Xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân tích ngành Ngân Hàng Việt Nam
Mở đầu
Trải qua hơn 10 năm thực hiện chính sách đổi mới và mở cửa của Đảng và
Nhà nước, nền kinh tế ta đang chuyển mạnh mẽ từ cơ chế tập trung quan liêu bao
cấp sang cơ chế thị trường theo địch hướng xã hội chủ nghĩa và đã đạt được những
thành tựu có ý nghĩa quan trọng trên nhiều lĩnh vực.
Bước vào giai đoạn mới, giai đoạn phát triển kinh tế theo hướng công ngiệp
hóa và hiện đại hóa với những yêu cầu mới, vấn đề tài chính tiền tệ không chỉ là
mối quan tâm của các nhà hoạch định chính sách mà còn là mối quan tâm của các
doanh nghiệp, các nhà đầu tư, các nhà tín dụng…
Một thực tế cho thấy trong điều kiện hiện nay có rất nhiều nhà quản lý kinh tế,
chủ doanh nghiệp giỏi đạt được nhiều thành công qua sự hiểu biết, phân tích hoạt
động kinh tế ngành. Bên cạnh đó không ít các nhà đầu tư, các chủ doanh nghiệp bị
phá sản, các ngân hàng, các tổ chức tín dụng bị thua lỗ bởi không hiểu sâu sắc tình
hình tài chính của ngành nghề, của lĩnh vực mà mình đang hoạt động, nói khác đi là
không nhận thức đầy đủ công tác phân tích tình hình tài chính của ngành cũng như
của doanh nghiệp.
Xuất phát từ lý luận và thực tiễn đó ta có thể thấy rằng hoàn thiện phân tích
tài chính doanh nghiệp nói chung và hoàn thiện phương pháp xây dựng bộ chỉ số
ngành nói riêng để làm một thước đo cho các doanh nghiệp có thể tự đánh giá trong
điều kiện hiện nay là một yêu cầu, một đòi hỏi của các nhà quản lý kinh tế, các nhà
đầu tư, chủ doanh nghiệp và những người quan tâm. Với ý nghĩa đó em đã chọn đề
tài “Xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân tích ngành Ngân hàng ở Việt Nam”
1. Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên
Nguyễn Thanh Phúc
TCDN47A, Tài chính-Ngân hàng, Đại học Kinh tế quốc dân
Xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân tích ngành Ngân Hàng Việt Nam
Một vấn đề phải thừa nhận hiện nay đó là những nhà đầu tư Việt Nam không
để tâm nhiều đến hoạt động của công ty mà thường ra quyết định chủ yếu dựa vào
cảm tính, tin đồn, vào xu hướng của các nhà đầu tư, tổ chức nước ngoài, và theo
“tâm lý đám đông”.
Một lời khuyên cho các nhà đầu tư đó là phải xét đến giá trị thật của công ty.
Nhưng một vấn đề rất lớn nảy sinh đó là hiện nay các công ty cổ phần Việt Nam
nói chung và các công ty đang niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán nói riêng
đều hoạt động đa phương diện, đa lĩnh vực. Vậy làm sao để phân loại ngành nghề
kinh doanh chính của công ty và đầu là thước đo để đánh giá một công ty trong
ngành nghề đó.
Trên thực tế, trong quá trình tìm hiểu và thu thập tài liệu để viết nên đề tài này,
chỉ có một số ít các công ty chứng khoán như: công ty chứng khoán Biển Việt,
công ty chứng khoán VNDirect, công ty chứng khoán ngân hàng thương mại cổ
phần Á Châu, công ty chứng khoán Biển Việt là liệt kê danh sách các công ty theo
ngành nghề kinh doanh để cung cấp cho các nhà đầu tư những quyết định mang
tính chuyên nghiệp. Còn lại hầu hết thì chưa cập nhật thông tin này. Nhưng các chỉ
số ngành trên các trang web của các công ty này đều đều là số liệu trong quá khứ
và cách tính, cũng như cách phân loại còn chưa được đề cập đến một cách rõ ràng.
Chính vì vậy, đề tài nghiên cứu khoa học này trọng tâm là cung cấp cơ sở các
cách phân loại ngành đang được áp dụng tại Việt Nam và trên thị trường thế giới,
cũng như là cách tiếp cận để tính các chỉ số này. Áp dụng vào thực tế phân tích
ngành ngân hàng tại Việt Nam hiện nay, từ đó xây dựng một cơ sở để áp dụng vào
các ngành khác trong nền kinh tế quốc dân.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên
Nguyễn Thanh Phúc
TCDN47A, Tài chính-Ngân hàng, Đại học Kinh tế quốc dân
Xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân tích ngành Ngân Hàng Việt Nam
Phương pháp so sánh sử dụng trong phân tích tài chính doanh nghiệp là:
• So sánh giữa số thực hiện kỳ này với số thực hiện kỳ trước để thấy rõ xu
hướng thay đổi về tình hình tài chính của doanh nghiệp, thấy được sự
cải thiện hay xấu đi như thế nào để có biện pháp khắc phục trong kỳ tới.
• So sánh giữa số thực hiện với số kế hoạch để thấy mức độ phấn đấu của
doanh nghiệp.
• So sánh giữa số thự hiện kỳ này với mức trung bình của ngành để thấy
được tình hình tài chính của doanh nghiệp đang ở tình trạng tốt hay xấu,
được hay chưa được so với các doanh nghiệp cùng ngành.
• So sánh theo chiều dọc để thấy được tỷ trọng của từng loại trong tổng
hợp ở mỗi bản báo cáo. So sánh theo chiều ngang để thấy được sự biến
đổi về cả số tương đối và số tuyệt đối của một khoản mục nào đó qua
niên độ kế toán liên tiếp.
4.2. Phương pháp phân tích tỷ lệ
Đây là phương pháp truyền thống, được sử dụng phổ biến trong phân tích tài
hính. Đây là phương pháp có tính hiện thực cao với các điều kiện áp dụng ngày
càng được bổ xung và hoàn thiện. Bởi lẽ:
Thứ nhất, nguồn thông tin kế toán tài chính được cải tiến và được cung cấp
đầy đủ hơn. Đó là cơ sở hình thành các chỉ tiêu tham chiếu tin cập cho việc đánh
giá mọi tỷ lệ tài chính của doanh nghiệp.
Thứ hai, việc áp dụng công nghệ tin học cho phép tích lũy dữ liệu và thúc đẩy
nhanh quá trình tính toán hàng loạt các tỷ lệ.
Thứ ba, phương pháp này giúp cho nhà phân tích khai thác có hiệu quả các số
liệu và phân tích một cách có hệ thống hàng loạt tỷ lệ theo chuỗi thời gian liên tục
hoặc theo từng giai đoạn.
Đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên
Nguyễn Thanh Phúc
TCDN47A, Tài chính-Ngân hàng, Đại học Kinh tế quốc dân
giả thiết cho rằng cán bộ nghiên cứu có thể chọn các yếu tố đại diện cho một “mẫu
điển hình” từ đối tượng nghiên cứu mục tiêu phù hợp. Chất lượng mẫu được chọn
sử dụng phương pháp này phụ thuộc vào tính chính xác của những lý giải mang
tính chủ quan của mẫu điển hình.
Rất khó thu được kết quả có ý nghĩa từ mẫu chủ quan bởi vì không bao giờ
có hai chuyên gia hoàn toàn nhất trí với nhau về nội dung chính xác của mẫu điển
hình. Vì vậy, khi không có tiêu chí từ bên ngoài, không có cách nào để có thể đánh
giá kết quả nghiên cứu thu được từ mẫu chủ quan này chính xác hơn kết quả nghiên
cứu thu được từ mẫu kia.
4.3.2. Chọn mẫu tạo sự thuận tiện
Mẫu tạo sự thuận tiện là thuật ngữ được sử dụng để mô tả mẫu mà ở đó các
yếu tố được chọn từ đối tượng nghiên cứu mục tiêu trên cơ sở sự thuận tiện mà
chúng mang lại cho cán bộ nghiên cứu.
Mẫu tạo sự thuận tiện đôi khi được gọi là “mẫu ngẫu nhiên” bởi vì các yếu tố
được chọn mẫu chỉ đơn giản là vì chúng ở gần nơi cán bộ nghiên cứu tiến hành thu
thập số liệu (về mặt không gian và hành chính).
Giả thiết chính liên quan đến chọn mẫu tạo sự thuận tiện là các thành viên
thuộc đối tượng nghiên cứu mục tiêu là đồng nhất. Điều đó có nghĩa là sẽ không có
sự khác biệt nào trong kết quả nghiên cứu thu được từ mẫu ngẫu nhiên, mẫu hợp
tác hoặc mẫu được thu thập từ một bộ phận đối tượng không tiếp cận được.
Đối với chọn mẫu chủ quan, không có cách nào để cán bộ nghiên cứu có thể
kiểm tra độ chính xác của một mẫu thuận tiện so với mẫu kia. Thực ra, những
người chỉ trích phương pháp này cho rằng trong nhiều trường hợp nghiên cứu, các
Đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên
Nguyễn Thanh Phúc
TCDN47A, Tài chính-Ngân hàng, Đại học Kinh tế quốc dân
Xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân tích ngành Ngân Hàng Việt Nam
yếu tố sẵn có và tiếp cận được của đối tượng nghiên cứu mục tiêu sẽ khác đáng kể
những kiến thức căn bản như: khái niệm ngành kinh tế được hiểu là gì,
các cách phân ngành của Việt Nam và thế giới, các chỉ tiêu tài chính
quan trọng…
• Chương thứ II sẽ bàn về thực trạng của hệ thống NHTM ở Việt Nam
hiện nay, các đặc điểm cơ bản của các ngân hàng thương mại, các hoạt
động cơ bản của các NHTM Việt Nam.
• Chương thứ III dựa vào những cơ sở lý thuyết đã trình bày ở chương I
& chương II sẽ áp dựng vào xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân tích ngành
Ngân Hàng.
Chương I: Cơ sở lý luận về xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân tích ngành
Đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên
Nguyễn Thanh Phúc
TCDN47A, Tài chính-Ngân hàng, Đại học Kinh tế quốc dân
Xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân tích ngành Ngân Hàng Việt Nam
1.1. Khái quát về ngành kinh tế
1.1.1. Khái niệm ngành kinh tế
Ngành kinh tế “Industry” có gốc từ tiếng Latin “Industrius” có nghĩa là bộ
phận của nền kinh tế chuyên tạo ra hàng hóa – dịch vụ.
Trong nền kinh tế phong kiến, cơ cấu nền kinh tế còn nghèo nàn, các hoạt
động kinh tế ở quy mô nhỏ. Ngành kinh tế chủ yếu khi đó là nông nghiệp và
thương mại. Các ngành kinh tế được đa dạng hóa và hình thành như hiện nay bắt
đầu từ những năm 1800 (hơn 2 thế kỷ trước), và kể từ đó liên tục phát triển cho đến
ngày nay với sự trợ giúp bởi tiến bộ công nghệ. Rất nhiều nước phát triển (như Hoa
Kỳ, Anh quốc, Canada) phụ thuộc sâu sắc vào khu vực sản xuất. Các quốc gia, các
nền kinh tế và các ngành công nghiệp của các quốc gia đó đan xen, liên kết, tương
tác nhau trong một mạng lưới phức tạp mà không dễ hiểu biết tường tận nếu chỉ
nghiên cứu sơ sài.
(Nguồn : Wikipedia)
được coi như chuẩn mực và áp dụng hầu hết tại các công ty niêm yết và trên toàn
thế giới. Bên cạnh đó cách phân ngành của tổng cục thống kê và GICS được giới
thiệu để tham khảo. Chi tiết về các ngành nghề sẽ nằm trong phần phụ lục.
1.1.2.1. Phân ngành của tổng cục thống kê
Chính phủ Việt Nam áp dụng Hệ thống ngành kinh tế theo Quyết định số
Quyết định số 10/2007/QĐ-TTg ngày 23 tháng 01 năm 2007 của Thủ tướng Chính
phủ, gồm các 21 nhóm ngành, 642 hoạt động kinh tế cụ thể:
Tiêu chuẩn phân ngành của tổng cục thống kê dựa trên tiêu chí là xác địch hệ
số tương quan của một công ty với các công ty khác. Do vậy các kết quả tính theo
phương pháp này đều dựa vào số liệu trong quá khứ, và thiếu tính logic trong việc
nhóm các công ty.
Đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên
Nguyễn Thanh Phúc
TCDN47A, Tài chính-Ngân hàng, Đại học Kinh tế quốc dân
Xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân tích ngành Ngân Hàng Việt Nam
• Nhóm A: Nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản.
• Nhóm B: Khai khoáng.
• Nhóm C: Công nghiệp chế biến, chế tạo.
• Nhóm D: Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và
điều hòa không khí.
• Nhóm E: Cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải.
• Nhóm F: Xây dựng.
• Nhóm G: Bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy, và xe có
động cơ khác.
• Nhóm H: Vận tải, kho bãi.
• Nhóm I: Dịch vụ lưu trú và ăn uống.
• Nhóm J: Thông tin và truyền thông.
• Nhóm K: Hoạt động ngân hàng-tài chính, bảo hiểm.
10 nhóm ngành chính của GICS bao gồm:
• Năng lượng: bao gồm các công ty thăm dò, khai thác, chế biến, vận
tải các sản phẩm dầu khí, tha đá, nhiên liệu chất đốt.
• Nguyên vật liệu: đây là một nhóm ngành rộng bao gồm các công ty hoá
chất, vật liệu xây dựng, kính, giấy, lâm sản; các công ty khai mỏ và luyện
kim; các cty sản xuất các sản phẩm bao bì đóng gói (gồm cả bao bì giấy,
kim loại, thuỷ tinh).
Đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên
Nguyễn Thanh Phúc
TCDN47A, Tài chính-Ngân hàng, Đại học Kinh tế quốc dân
Xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân tích ngành Ngân Hàng Việt Nam
• Công nghiệp: gồm các cty chế tạo các loại máy móc công nghiệp, thiết bị
điên; công nghiệp quốc phòng, xây dựng, giao thông vận tải cùng các
dịch vụ liên quan.
• Hàng tiêu dùng không thiết yếu. Gồm những nhóm hàng tiêu dùng
nhạy cảm với chu kì của nền kinh tế như: xe hơi, hàng gia dụng lâu bền
(đồ điện tử gia dụng), hàng may mặc và các thiết bị giải trí, giáo dục.
Nhóm dịch vụ bao gồm khách sạn, nhà hàng, trung tâm giải trí, truyền
thông.
• Hàng tiêu dùng thiết yếu : bao gồm các công ty sản xuất và phân phối
lương thực, thực phẩm, nước giải khát, thuốc lá và các sản phẩm gia
dụng ko lâu bền, các vật dụng cá nhân. Nó cũng bao gồm các siêu thị,
trung tâm bán lẻ thực phẩm và thuốc.
• Chăm sóc sức khoẻ : bao gồm các cty cung cấp các dịch vụ, thiết bị
chăm sóc sức khoẻ và các công ty nghiên cứu, phát triển sản xuất dược
phẩm và các sản phẩm công nghệ sinh học.
• Tài chính: gồm các ngân hàng, cty bảo hiểm, các quỹ đầu tư tài chính
và bất động sản, các công ty cung cấp các dịch vụ tài chính khác.
• Dầu khí: bao gồm các công ty thăm dò, khai thác, sảm xuất, lọc dâù và
cung cấp các sản phẩm dầu khí. Các công ty thăm dò, khai thác, sảm
xuất, lọc và phân phối các sản phẩm dầu khí. Các công ty cung cấp dịch
vụ và thiết bị phục vụ cho ngành dầu khí như xây dưng dàn khoan, khai
Đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên
Nguyễn Thanh Phúc
TCDN47A, Tài chính-Ngân hàng, Đại học Kinh tế quốc dân
Xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân tích ngành Ngân Hàng Việt Nam
thác, thăm dò địa chất. Các công ty sở hữu, vận hành các ống dẫn dầu,
dẫn khí hoặc các năng lượng khác. Các công ty cung cấp, vận chuyển
khí gas trực tiếp đến người tiêu dung sẽ không được xếp trong hạng mục
này. Các công ty này sẽ được xếp loại trong nhóm ngành phân phối khí
Ga.
• Nguyên vật liệu: bao gồm các nhà máy sản xuất gỗ, nhà máy cưa. Các
công ty sản xuất sản phẩm đồ gỗ hoàn thiện không được xếp vào hạng
mục này Các công ty sẽ dược xếp ở nhóm ngành Nguyên vật liệu xây
dựng & thiết bị lắp đặt. Các công ty sản xuất, phân phối giấy các loại.
Các công ty in ấn các loại biểu mẫu, sản xuất các loại sản phẩm bằng
giấy như cốc giấy, tã, bỉm cho trẻ sơ sinh không được xếp vào danh
mục này mà được xếp trong danh mục Hàng tiêu dùng nhanh. Các công
ty khai thác, sản xuất, phân phối quặng nhôm phục vụ các ngành công
nghiệp khác. Ngoại trừ các công ty sản xuất các sản phẩm nhôm đã
thành phẩm. Các công ty này được xếp loại tuỳ thuộc vào loại hình
thành phẩm. Các công ty thăm dò, chế biến, tinh chế các loại đá quí và
khoáng sản khác.
• Công nghiệp: bao gồm các công ty chuyên sản xuất các nguyên vật liệu
và thiết bị lắp đặt phục vụ cho các công trình xây dựng. Các công ty phụ
trách xây dựng những công trình xây dựng như những chung cu, cao
chuyển kinh doanh. Các nhà sản xuất và phân phối phụ tùng mới, phụ
tùng thay thế cho ô tô xe máy như động cơ, pin. Các hãng sản xuất lốp
xe không được xếp trong hạng mục này mà trong nhóm ngành lốp xe.
Các công ty sản xuất và phân phối đồ uống chế xuất từ lúa mạch như
bia, bia đen. Các hãng sản xuất, đóng chai, phân phối đồ uống không
cồn như sôđa, nước ngọt, chè, cà fê, và các loại nước đóng chai khác.
Đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên
Nguyễn Thanh Phúc
TCDN47A, Tài chính-Ngân hàng, Đại học Kinh tế quốc dân
Xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân tích ngành Ngân Hàng Việt Nam
Các công ty hoạt động trong lĩnh vực chăn nuôi trồng trọt, nuôi trồng,
đánh bắt thủy, hải sản, các công ty sản xuất giống cây trồng, vật nuôi.
Các công ty sản xuất thuốc trừ sâu không được xếp vào hạng mục này
mà xếp trong nhóm ngành hoá chất. Các công ty chế biến thực phẩm, đồ
ăn snack, rau quả, sản phẩm từ sữa và hải sản đông lạnh. Các công ty
chế biến đồ ăn cho vật nuôi, vitamin các loại. Không tính các công ty
sản xuất nươc quả, chè, cà phê, nước đóng chai và các loại đồ uống
không cồn khác. Các công ty sản xuất, phân phối các loại nhạc cụ, thiết
bị nhiếp ảnh, RVs, ATVs, các loại thuyền buồm, xuồng hơi, xuồng máy
phục vụ các họat động giải trí trên biển. Các công ty sản xuất và phân
phối hóa mỹ phẩm, các sản phẩm vệ sinh cá nhân – gồm thuốc khử mùi,
xà phòng, kem đánh răng, nước hoa, dầu gội đầu, dao cạo, sản phẩm vệ
sinh cho phụ nữ, các phương tiện phòng tránh thai không dùng thuốc.
Các đồn điền trồng thuốc lá, hãng sản xuất và phân phối thuốc lá, xì-gà,
và các sản phẩm thuốc lá liên quan khác.
• Y tế: Các tổ chức y tế, bệnh viện, trạm xá, phòng khám nha khoa, nhãn
khoa, trung tâm dưỡng lão. Các cơ sở thú y không được xếp trong hạng
mục này mà xếp trong nhóm ngành dịch vụ tiêu dùng chuyên dụng. Các
trong nhóm ngành Dịch vụ vui chơi giải trí. Các công ty cung cấp dịch
vụ quảng cáo, quan hệ công chúng, marketing qua điện thoại…Các nhà
xuất bản các ấn phẩm in ấn hoặc qua phương tiện truyền thông điện
tửCác công ty cung cấp dịch vụ du lịch, các đại lý du lịch, cung cấp dịch
vụ đăng ký tour, các hãng cho thuê xe và các công ty cung cấp dịch vụ
vận chuyển hành khách như các hãng xe buýt, hãng taxi, tàu phà…
• Viễn thông: Các hãng cung cấp dịch vụ điện thoại cố định, nội hạt &
quốc tế. Các công ty cung cấp dịch vụ Internet không được xếp trong
Đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên
Nguyễn Thanh Phúc
TCDN47A, Tài chính-Ngân hàng, Đại học Kinh tế quốc dân
Xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân tích ngành Ngân Hàng Việt Nam
hạng mục này mà xếp trong nhóm ngành Internet. Các hãng cung cấp
dịch vụ điện thoại di động, nhắn tin, dịch vụ truyền phát qua vệ tinh…
• Dịch vụ tiện ích: Các công ty phát điện sử dụng năng lượng địa nhiệt,
năng lượng nguyên tử & năng lượng mặt trời. Các công ty phân phối
gas đến người tiêu dùng, không bao gồm các công ty cung cấp gas tự
nhiên. Các công ty cùng lúc cung cấp nhiều dịch vụ tiện ích khác nhau.
Các công ty cấp nước đến người tiêu dùng, bao gồm cả dịch vụ tưới
tiêu.
• Tài chính: Ngân hàng cung cấp các dịch vụ tài chính đa dạng như cho
vay, chuyển tiền, ngân hàng. Các công ty bảo hiểm đa dịch vụ như bảo
hiểm nhân thọ, bảo hiểm y tế, tài sản, tái bảo hiểm và không chuyên biệt
về một lĩnh vực nào. Các công ty & đại lý môi giới bảo hiểm. Các công
ty họat động chủ yếu trong lĩnh vực phi nhân thọ như bảo hiểm tai nạn,
thương vong, cháy nổ, bảo hiểm ô tô, hàng hải và các loại hình phi nhân
thọ khác. Các công ty chủ yếu họat động trong lĩnh vực tái bảo hiểm.
Các công ty chủ yếu họat động trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ và bảo
ngành thiết bị bán dẫn. Các công ty sản xuất và phân phối thiết bị viễn
thông công nghệ cao như vệ tinh, điện thoại di động , sợi cáp quang,
thiết bị chuyển mạch, thiết bị kết nối mạng máy tính, thiết bị phục vụ
hội nghị qua điện thoại…
1.2. Hệ thống chỉ tiêu phân tích
1.2.1. Khái niệm hệ thống chỉ tiêu phân tích
Trong điều kiện kinh doanh theo cơ chế thị trường có sự quản lý vĩ mô của
nhà nước, các DN thuộc các loại hình sở hữu khác nhau đều bình đẳng trước pháp
luật trong kinh doanh do đó có nhiều đối tượng quan tâm đến tình hình tào chính
Đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên
Nguyễn Thanh Phúc
TCDN47A, Tài chính-Ngân hàng, Đại học Kinh tế quốc dân
Xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân tích ngành Ngân Hàng Việt Nam
của doanh nghiệp như chủ doanh nghiệp, nhà cho vay, nhà cung cấp, khách hàng,
nhà bảo hiểm…kể cả những cơ quan chính phủ và những người lao động. Mỗi đối
tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp dưới một góc độ khác
nhau. Đối với chủ doanh nghiệp và các nhà quản trị doanh nghiệp mối quan tâm
hàng đầu của họ là tìm kiếm lợi nhuận và khả năng tài trợ. Đối với chủ ngân hàng
và các nhà cho vay tín dụng, mối quan tâm chủ yếu của họ là các yếu tố rủi ro, thời
gian hoàn vốn, mức sinh lãi và khả năng thanh toán vốn…Nhìn chung họ đều quan
tâm đến khả năng tạo ra dòng tiền mặt, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán và
mức sinh lời tối đa.
Các báo cáo kế toán, báo cáo tài chính phản ánh một cách tổng hợp toàn diện
tình hình tài sản, nguồn vốn công nợ, kết quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp trong một niên độ kế toán, song những thông tin riêng biệt đó chưa thể hiện
được nhiều ý nghĩa và chưa thể hiện hết các yêu cầu, nội dung mà người sử dụng
thông tin quan tâm do đó họ thường dùng các công cụ và kỹ thuật cơ bản để phân
tích tài chính doanh nghiệp, để thuyết minh các mối quan hệ chủ yếu trong báo cáo
• Tỷ số thanh toán hiện hành
Tỷ số thanh toán hiện hành R
c
= Tài sản lưu động / Nợ ngắn hạn
Tài sản lưu động bao gồm các khoản vốn bằng tiền, đầu tư tài chính ngắn
hạn, các khoản phải thu, hàng tồn kho và các tài sản lưu động khác.
Nợ ngắn hạn là các khoản nợ phải trả trong năm bao gồm: vay ngắn hạn, vay
dài hạn đến hạn phải trả và các khoản phải trả khác.
Trong quản lý tài sản ngắn hạn, doanh nghiệp đánh đổi giữa khả năng sinh lời
và khả năng thanh toán. Khả năng sinh lời cao, khả năng thanh toán thấp và ngược
lại.
Tỷ số R
c
cho biết công ty có bao nhiêu tài sản có thể chuyển đổi thành tiền mặt
để đảm bảo thanh toán các khoản nợ ngắn hạn. Tỷ số này đo lường khả năng trả nợ
Đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên
Nguyễn Thanh Phúc
TCDN47A, Tài chính-Ngân hàng, Đại học Kinh tế quốc dân
Xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân tích ngành Ngân Hàng Việt Nam
của công ty. Nếu tỷ số thanh toán hiện hành giảm sẽ cho ta thấy khả năng thanh
toán giảm và báo trước những khó khăn tài chính có thể xảy ra. Nếu tỷ số thanh
toán hiện hành cao điều đó có nghĩa là công ty luôn sẵn sang thanh toán các khoản
nợ. Tuy nhiên, nếu tỷ số thanh toán hiện hành quá cao sẽ làm hiệu quả hoạt động vì
công ty đã đầu tư quá nhiều vào tài sản lưu động hay nói cách khác việc quản lý tài
sản lưu động không hiệu quả. Một công ty nếu dự trữ qua nhiều hàng tồn kho thì sẽ
có tỷ số thanh toán hiện hành cao, nhưng các hàng tồn kho là tài sản rất khó chuyển
đổi thành tiền, nhất là hàng tồn kho ứ đọng, kém phẩm chất. Vì vậy, đôi khi tỷ số
thanh toán hiện hành không phản ánh đúng khả năng thanh toán của công ty.
thuộc vào chính sách bán chịu của công ty. Nếu số vòng quay thấp thì hiệu quả sử
dụng vốn kém do vốn bị chiếm dụng nhiều. Nhưng nếu số vòng quay các khoản
phải thu cao quá thì sẽ giảm sức cạnh tranh dẫn đến giảm doanh thu. Ngoài ra khi
xem xét cần phải phát hiện ra các khoản nợ đã quá hạn trả và có biện pháp xử lý.
• Vòng quay hàng tồn kho
Vòng quay hàng tồn kho là chỉ tiêu đánh giá công ty sử dụng hàng tồn kho
của minh hiệu quả như thế nào :
Vòng quay hàng tồn kho = Doanh thu thuần / Hàng tồn kho bình quân
Số vòng luân chuyển hàng tồn kho cao hay thấp tùy thuộc vào đặc điểm
ngành kinh doanh
• Hiệu suất sử dụng tài sản cố định
Tỷ số này nói lên một đồng tài sản cố định tạo ra được bao nhiêu đồng doanh
thu. Qua đó đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản cố định ở công ty.
Hiệu quả sử dụng tài sản cố định = Doanh thu thuần / Tài sản cố định
bình quân.
• Hiệu suất sử dụng toàn bộ tài sản
Hiệu suất sử dụng toàn bộ tài sản đo lường một đồng tài sản tham gia vào
quá trình sản xuất kinh doanh sẽ tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu.
Đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên
Nguyễn Thanh Phúc
TCDN47A, Tài chính-Ngân hàng, Đại học Kinh tế quốc dân