Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Mở đầu
Trải qua hơn 10 năm thực hiện chính sách đổi mới và mở cửa của Đảng và
Nhà nước, nền kinh tế ta đang chuyển mạnh mẽ từ cơ chế tập trung quan liêu bao
cấp sang cơ chế thị trường theo địch hướng xã hội chủ nghĩa và đã đạt được những
thành tựu có ý nghĩa quan trọng trên nhiều lĩnh vực.
Bước vào giai đoạn mới, giai đoạn phát triển kinh tế theo hướng công ngiệp
hóa và hiện đại hóa với những yêu cầu mới, vấn đề tài chính tiền tệ không chỉ là
mối quan tâm của các nhà hoạch định chính sách mà còn là mối quan tâm của các
doanh nghiệp, các nhà đầu tư, các nhà tín dụng…
Một thực tế cho thấy trong điều kiện hiện nay có rất nhiều nhà quản lý kinh tế,
chủ doanh nghiệp giỏi đạt được nhiều thành công qua sự hiểu biết, phân tích hoạt
động kinh tế ngành. Bên cạnh đó không ít các nhà đầu tư, các chủ doanh nghiệp bị
phá sản, các ngân hàng, các tổ chức tín dụng bị thua lỗ bởi không hiểu sâu sắc tình
hình tài chính của ngành nghề, của lĩnh vực mà mình đang hoạt động, nói khác đi là
không nhận thức đầy đủ công tác phân tích tình hình tài chính của ngành cũng như
của doanh nghiệp.
Xuất phát từ lý luận và thực tiễn đó ta có thể thấy rằng hoàn thiện phân tích
tài chính doanh nghiệp nói chung và hoàn thiện phương pháp xây dựng bộ chỉ số
ngành nói riêng để làm một thước đo cho các doanh nghiệp có thể tự đánh giá trong
điều kiện hiện nay là một yêu cầu, một đòi hỏi của các nhà quản lý kinh tế, các nhà
đầu tư, chủ doanh nghiệp và những người quan tâm. Với ý nghĩa đó em đã chọn đề
tài “Xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân tích ngành Ngân hàng ở Việt Nam”
1. Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Ở những thị trường mà thị trường chứng khoán đã phát triển như:Mỹ, Nhật,
Úc, hay Singapore, nhà đầu tư có thể dễ dàng tìm thông tin liên quan đến chứng
khoán, đến công ty mà mình quan tâm. Tiêu chuẩn ngành được xem như là các tiêu
chuẩn mà các công ty phải duy trì hoạt động theo, hay ít nhất là phải đảm bảo đủ
khả năng đạt được. Với các nhà đầu tư, họ có thể nhìn vào các chỉ số tài chính của
ngành nghề đó.
Trên thực tế, trong quá trình tìm hiểu và thu thập tài liệu để viết nên đề tài này,
chỉ có một số ít các công ty chứng khoán như: công ty chứng khoán Biển Việt,
công ty chứng khoán VNDirect, công ty chứng khoán ngân hàng thương mại cổ
phần Á Châu, công ty chứng khoán Biển Việt là liệt kê danh sách các công ty theo
ngành nghề kinh doanh để cung cấp cho các nhà đầu tư những quyết định mang
tính chuyên nghiệp. Còn lại hầu hết thì chưa cập nhật thông tin này. Nhưng các chỉ
số ngành trên các trang web của các công ty này đều đều là số liệu trong quá khứ
và cách tính, cũng như cách phân loại còn chưa được đề cập đến một cách rõ ràng.
Chính vì vậy, đề tài nghiên cứu khoa học này trọng tâm là cung cấp cơ sở các
cách phân loại ngành đang được áp dụng tại Việt Nam và trên thị trường thế giới,
cũng như là cách tiếp cận để tính các chỉ số này. Áp dụng vào thực tế phân tích
ngành ngân hàng tại Việt Nam hiện nay, từ đó xây dựng một cơ sở để áp dụng vào
các ngành khác trong nền kinh tế quốc dân.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Với định hướng của đề tài như đã nêu ở mục 1.1, hệ thống chỉ số ngành có
nghĩa với từng bộ phận trong nền kinh tế :
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Đối tượng của đề tài sẽ là các chỉ số tài chính căn bản, từ các chỉ số của riêng
lẻ từng công ty, bằng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên, sẽ tìm ra được công ty áp
dụng tính toán ra bộ chỉ số ngành căn bản của ngành đó.
Với toàn bộ dữ liệu thu thập được, phạm vi đề tài sẽ áp dụng vào tính toán ra
bộ số liệu ngành Ngân Hàng Việt Nam.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để tiến hành phân tích hoạt động kinh doanh cũng như phân tích hoạt động tài
chính người ta không dùng riêng lẻ một phương pháp phân tích nào mà sử dụng kết
hợp các phương pháp phân tích vói nhau để đánh giá tình hình doanh nghiệp một
cách xác thực nhất, nhanh nhất.
Phương pháp phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp là hệ thống các
càng được bổ xung và hoàn thiện. Bởi lẽ:
Thứ nhất, nguồn thông tin kế toán tài chính được cải tiến và được cung cấp
đầy đủ hơn. Đó là cơ sở hình thành các chỉ tiêu tham chiếu tin cập cho việc đánh
giá mọi tỷ lệ tài chính của doanh nghiệp.
Thứ hai, việc áp dụng công nghệ tin học cho phép tích lũy dữ liệu và thúc đẩy
nhanh quá trình tính toán hàng loạt các tỷ lệ.
Thứ ba, phương pháp này giúp cho nhà phân tích khai thác có hiệu quả các số
liệu và phân tích một cách có hệ thống hàng loạt tỷ lệ theo chuỗi thời gian liên tục
hoặc theo từng giai đoạn.
Phương pháp này dựa trên ý nghĩa chuẩn mực các tỷ lệ của đại lượng tài chính
trong các quan hệ tài chính. Về nguyên tắc, phương pháp tỷ lệ yêu cầu phải xác
định được các ngưỡng, các định mức để nhận xét đánh giá tình hình tài chính
doanh nghiệp, trên cơ sở so sánh các tỷ lệ của doanh nghiệp với các tỷ lệ tham
chiếu.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Trong phân tích tài chính doanh nghiệp, các tỷ lệ tài chính được phân thành
các nhóm tỷ lệ đặc trưng, phản ánh nội dung cơ bản theo mục tiêu hoạt động của
doanh nghiệp. Đó là các nhóm tỷ lệ về nội dung thanh toán, nhóm tỷ lệ về cơ cấu
vốn và nguồn vốn, nhóm các tỷ lệ về năng lực hoạt động, nhóm các tỷ lệ về khả
năng sinh lời.
4.3. Phương pháp tính toán chỉ số ngành
Do hạn chế của việc thu thập số liệu, nên việc tính toán chỉ số ngành dựa vào
tất cả các số liệu ngành là một công việc khó khăn. Chính vì vậy, đề tài xin đưa ra 3
cách chọn mẫu phi xắc suất, từ đó tính ra chỉ số ngành theo nhóm các ngân hàng
được chọn lựa một cách ngẫu nhiên. Với phạm vi của đề tài, xin được áp dụng
phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên
Khi tính toán ra chỉ số ngành cuối cùng, để tránh sự sai khác nhau về tính qui
mô của ngân hàng, các chỉ số của ngân hàng sẽ được nhân với một trọng số đó là
tổng tài sản của ngân hàng được chọn mà trong đề tài được đề cập đến là ngân hàng
pháp chọn mẫu tạo sự thuận tiện có thể gây ra độ nghiêng đáng kể trong ước tính
mẫu về các thông số đối tượng nghiên cứu.
4.3.3. Chọn mẫu định mức
Chọn mẫu định mức là kiểu chọn mẫu phi xác suất thường được sử dụng.
Đôi khi kiểu chọn mẫu này thường được gọi với cái tên không chính xác là “chọn
mẫu đại diện” bởi vì số lượng các yếu tố thu được từ nhiều tầng đối tượng nghiên
cứu mục tiêu tỷ lệ với quy mô của các tầng này.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Mặc dù chọn mẫu định mức có sự hạn chế tương đối chặt chẽ về số lượng
các yếu tố mẫu cho mỗi tầng, thường là có rất ít hoặc không có sự kiểm soát về quy
trình sử dụng để chọn yếu tố trong các tầng này. Ví dụ, có thể áp dụng chọn mẫu
chủ quan hoặc mẫu tạo sự thuận tiện trong bất kỳ tầng nào hoặc tất cả các tầng. Vì
vậy, hình thức bề ngoài của tính chính xác liên quan đến tính đại diện tương xứng
của các tầng phải được xem xét trong bối cảnh là không có cách nào để kiểm tra
tính chính xác của các ước tính thu được từ bất cứ tầng nào hoặc từ việc kết hợp
các ước tính riêng lẻ của mỗi tầng.
Căn cứ theo phương pháp chọn mẫu được nêu trên, 2 ngân hàng được chọn
để đại diện cho mẫu và căn cứ vào tính chỉ số ngành đó là Vietcombank và ACB.
5. Cấu trúc đề tài
• Phần mở đầu của đề tài sẽ nói rõ sự cần thiết của đề tài, mục đích
nghiên cứu, đề tài có ảnh hưởng đến những đối tượng nào, giới hạn –
phương pháp nghiên cứu.
• Trong chương I sẽ giới thiệu về cơ sở nền tảng về lý luận để xây dựng
hệ thống chỉ tiêu phân tích ngành. Người đọc sẽ được tiếp cận với
những kiến thức căn bản như: khái niệm ngành kinh tế được hiểu là gì,
các cách phân ngành của Việt Nam và thế giới, các chỉ tiêu tài chính
quan trọng…
• Chương thứ II sẽ bàn về thực trạng của hệ thống NHTM ở Việt Nam
hiện nay, các đặc điểm cơ bản của các ngân hàng thương mại, các hoạt
trên, nhiều nhà đầu tư đã cảm thấy rằng rất hữu ích khi so sánh sự biến động của
các cổ phiếu của công ty theo cùng và theo từng quốc gia khác nhau. Cho đến tận
bây giờ, việc phân chia các công ty cũng như các cổ phiếu theo vùng vẫn tỏ ra rất
hữu ích nhưng sẽ tốt hơn nữa nếu phân các cổ phiếu của công ty đó theo từng
ngành nghề cụ thể.
1.1.2. Phân loại ngành kinh tế
Hiện nay trên thế giới, các nước có nền kinh tế đã phát triển như : Mỹ, Nhật,
Anh đều có cách phân ngành cụ thể. Nhưng nói chung các nền kinh tế của các quốc
gia khác đều áp dụng theo 2 cách phân ngành phổ biên nhất đó là : GICS (Global
Industry Classification Standard) và ICB (Industry Classification Benchmark).
Nhưng chung nhất, các công ty được phân loại theo ngành chiếm 60% tổng doanh
thu của công ty.
Tại Việt Nam sử dụng cách phân ngành của tổng cục thống kê. Ngoài ra công
ty chứng khoán Biển Việt còn cung cấp một cách thức phân ngành CBV của riêng
mình gồm 10 ngành chính: Tiêu dùng, Tài chính, Công nghiệp, Nguyên vật liệu,
Dầu khí, Công nghệ, Dịch vụ, Y tế, Điện nước, Viễn thông. Trong khuôn khổ của
đề tài, xin được tập trung vào cách phân ngành của ICB – một cách phân ngành
được coi như chuẩn mực và áp dụng hầu hết tại các công ty niêm yết và trên toàn
thế giới. Bên cạnh đó cách phân ngành của tổng cục thống kê và GICS được giới
thiệu để tham khảo. Chi tiết về các ngành nghề sẽ nằm trong phần phụ lục.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
1.1.2.1. Phân ngành của tổng cục thống kê
Chính phủ Việt Nam áp dụng Hệ thống ngành kinh tế theo Quyết định số
Quyết định số 10/2007/QĐ-TTg ngày 23 tháng 01 năm 2007 của Thủ tướng Chính
phủ, gồm các 21 nhóm ngành, 642 hoạt động kinh tế cụ thể:
Tiêu chuẩn phân ngành của tổng cục thống kê dựa trên tiêu chí là xác địch hệ
số tương quan của một công ty với các công ty khác. Do vậy các kết quả tính theo
phương pháp này đều dựa vào số liệu trong quá khứ, và thiếu tính logic trong việc
nhóm các công ty.
được đưa ra nhằm thiết lập một tiêu chuẩn chung cho việc phân loại các công ty
vào các ngành và nhóm ngành có liên quan với nhau.
GICS được xây dựng theo các tiêu chí:
- Universal (Toàn cầu)
- Accurate (chính xác)
- Flexible (linh hoạt)
- Elvolving (phát triển)
Hiện nay, GICS bao gồm 10 nhóm ngành chính (sectors), 24 nhóm ngành
(industry groups), 67 ngành (industries) và 147 ngành con (sub-industries).
10 nhóm ngành chính của GICS bao gồm:
• Năng lượng: bao gồm các công ty thăm dò, khai thác, chế biến, vận
tải ... các sản phẩm dầu khí, tha đá, nhiên liệu chất đốt.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
• Nguyên vật liệu: đây là một nhóm ngành rộng bao gồm các công ty hoá
chất, vật liệu xây dựng, kính, giấy, lâm sản; các công ty khai mỏ và luyện
kim; các cty sản xuất các sản phẩm bao bì đóng gói (gồm cả bao bì giấy,
kim loại, thuỷ tinh).
• Công nghiệp: gồm các cty chế tạo các loại máy móc công nghiệp, thiết bị
điên; công nghiệp quốc phòng, xây dựng, giao thông vận tải cùng các
dịch vụ liên quan.
• Hàng tiêu dùng không thiết yếu. Gồm những nhóm hàng tiêu dùng
nhạy cảm với chu kì của nền kinh tế như: xe hơi, hàng gia dụng lâu bền
(đồ điện tử gia dụng), hàng may mặc và các thiết bị giải trí, giáo dục.
Nhóm dịch vụ bao gồm khách sạn, nhà hàng, trung tâm giải trí, truyền
thông.
• Hàng tiêu dùng thiết yếu : bao gồm các công ty sản xuất và phân phối
lương thực, thực phẩm, nước giải khát, thuốc lá và các sản phẩm gia
dụng ko lâu bền, các vật dụng cá nhân. Nó cũng bao gồm các siêu thị,
trung tâm bán lẻ thực phẩm và thuốc.
đều áp dụng theo nguyên tắc này, trong phạm vi của đề tài nghiên cứu, xin được
• Dầu khí: bao gồm các công ty thăm dò, khai thác, sảm xuất, lọc dâù và
cung cấp các sản phẩm dầu khí. Các công ty thăm dò, khai thác, sảm
xuất, lọc và phân phối các sản phẩm dầu khí. Các công ty cung cấp dịch
vụ và thiết bị phục vụ cho ngành dầu khí như xây dưng dàn khoan, khai
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
thác, thăm dò địa chất. Các công ty sở hữu, vận hành các ống dẫn dầu,
dẫn khí hoặc các năng lượng khác. Các công ty cung cấp, vận chuyển
khí gas trực tiếp đến người tiêu dung sẽ không được xếp trong hạng mục
này. Các công ty này sẽ được xếp loại trong nhóm ngành phân phối khí
Ga.
• Nguyên vật liệu: bao gồm các nhà máy sản xuất gỗ, nhà máy cưa. Các
công ty sản xuất sản phẩm đồ gỗ hoàn thiện không được xếp vào hạng
mục này Các công ty sẽ dược xếp ở nhóm ngành Nguyên vật liệu xây
dựng & thiết bị lắp đặt. Các công ty sản xuất, phân phối giấy các loại.
Các công ty in ấn các loại biểu mẫu, sản xuất các loại sản phẩm bằng
giấy như cốc giấy, tã, bỉm cho trẻ sơ sinh không được xếp vào danh
mục này mà được xếp trong danh mục Hàng tiêu dùng nhanh. Các công
ty khai thác, sản xuất, phân phối quặng nhôm phục vụ các ngành công
nghiệp khác. Ngoại trừ các công ty sản xuất các sản phẩm nhôm đã
thành phẩm. Các công ty này được xếp loại tuỳ thuộc vào loại hình
thành phẩm. Các công ty thăm dò, chế biến, tinh chế các loại đá quí và
khoáng sản khác.
• Công nghiệp: bao gồm các công ty chuyên sản xuất các nguyên vật liệu
và thiết bị lắp đặt phục vụ cho các công trình xây dựng. Các công ty phụ
trách xây dựng những công trình xây dựng như những chung cu, cao
ốc…Các công ty chế tạo máy bay và cung cấp các dịch vụ phục vụ cho
lĩnh vực hàng không dân dụng. Các công ty sản xuất thiết bị phục vụ
ngành quốc phòng, bao gồm máy bay quân sự, thiết bị radar và vũ khí.