắc, có quyền sử
dụng, có quyền bán, tặng, cho...
Nếu phân tích từ góc độ kinh tế và cụ thể hơn là từ góc độ thương mại,
bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ là tất cả các biện pháp được áp dụng nhằm đảm
bảo cho các chủ sở hữu của các tài sản trí tuệ có thể khai thác giá trị kinh tế,
khai thác lợi ích thương mại, hay nói cách khác là khai thác khả năng sinh lợi
từ các sản phẩm trí tuệ do chính họ sáng tạo ra nhằm một mặt được hưởng lợi
ích từ các tài sản đó, mặt khác bù đắp và tái tạo sức lao động mà họ đã bỏ ra
như thời gian, trí lực, sức khoẻ...
1.1.3. Các đối tượng được bảo hộ của quyền sở hữu trí tuệ
1.1.3.1. Quyền tác giả và các quyền có liên quan
Quyền tác giả (tiếng Anh là copyright), còn được gọi là bản quyền
được đề cập lần đầu tiên trên thế giới vào năm 1481 tại Milan qua sự kiện
Công tước xứ Milan cấp độc quyền in một sản phẩm cho một nhà in của
Milan. Ngay sau đó, những bảo hộ tương tự cũng được cấp cho các nhà in ở
Đức, Pháp, Ý, và Tây Ban Nha [72, tr. 475].
Quyền tác giả được pháp luật của nhiều nước trên thế giới thừa nhận
nhưng mức độ thừa nhận ở những phạm vi rộng hẹp khác nhau. Phần lớn các
nước chọn mô hình pháp luật bảo hộ quyền tác giả theo những tiêu chuẩn tối
thiểu được quy định trong công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và
nghệ thuật (sau đây gọi là Công ước Berne). Theo đó, pháp luật bảo hộ quyền
tác giả không bảo hộ các ý tưởng mà chỉ bảo hộ cách thể hiện các ý tưởng đó.
Về bản chất, ý tưởng là suy nghĩ thuộc về nội tâm của tác giả, còn cách thức,
thủ pháp thể hiện là hình thức của một ý tưởng, là cái vỏ của khái niệm [45,
Hoa Kỳ) là các chương trình phần mềm máy tính. Chủ sở hữu quyền tác giả
không thể ngăn người khác sử dụng ý tưởng hay kiến thức trong tác phẩm của
mình; chủ sở hữu quyền chỉ có thể hạn chế việc sử dụng chính tác phẩm.
Quyền tài sản là quyền của tác giả được nhà nước thừa nhận trong việc
khai thác tác phẩm để thu được lợi ích kinh tế. Thường có hai cách để thu lợi
ích kinh tế từ tác phẩm. Một là qua các kênh trung gian (tức là tác phẩm được
in và phân phối qua các cửa hàng sách, cửa hàng bán đĩa nhạc, v.v.) và hai là
qua kênh giải trí (tức là tác phẩm được trình chiếu ở nhà hát, buổi hoà nhạc,
phòng triển lãm tranh, v.v.). Nội dung này được ghi nhận ở Điều 15 Luật Bản
Quyền của Đức năm 1965 (sửa đổi ngày 8 tháng 5 năm 1998), Điều 2, Đạo
luật Bản quyền của Anh năm 1988, Điều L122, Luật Bản quyền của Pháp
năm 2006, Điều 106 Đạo luật Bản quyền của Hoa Kỳ năm 2007, Điều 12
Luật Bản quyền của Liên bang Thuỵ Sỹ (sửa đổi ngày 7 tháng 12 năm 1922).
Quyền cá nhân của tác giả đối với tác phẩm của mình gọi là quyền
nhân thân. Những quyền này độc lập với quyền tài sản của tác giả, hầu hết các
quốc gia đều bảo hộ quyền nhân thân, ngay cả khi tác giả đã chuyển giao
quyền tài sản. Pháp luật các nước đều thừa nhận quyền nhân thân gồm quyền
chống thay đổi, bóp méo hay cắt xén tác phẩm, quyền được thừa nhận là tác
giả và quyền kiểm soát công chúng tiếp cận tác phẩm. Những quyền này được
quy định trong pháp luật bản quyền của Đức và Pháp từ đầu thế kỷ 20 và vào
năm 1928 Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật (sau
đây gọi là Công ước Berne) được sửa đổi nhằm thừa nhận 3 quyền này. Đức
và Pháp lần lượt cho thêm quyền nhân thân thứ 4 tại Điều L121-4 Luật Bản
quyền của Pháp năm 2006 và Điều 12 khoản 2 Luật Bản Quyền của Đức năm
1965- quyền sửa chữa hoặc rút lại tác phẩm nhưng quyền này không được
thừa nhận rộng rãi trên thế giới như 3 quyền trên.
Bên cạnh quyền tác giả còn có các quyền liên quan, hay còn gọi là các
quyền kề cận (Related rights/neiboring rights). Các tác phẩm trí tuệ được sáng
tạo để được phổ biến tới công chúng càng rộng càng tốt. Công việc này không
thể do bản thân tác giả đảm đương mà sẽ do những người trung gian có năng
tại quốc gia bảo hộ mà thôi trừ phi quốc gia này là thành viên của những điều
ước quốc tế về quyền tác giả. Trong một số trường hợp, xã hội có thể sử dụng
tác phẩm mà không cần xin phép chủ sở hữu. Ví dụ việc sử dụng tác phẩm
không nhằm mục đích thương mại mà nhằm mục đích chính đáng như nghiên
cứu, học tập, giáo dục, hoặc chỉ nhằm mục đích sử dụng cá nhân.
1.1.3.2. Quyền sở hữu công nghiệp
- Nhãn hiệu hàng hoá
Một nhãn hiệu hàng hoá là bất kỳ dấu hiệu nào có khả năng phân biệt
hàng hoá của doanh nghiệp này với hàng hoá của các đối thủ cạnh tranh.
Những dấu hiệu này có thể là từ ngữ, tên riêng, các chữ cái, chữ số, các yếu tố
hình hoạ và tổ hợp các màu sắc, v...v. Danh sách các dấu hiệu có thể được
dùng làm nhãn hiệu hàng hoá không có giới hạn. Thậm chí, mùi vị cũng có
thể là một nhãn hiệu được bảo hộ. Hoa Kỳ là nước đầu tiên công nhận việc
đăng ký nhãn hiệu mùi vị-mùi thơm tươi mát của hoa Plumeria dùng cho chỉ
may và thêu ren năm 1990. Năm 1999, Phòng giải quyết khiếu nại của cơ
quan Hài hoá hoá thị trường nội địa của EU đã cho phép đăng ký nhãn hiệu
mùi “mùi cỏ tươi mới cắt” cho bóng tennis [47, tr. 69].
Các dấu hiệu trên thường phải thoả mãn hai điều kiện khác nhau để trở
thành nhãn hiệu hàng hoá, đó là có chức năng phân biệt và không gây hiểu
lầm hoặc vi phạm trật tự công cộng hay đạo đức xã hội. Để có chức năng
phân biệt thì các dấu hiệu phải thể hiện tính độc đáo hoặc có khả năng phân
biệt các sản phẩm khác nhau. Ví dụ, từ “táo” hoặc hình một quả táo không thể
dùng làm nhãn hiệu cho mặt hàng táo nhưng có thể dùng làm nhãn hiệu cho
máy tính và nhãn hiệu này mang tính độc đáo. Đó chính là trường hợp nhãn
hiệu “Apple” với hình trái táo bị gặm một miếng là nhãn hiệu máy tính nổi
tiếng của tập đoàn công nghệ máy tính của Mỹ Apple Inc. Nhãn hiệu có tính
phân biệt khi giúp người tiêu dùng phân biệt được sản phẩm bán dưới nhãn
hiệu đó với những hàng hoá của doanh nghiệp khác bán trên thị trường.
Trong lĩnh vực nhãn hiệu hàng hoá còn có nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu
chứng nhận, nhãn hiệu liên kết. Nhãn hiệu tập thể được hiểu là nhãn hiệu
Pháp, Ý và Mehico. Nhưng khi nhắc đến chúng, người ta lại liên tưởng ngay
“Champagne” với rượu vang nổ, “Chianti” với rượu vang đỏ và “Tequila” với
loại rượu mạnh. Đây chỉ là một số ít các ví dụ về những địa danh nổi tiếng
làm người ta nghĩ ngay đến những sản phẩm tự nhiên và có chất lượng cao
trên thế giới. Điều đó có nghĩa là chúng có thể là tài sản thương mại có giá trị.
Chúng được gọi là chỉ dẫn địa lý.
Điều 22 khoản 1 Hiệp định về các khía cạnh của quyền sở hữu trí tuệ
liên quan đến thương mại (sau đây gọi là Hiệp định TRIPS) quy định chỉ dẫn
địa lý là những chỉ dẫn về hàng hoá bắt nguồn từ lãnh thổ của một nước hoặc
từ khu vực hay địa phương thuộc lãnh thổ đó, có chất lượng, uy tín hoặc đặc
tính nhất định chủ yếu do xuất xứ địa lý quyết định. Cách hiểu này của Hiệp
định TRIPS được thừa nhận ở 152 nước thành viên (tính đến hết tháng 7 năm
2008). Thuật ngữ “chỉ dẫn địa lý” không nhất thiết phải là địa danh mà có thể
là biểu tượng gián tiếp chỉ ra xuất xứ của hàng hoá. Ví dụ Tháp Eiffel là biểu
tượng của Paris, Tượng Nữ thần Tự do của nước Mỹ, v.v.
Thuật ngữ “chỉ dẫn địa lý” được hiểu với nghĩa rộng nhất, bao gồm
những tên gọi và biểu tượng chỉ ra rằng chất lượng của một sản phẩm nào đó
có được là nhờ nguồn gốc địa lý của nó hoặc chỉ đơn thuần là xác định nơi
xuất xứ của một sản phẩm. Vì vậy, một người hoặc một doanh nghiệp đã sử
dụng một chỉ dẫn địa lý thì không có nghĩa là những doanh nghiệp còn lại tại
khu vực địa lý đó không có quyền sử dụng. Việc sử dụng tuỳ thuộc vào các
yêu cầu do cơ quan nhà nước đặt ra. Theo đó, việc bảo hộ chỉ dẫn địa lý là
ngăn cấm những chủ thể không có thẩm quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý hoặc
ngăn cấm các sản phẩm không có nguồn gốc từ khu vực địa lý đã nêu.
- Kiểu dáng công nghiệp
Kiểu dáng công nghiệp được hiểu là hình dáng bên ngoài của sản phẩm
được thể hiện bằng hình khối, đường nét, màu sắc hoặc sự kết hợp những yếu
tố này. Kiểu dáng công nghiệp sẽ giúp việc tiêu thụ sản phẩm tốt hơn thông
qua việc hấp dẫn người tiêu dùng về thị giác. Ví dụ, khi tính năng của các loại
sản phẩm do các nhà sản xuất khác nhau là tương đương nhau thì sự hấp dẫn