Xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân tích ngành Ngân Hàng Việt Nam
-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Mở đầu
Trải qua hơn 10 năm thực hiện chính sách đổi mới và mở cửa của Đảng và
Nhà nước, nền kinh tế ta đang chuyển mạnh mẽ từ cơ chế tập trung quan liêu
bao cấp sang cơ chế thị trường theo địch hướng xã hội chủ nghĩa và đã đạt được
những thành tựu có ý nghĩa quan trọng trên nhiều lĩnh vực.
Bước vào giai đoạn mới, giai đoạn phát triển kinh tế theo hướng công ngiệp
hóa và hiện đại hóa với những yêu cầu mới, vấn đề tài chính tiền tệ không chỉ là
mối quan tâm của các nhà hoạch định chính sách mà còn là mối quan tâm của
các doanh nghiệp, các nhà đầu tư, các nhà tín dụng…
Một thực tế cho thấy trong điều kiện hiện nay có rất nhiều nhà quản lý kinh
tế, chủ doanh nghiệp giỏi đạt được nhiều thành công qua sự hiểu biết, phân tích
hoạt động kinh tế ngành. Bên cạnh đó không ít các nhà đầu tư, các chủ doanh
nghiệp bị phá sản, các ngân hàng, các tổ chức tín dụng bị thua lỗ bởi không hiểu
sâu sắc tình hình tài chính của ngành nghề, của lĩnh vực mà mình đang hoạt
động, nói khác đi là không nhận thức đầy đủ công tác phân tích tình hình tài
chính của ngành cũng như của doanh nghiệp.
Xuất phát từ lý luận và thực tiễn đó ta có thể thấy rằng hoàn thiện phân
tích tài chính doanh nghiệp nói chung và hoàn thiện phương pháp xây dựng bộ
chỉ số ngành nói riêng để làm một thước đo cho các doanh nghiệp có thể tự đánh
giá trong điều kiện hiện nay là một yêu cầu, một đòi hỏi của các nhà quản lý
kinh tế, các nhà đầu tư, chủ doanh nghiệp và những người quan tâm. Với ý
nghĩa đó em đã chọn đề tài “Xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân tích ngành
Ngân hàng ở Việt Nam”
1. Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu
Ở những thị trường mà thị trường chứng khoán đã phát triển như:Mỹ, Nhật,
Úc, hay Singapore, nhà đầu tư có thể dễ dàng tìm thông tin liên quan đến chứng
khoán, đến công ty mà mình quan tâm. Tiêu chuẩn ngành được xem như là các
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên
dựa vào cảm tính, tin đồn, vào xu hướng của các nhà đầu tư, tổ chức nước ngoài,
và theo “tâm lý đám đông”.
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên
Nguyễn Thanh Phúc
TCDN47A, Tài chính-Ngân hàng, Đại học Kinh tế quốc dân
2
Xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân tích ngành Ngân Hàng Việt Nam
-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Một lời khuyên cho các nhà đầu tư đó là phải xét đến giá trị thật của công
ty. Nhưng một vấn đề rất lớn nảy sinh đó là hiện nay các công ty cổ phần Việt
Nam nói chung và các công ty đang niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán nói
riêng đều hoạt động đa phương diện, đa lĩnh vực. Vậy làm sao để phân loại
ngành nghề kinh doanh chính của công ty và đầu là thước đo để đánh giá một
công ty trong ngành nghề đó.
Trên thực tế, trong quá trình tìm hiểu và thu thập tài liệu để viết nên đề tài
này, chỉ có một số ít các công ty chứng khoán như: công ty chứng khoán Biển
Việt, công ty chứng khoán VNDirect, công ty chứng khoán ngân hàng thương
mại cổ phần Á Châu, công ty chứng khoán Biển Việt là liệt kê danh sách các
công ty theo ngành nghề kinh doanh để cung cấp cho các nhà đầu tư những
quyết định mang tính chuyên nghiệp. Còn lại hầu hết thì chưa cập nhật thông tin
này. Nhưng các chỉ số ngành trên các trang web của các công ty này đều đều là
số liệu trong quá khứ và cách tính, cũng như cách phân loại còn chưa được đề
cập đến một cách rõ ràng.
Chính vì vậy, đề tài nghiên cứu khoa học này trọng tâm là cung cấp cơ sở
các cách phân loại ngành đang được áp dụng tại Việt Nam và trên thị trường thế
giới, cũng như là cách tiếp cận để tính các chỉ số này. Áp dụng vào thực tế phân
tích ngành ngân hàng tại Việt Nam hiện nay, từ đó xây dựng một cơ sở để áp
dụng vào các ngành khác trong nền kinh tế quốc dân.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
chỉ tiêu kỳ gốc, kỳ phân tích. Và để phục vụ mục đích phân tích người ta có thể
so sánh bằng các cách : so sánh bằng số tuyệt đối, so sánh bằng số tương đối, so
sánh bằng số bình quân.
Phương pháp so sánh sử dụng trong phân tích tài chính doanh nghiệp là:
• So sánh giữa số thực hiện kỳ này với số thực hiện kỳ trước để thấy rõ
xu hướng thay đổi về tình hình tài chính của doanh nghiệp, thấy được
sự cải thiện hay xấu đi như thế nào để có biện pháp khắc phục trong
kỳ tới.
• So sánh giữa số thực hiện với số kế hoạch để thấy mức độ phấn đấu
của doanh nghiệp.
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên
Nguyễn Thanh Phúc
TCDN47A, Tài chính-Ngân hàng, Đại học Kinh tế quốc dân
4
Xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân tích ngành Ngân Hàng Việt Nam
-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------
• So sánh giữa số thự hiện kỳ này với mức trung bình của ngành để
thấy được tình hình tài chính của doanh nghiệp đang ở tình trạng tốt
hay xấu, được hay chưa được so với các doanh nghiệp cùng ngành.
• So sánh theo chiều dọc để thấy được tỷ trọng của từng loại trong tổng
hợp ở mỗi bản báo cáo. So sánh theo chiều ngang để thấy được sự
biến đổi về cả số tương đối và số tuyệt đối của một khoản mục nào
đó qua niên độ kế toán liên tiếp.
4.2. Phương pháp phân tích tỷ lệ
Đây là phương pháp truyền thống, được sử dụng phổ biến trong phân tích
tài hính. Đây là phương pháp có tính hiện thực cao với các điều kiện áp dụng
ngày càng được bổ xung và hoàn thiện. Bởi lẽ:
Thứ nhất, nguồn thông tin kế toán tài chính được cải tiến và được cung cấp
đầy đủ hơn. Đó là cơ sở hình thành các chỉ tiêu tham chiếu tin cập cho việc đánh
qui mô của ngân hàng, các chỉ số của ngân hàng sẽ được nhân với một trọng số
đó là tổng tài sản của ngân hàng được chọn mà trong đề tài được đề cập đến là
ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu và ngân hàng ngoại thương
Vietcombank.
4.3.1. Chọn mẫu chủ quan
Quy trình chọn mẫu chủ quan hay còn gọi là chọn mẫu có chủ đích dựa
trên giả thiết cho rằng cán bộ nghiên cứu có thể chọn các yếu tố đại diện cho
một “mẫu điển hình” từ đối tượng nghiên cứu mục tiêu phù hợp. Chất lượng
mẫu được chọn sử dụng phương pháp này phụ thuộc vào tính chính xác của
những lý giải mang tính chủ quan của mẫu điển hình.
Rất khó thu được kết quả có ý nghĩa từ mẫu chủ quan bởi vì không bao
giờ có hai chuyên gia hoàn toàn nhất trí với nhau về nội dung chính xác của mẫu
điển hình. Vì vậy, khi không có tiêu chí từ bên ngoài, không có cách nào để có
thể đánh giá kết quả nghiên cứu thu được từ mẫu chủ quan này chính xác hơn
kết quả nghiên cứu thu được từ mẫu kia.
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên
Nguyễn Thanh Phúc
TCDN47A, Tài chính-Ngân hàng, Đại học Kinh tế quốc dân
6
Xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân tích ngành Ngân Hàng Việt Nam
-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------
4.3.2. Chọn mẫu tạo sự thuận tiện
Mẫu tạo sự thuận tiện là thuật ngữ được sử dụng để mô tả mẫu mà ở đó
các yếu tố được chọn từ đối tượng nghiên cứu mục tiêu trên cơ sở sự thuận tiện
mà chúng mang lại cho cán bộ nghiên cứu.
Mẫu tạo sự thuận tiện đôi khi được gọi là “mẫu ngẫu nhiên” bởi vì các
yếu tố được chọn mẫu chỉ đơn giản là vì chúng ở gần nơi cán bộ nghiên cứu tiến
hành thu thập số liệu (về mặt không gian và hành chính).
Giả thiết chính liên quan đến chọn mẫu tạo sự thuận tiện là các thành viên
Căn cứ theo phương pháp chọn mẫu được nêu trên, 2 ngân hàng được
chọn để đại diện cho mẫu và căn cứ vào tính chỉ số ngành đó là Vietcombank và
ACB.
5. Cấu trúc đề tài
• Phần mở đầu của đề tài sẽ nói rõ sự cần thiết của đề tài, mục đích
nghiên cứu, đề tài có ảnh hưởng đến những đối tượng nào, giới hạn –
phương pháp nghiên cứu.
• Trong chương I sẽ giới thiệu về cơ sở nền tảng về lý luận để xây
dựng hệ thống chỉ tiêu phân tích ngành. Người đọc sẽ được tiếp cận
với những kiến thức căn bản như: khái niệm ngành kinh tế được hiểu
là gì, các cách phân ngành của Việt Nam và thế giới, các chỉ tiêu tài
chính quan trọng…
• Chương thứ II sẽ bàn về thực trạng của hệ thống NHTM ở Việt Nam
hiện nay, các đặc điểm cơ bản của các ngân hàng thương mại, các
hoạt động cơ bản của các NHTM Việt Nam.
• Chương thứ III dựa vào những cơ sở lý thuyết đã trình bày ở chương
I & chương II sẽ áp dựng vào xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân tích
ngành Ngân Hàng.
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên
Nguyễn Thanh Phúc
TCDN47A, Tài chính-Ngân hàng, Đại học Kinh tế quốc dân
8
Xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân tích ngành Ngân Hàng Việt Nam
-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Chương I: Cơ sở lý luận về xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân tích ngành
1.1. Khái quát về ngành kinh tế
1.1.1. Khái niệm ngành kinh tế
Ngành kinh tế “Industry” có gốc từ tiếng Latin “Industrius” có nghĩa là bộ
phận của nền kinh tế chuyên tạo ra hàng hóa – dịch vụ.
1.1.2. Phân loại ngành kinh tế
Hiện nay trên thế giới, các nước có nền kinh tế đã phát triển như : Mỹ,
Nhật, Anh đều có cách phân ngành cụ thể. Nhưng nói chung các nền kinh tế của
các quốc gia khác đều áp dụng theo 2 cách phân ngành phổ biên nhất đó là :
GICS (Global Industry Classification Standard) và ICB (Industry Classification
Benchmark). Nhưng chung nhất, các công ty được phân loại theo ngành chiếm
60% tổng doanh thu của công ty.
Tại Việt Nam sử dụng cách phân ngành của tổng cục thống kê. Ngoài ra
công ty chứng khoán Biển Việt còn cung cấp một cách thức phân ngành CBV
của riêng mình gồm 10 ngành chính: Tiêu dùng, Tài chính, Công nghiệp,
Nguyên vật liệu, Dầu khí, Công nghệ, Dịch vụ, Y tế, Điện nước, Viễn thông.
Trong khuôn khổ của đề tài, xin được tập trung vào cách phân ngành của ICB –
một cách phân ngành được coi như chuẩn mực và áp dụng hầu hết tại các công
ty niêm yết và trên toàn thế giới. Bên cạnh đó cách phân ngành của tổng cục
thống kê và GICS được giới thiệu để tham khảo. Chi tiết về các ngành nghề sẽ
nằm trong phần phụ lục.
1.1.2.1. Phân ngành của tổng cục thống kê
Chính phủ Việt Nam áp dụng Hệ thống ngành kinh tế theo Quyết định số
Quyết định số 10/2007/QĐ-TTg ngày 23 tháng 01 năm 2007 của Thủ tướng
Chính phủ, gồm các 21 nhóm ngành, 642 hoạt động kinh tế cụ thể:
Tiêu chuẩn phân ngành của tổng cục thống kê dựa trên tiêu chí là xác địch
hệ số tương quan của một công ty với các công ty khác. Do vậy các kết quả tính
theo phương pháp này đều dựa vào số liệu trong quá khứ, và thiếu tính logic
trong việc nhóm các công ty.
• Nhóm A: Nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản.
• Nhóm B: Khai khoáng.
• Nhóm C: Công nghiệp chế biến, chế tạo.
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên
Nguyễn Thanh Phúc
1999. GICS được đưa ra nhằm thiết lập một tiêu chuẩn chung cho việc phân loại
các công ty vào các ngành và nhóm ngành có liên quan với nhau.
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên
Nguyễn Thanh Phúc
TCDN47A, Tài chính-Ngân hàng, Đại học Kinh tế quốc dân
11
Xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân tích ngành Ngân Hàng Việt Nam
-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------
GICS được xây dựng theo các tiêu chí:
- Universal (Toàn cầu)
- Accurate (chính xác)
- Flexible (linh hoạt)
- Elvolving (phát triển)
Hiện nay, GICS bao gồm 10 nhóm ngành chính (sectors), 24 nhóm ngành
(industry groups), 67 ngành (industries) và 147 ngành con (sub-industries).
10 nhóm ngành chính của GICS bao gồm:
• Năng lượng: bao gồm các công ty thăm dò, khai thác, chế biến, vận
tải ... các sản phẩm dầu khí, tha đá, nhiên liệu chất đốt.
• Nguyên vật liệu: đây là một nhóm ngành rộng bao gồm các công ty
hoá chất, vật liệu xây dựng, kính, giấy, lâm sản; các công ty khai mỏ
và luyện kim; các cty sản xuất các sản phẩm bao bì đóng gói (gồm cả
bao bì giấy, kim loại, thuỷ tinh).
• Công nghiệp: gồm các cty chế tạo các loại máy móc công nghiệp,
thiết bị điên; công nghiệp quốc phòng, xây dựng, giao thông vận tải
cùng các dịch vụ liên quan.
• Hàng tiêu dùng không thiết yếu. Gồm những nhóm hàng tiêu dùng
nhạy cảm với chu kì của nền kinh tế như: xe hơi, hàng gia dụng lâu
bền (đồ điện tử gia dụng), hàng may mặc và các thiết bị giải trí, giáo
dục. Nhóm dịch vụ bao gồm khách sạn, nhà hàng, trung tâm giải trí,
bao gồm các chức năng so sánh các công ty từ 4 phân ngành và thuộc các quốc
gia khác nhau. Hệ thống này phân chia các doanh nghiệp vào từng phân ngành
một cách chi tiết nhất dựa trên tính chất kinh doanh của các doanh nghiệp đó.
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên
Nguyễn Thanh Phúc
TCDN47A, Tài chính-Ngân hàng, Đại học Kinh tế quốc dân
13
Xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân tích ngành Ngân Hàng Việt Nam
-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Các chỉ tiêu phân ngành được xác định dựa trên nguồn doanh thu hay nguồn
doanh thu chính của một doanh nghiệp.
Các ngành của ICB phân ra gồm : 10 ngành lớn giúp nhà đầu tư theo dõi
hướng phát triển từng ngành, 18 phân ngành cấp 1 giúp nhà đầu tư phân tích
diễn biến kinh tế vĩ mô dể tìm kiếm cơ hội đầu tư, 39 phân ngành cấp 2 cung cấp
những chuẩn đầu tư, 104 phân ngành cấp 3 cung cấp cho nhà đầu tư thông tin
chi tiết cho phân tích kỹ thuật.
Trên thực tế thì trên thế giới và ngay cả ở Việt Nam, các công ty chứng
khoán đều áp dụng theo nguyên tắc này, trong phạm vi của đề tài nghiên cứu,
xin được
• Dầu khí: bao gồm các công ty thăm dò, khai thác, sảm xuất, lọc dâù và
cung cấp các sản phẩm dầu khí. Các công ty thăm dò, khai thác, sảm xuất, lọc và
phân phối các sản phẩm dầu khí. Các công ty cung cấp dịch vụ và thiết bị phục
vụ cho ngành dầu khí như xây dưng dàn khoan, khai thác, thăm dò địa chất.
Các công ty sở hữu, vận hành các ống dẫn dầu, dẫn khí hoặc các năng lượng
khác. Các công ty cung cấp, vận chuyển khí gas trực tiếp đến người tiêu dung sẽ
không được xếp trong hạng mục này. Các công ty này sẽ được xếp loại trong
nhóm ngành phân phối khí Ga.
• Nguyên vật liệu: bao gồm các nhà máy sản xuất gỗ, nhà máy cưa. Các
công ty sản xuất sản phẩm đồ gỗ hoàn thiện không được xếp vào hạng mục này
cầu đường, cảng và cung cấp dịch vụ hậu cần cho các tàu chở hàng, các công ty
cung cấp dịch vụ bảo dưỡng máy bay và các phương tiện vận chuyển. Các công
ty cung cấp dịch vụ vận chuyển hàng hóa bằng xe tải. Các công ty quản lý cầu
đường, các công ty cung cấp dịch vụ Taxi, cho thuê xe không được xếp vào
hạng mục này mà xếp trong nhóm ngành Du lịch. Các công ty sản xuất cung cấp
thiết bị chống ô nhiễm môi trường; thiết bị phân hủy hoặc tái chế rác thải. Các
công ty sản xuất thiết bị lọc nước, không khí trong công nghiệp được xếp dưới
nhóm ngành Máy móc công nghiệp.
• Hàng tiêu dùng: Các hãng sản xuất chế tạo ô tô thể thao, ô tô con, xe tải
hạng nhẹ. Các hãng sản xuất xe tải hạng nặng không được xếp trong hạng mục
này mà xếp trong nhóm ngành Xe tải & phương tiện vận chuyển kinh doanh.
Các nhà sản xuất và phân phối phụ tùng mới, phụ tùng thay thế cho ô tô xe máy
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên
Nguyễn Thanh Phúc
TCDN47A, Tài chính-Ngân hàng, Đại học Kinh tế quốc dân
15
Xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân tích ngành Ngân Hàng Việt Nam
-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------
như động cơ, pin. Các hãng sản xuất lốp xe không được xếp trong hạng mục này
mà trong nhóm ngành lốp xe. Các công ty sản xuất và phân phối đồ uống chế
xuất từ lúa mạch như bia, bia đen. Các hãng sản xuất, đóng chai, phân phối đồ
uống không cồn như sôđa, nước ngọt, chè, cà fê, và các loại nước đóng chai
khác. Các công ty hoạt động trong lĩnh vực chăn nuôi trồng trọt, nuôi trồng,
đánh bắt thủy, hải sản, các công ty sản xuất giống cây trồng, vật nuôi. Các công
ty sản xuất thuốc trừ sâu không được xếp vào hạng mục này mà xếp trong nhóm
ngành hoá chất. Các công ty chế biến thực phẩm, đồ ăn snack, rau quả, sản
phẩm từ sữa và hải sản đông lạnh. Các công ty chế biến đồ ăn cho vật nuôi,
vitamin các loại. Không tính các công ty sản xuất nươc quả, chè, cà phê, nước
đóng chai và các loại đồ uống không cồn khác. Các công ty sản xuất, phân phối
sản phẩm gia dụng như thiết bị làm vườn, thảm, giấy dán tường, sơn, nội thất,
mành rèm và các vật liệu xây dựng khác. Các công ty cung cấp dịch vụ như tổ
chức đấu giá, trông nom nhà cửa, dịch vụ giặt là, cơ sở thú y, các thẩm mỹ viện,
dịch vụ bảo dưỡng bảo trì hệ thống máy sưởi, máy lạnh, bơm…Các cửa hàng
chỉ chuyên kinh doanh một loại sản phẩm như đồ điện tử, sách, phụ tùng ô tô…
Các đại lý ô tô, cửa hàng cho thuê băng đĩa, cửa hàng miễn thuế, các trạm xăng
không thuộc sở hữu các công ty xăng dầu. Các đài phát thanh, các hãng truyền
hình. Các rạp chiếu phim không được xếp dưới hạng mục này mà xếp trong
nhóm ngành Dịch vụ vui chơi giải trí. Các công ty cung cấp dịch vụ quảng cáo,
quan hệ công chúng, marketing qua điện thoại…Các nhà xuất bản các ấn phẩm
in ấn hoặc qua phương tiện truyền thông điện tửCác công ty cung cấp dịch vụ du
lịch, các đại lý du lịch, cung cấp dịch vụ đăng ký tour, các hãng cho thuê xe và
các công ty cung cấp dịch vụ vận chuyển hành khách như các hãng xe buýt,
hãng taxi, tàu phà…
• Viễn thông: Các hãng cung cấp dịch vụ điện thoại cố định, nội hạt &
quốc tế. Các công ty cung cấp dịch vụ Internet không được xếp trong hạng mục
này mà xếp trong nhóm ngành Internet. Các hãng cung cấp dịch vụ điện thoại di
động, nhắn tin, dịch vụ truyền phát qua vệ tinh…
• Dịch vụ tiện ích: Các công ty phát điện sử dụng năng lượng địa nhiệt,
năng lượng nguyên tử & năng lượng mặt trời. Các công ty phân phối gas đến
người tiêu dùng, không bao gồm các công ty cung cấp gas tự nhiên. Các công ty
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên
Nguyễn Thanh Phúc
TCDN47A, Tài chính-Ngân hàng, Đại học Kinh tế quốc dân
17
Xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân tích ngành Ngân Hàng Việt Nam
-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------
cùng lúc cung cấp nhiều dịch vụ tiện ích khác nhau. Các công ty cấp nước đến
người tiêu dùng, bao gồm cả dịch vụ tưới tiêu.
18
Xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân tích ngành Ngân Hàng Việt Nam
-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------
chip điện tử, các sản phẩm phục vụ cho ngành công nghiệp bán dẫn như bảng
mạch chính, thíêt bị bán dẫn chủ... Các công ty sản xuất bảng mạch in không
được xếp vào hạng mục này mà xếp trong nhóm ngành thiết bị bán dẫn. Các
công ty sản xuất và phân phối thiết bị viễn thông công nghệ cao như vệ tinh,
điện thoại di động , sợi cáp quang, thiết bị chuyển mạch, thiết bị kết nối mạng
máy tính, thiết bị phục vụ hội nghị qua điện thoại…
1.2. Hệ thống chỉ tiêu phân tích
1.2.1. Khái niệm hệ thống chỉ tiêu phân tích
Trong điều kiện kinh doanh theo cơ chế thị trường có sự quản lý vĩ mô của
nhà nước, các DN thuộc các loại hình sở hữu khác nhau đều bình đẳng trước
pháp luật trong kinh doanh do đó có nhiều đối tượng quan tâm đến tình hình tào
chính của doanh nghiệp như chủ doanh nghiệp, nhà cho vay, nhà cung cấp,
khách hàng, nhà bảo hiểm…kể cả những cơ quan chính phủ và những người lao
động. Mỗi đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp dưới
một góc độ khác nhau. Đối với chủ doanh nghiệp và các nhà quản trị doanh
nghiệp mối quan tâm hàng đầu của họ là tìm kiếm lợi nhuận và khả năng tài trợ.
Đối với chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng, mối quan tâm chủ yếu của
họ là các yếu tố rủi ro, thời gian hoàn vốn, mức sinh lãi và khả năng thanh toán
vốn…Nhìn chung họ đều quan tâm đến khả năng tạo ra dòng tiền mặt, khả năng
sinh lời, khả năng thanh toán và mức sinh lời tối đa.
Các báo cáo kế toán, báo cáo tài chính phản ánh một cách tổng hợp toàn
diện tình hình tài sản, nguồn vốn công nợ, kết quả sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp trong một niên độ kế toán, song những thông tin riêng biệt đó
chưa thể hiện được nhiều ý nghĩa và chưa thể hiện hết các yêu cầu, nội dung mà
người sử dụng thông tin quan tâm do đó họ thường dùng các công cụ và kỹ thuật
cơ bản để phân tích tài chính doanh nghiệp, để thuyết minh các mối quan hệ chủ
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------
1.2.2. Các chỉ số tài chính cơ bản trong phân tích tài chính
1.2.2.1. Nhóm tỷ số thanh toán
• Tỷ số thanh toán hiện hành
Tỷ số thanh toán hiện hành R
c
= Tài sản lưu động / Nợ ngắn hạn
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên
Nguyễn Thanh Phúc
TCDN47A, Tài chính-Ngân hàng, Đại học Kinh tế quốc dân
20
Xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân tích ngành Ngân Hàng Việt Nam
-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Tài sản lưu động bao gồm các khoản vốn bằng tiền, đầu tư tài chính ngắn
hạn, các khoản phải thu, hàng tồn kho và các tài sản lưu động khác.
Nợ ngắn hạn là các khoản nợ phải trả trong năm bao gồm: vay ngắn hạn,
vay dài hạn đến hạn phải trả và các khoản phải trả khác.
Trong quản lý tài sản ngắn hạn, doanh nghiệp đánh đổi giữa khả năng sinh
lời và khả năng thanh toán. Khả năng sinh lời cao, khả năng thanh toán thấp và
ngược lại.
Tỷ số R
c
cho biết công ty có bao nhiêu tài sản có thể chuyển đổi thành tiền
mặt để đảm bảo thanh toán các khoản nợ ngắn hạn. Tỷ số này đo lường khả
năng trả nợ của công ty. Nếu tỷ số thanh toán hiện hành giảm sẽ cho ta thấy khả
năng thanh toán giảm và báo trước những khó khăn tài chính có thể xảy ra. Nếu
tỷ số thanh toán hiện hành cao điều đó có nghĩa là công ty luôn sẵn sang thanh
toán các khoản nợ. Tuy nhiên, nếu tỷ số thanh toán hiện hành quá cao sẽ làm
hiệu quả hoạt động vì công ty đã đầu tư quá nhiều vào tài sản lưu động hay nói
cách khác việc quản lý tài sản lưu động không hiệu quả. Một công ty nếu dự trữ
thanh toán các khoản phải thu…Khi khách hàng thanh toán tất cả các hóa đơn
của họ, lúc đó các khoản phải thu quay được một vòng.
Vòng quay các khoản phải thu = Doanh thu / Các khoản phải thu
Kỳ thu tiền bình quân = Các khoản phải thu / Doanh thu bình quân
ngày
Vòng quay các khoản phải thu hay kỳ thu tiền bình quân cao hay thấp phụ
thuộc vào chính sách bán chịu của công ty. Nếu số vòng quay thấp thì hiệu quả
sử dụng vốn kém do vốn bị chiếm dụng nhiều. Nhưng nếu số vòng quay các
khoản phải thu cao quá thì sẽ giảm sức cạnh tranh dẫn đến giảm doanh thu.
Ngoài ra khi xem xét cần phải phát hiện ra các khoản nợ đã quá hạn trả và có
biện pháp xử lý.
• Vòng quay hàng tồn kho
Vòng quay hàng tồn kho là chỉ tiêu đánh giá công ty sử dụng hàng tồn
kho của minh hiệu quả như thế nào :
Vòng quay hàng tồn kho = Doanh thu thuần / Hàng tồn kho bình
quân
Số vòng luân chuyển hàng tồn kho cao hay thấp tùy thuộc vào đặc điểm
ngành kinh doanh
• Hiệu suất sử dụng tài sản cố định
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên
Nguyễn Thanh Phúc
TCDN47A, Tài chính-Ngân hàng, Đại học Kinh tế quốc dân
22
Xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân tích ngành Ngân Hàng Việt Nam
-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Tỷ số này nói lên một đồng tài sản cố định tạo ra được bao nhiêu đồng
doanh thu. Qua đó đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản cố định ở công ty.
Hiệu quả sử dụng tài sản cố định = Doanh thu thuần / Tài sản cố định
bình quân.
Đối với công ty, tỷ số đòn bẩy tài chính sẽ giúp các nhà quản trị tài chính
lựa chọn cấu trúc vốn hợp lý nhất cho công ty của mình. Qua tỷ số đòn bẩy tài
chính nhà đầu tư thấy được rủi ro về tài chính của công ty dẫn đến quyết định
đầu tư của mình.
Nếu tử số được xác định theo kỳ, mẫu số được xác định tại thời điểm thì
phải lấy số bình quân.
• Tỷ số nợ trên tài sản
Tỷ số này cho ta thấy bao nhiêu phần trăm tài sản của công ty được tài trợ
bằng vốn vay.
Tỷ số nợ = Tổng nợ / Tổng tài sản
Tổng nợ: bao gồm toàn bộ khoản nợ ngắn hạn và dài hạn tại thời điểm lập
báo cáo tài chính gồm : các khoản phải trả vay ngắn hạn, nợ dài hạn do đi vay
hay phát hành trái phiếu dài hạn.
Tổng tài sản : toàn bộ tài sản của công ty tại thời điểm lập báo cáo.
• Tỷ số nợ trên vốn cổ phần
Một tỷ số khác cũng được sử dụng để tính toán mức độ đi vay( rủi ro về
tài chính) mà công ty đang gánh chịu đó là tỷ số tổng tài sản trên vốn cổ phần.
Tổng tài sản trên vốn cổ phần = Toàn bộ tài sản / Vốn cổ phần .
• Khả năng thanh toán lãi vay
Lãi vay hằng năm là chi phí cố định và chúng ta muốn biết công ty sẵn
sàng trả lãi đến mức nào. Cụ thể hơn nữa chúng ta muốn biết rằng liệu số vốn đi
vay có thể sử dụng tốt đến mức nào, có thể đem lại khoản lợi nhuận bao nhiêu?
Có thể bù đắp lại lãi vay hay không. Tỷ số này dùng để đo mức độ mà lợi nhuận
phát sinh do sử dụng vốn để đảm bảo trả lãi vay như thế nào. Nếu công ty quá
yếu về khoản này, công ty có thể đi đến kiện tụng và tuyên bố phá sản.
Khả năng thanh toán lãi vay = Lãi trước thuế và lãi vay (EBIT) / Lãi
vay
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên
Nguyễn Thanh Phúc
trừ đi tiền lãi của cổ phần ưu đãi.
• Tỷ lệ chi trả cổ tức
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên
Nguyễn Thanh Phúc
TCDN47A, Tài chính-Ngân hàng, Đại học Kinh tế quốc dân
25