MỤC LỤC
A. Mở đầu. 1
B. Nội dung. 2
I. Thế nào là “ kết hôn giữa những người cùng giới tính’’? 2
II. Thực trạng “kết hôn giữa những người cùng giới tính”
ở Việt Nam và một số nước trên thế giới. 2
III. Quan điểm về việc “quy định cấm kết hôn
giữa những người cùng giới tính. 4
1. Hai luồng quan điểm về việc kết hôn cùng giới tính. 4
2. Tác động của giao lưu hội nhập thế giới
với vấn đề kết hôn cùng giới. 6
IV. Những mặt tích cực và hạn chế của quy đinh cấm kết hôn
giữa những người cùng giới. Một số ý kiến khắc phục. 7
C. Kết thúc. 11
1
A. MỞ ĐẦU.
Một trong những vấn đề được xem là nổi cộm và gây nhiều tranh cãi trong
Luật Hôn nhân và Gia đình là vấn đề hôn nhân giữa những người cùng giới tính,
khi mà thực tế cho thấy rằng những người cùng giới tính đang ngày càng có xu
hướng muốn kết hôn và chung sống với nhau. Khó có thể nói rằng chúng ta nên
tán thành hay không về vấn đề này. Có nhiều ý kiến cho rằng tại sao chúng ta lại
không cởi mở hơn về vấn đề hôn nhân giữa những người cùng giới, khi mà họ
cũng có quyền mưu cầu hạnh phúc. Nếu ở một số nước phương Tây như: Hà
Lan, Tây Ban Nha,…pháp luật ủng hộ và cởi mở hơn về vấn đề hôn nhân cùng
giới thì đối với những nước như Việt Nam, nơi mà suy nghĩ vẫn còn chịu ảnh
hưởng lớn của quan niệm về hôn nhân truyền thống thì đây vẫn còn là một vấn
đề nhạy cảm mà dư luận ngại nhắc đến hay thậm chí cả những người “trong
cuộc” cũng muốn che giấu đi “sự khác biệt” của mình. Nói về vấn đề trên, luật
pháp Việt Nam thể hiện rõ quan điểm của mình với khoản 5, điều 10 Luật hôn
nhân và gia đình năm 2000 : “Nghiêm cấm những người cùng giới tính kết hôn
với nhau”. Để hiểu rõ hơn, nhóm chúng em trình bày đề tài “Quy định cấm kết
con người, công dân có quyền lựa chọn kiểu hôn nhân phù hợp với mình, pháp
luật tôn trọng và bảo vệ các quyền đó. Đồng thời, cho phép những người đồng
3
tính kết hôn với người cùng giới sẽ giảm thiểu những ảnh hưởng tiêu cực về mặt
xã hội lớn hơn là việc ngăn cấm nó. Mặc dù quan điểm thừa nhận việc kết hôn
giữa những người cùng giới tính mới xuất hiện ở một số ít nước, song có hai đặc
điểm đáng lưu ý là:
+ Việc thừa nhận kết hôn giữa những người cùng giới tính thường tồn tại ở
khu vực các nước công nghiệp phát triển ở phương Tây.
+ Số lượng các nước thừa nhận việc kết hôn này đang có xu hướng ngày
càng tăng.
Ngày nay, qua các phương tiện thông tin đại chúng có thể thấy về hôn nhân
đồng giới ở nước ta hiện nay đang có xu hướng mở rộng. Dựa theo lỷ lệ nghiên
cứu của các nhà khoa học, Việt Nam có khoảng 1,65 triệu người đồng tính và
song tính, trong độ tuổi từ 15 - 59. Tuy nhiên, đến nay mới chỉ có khoảng 10
đám cưới của người đồng tính “được” báo chí phát hiện và phản ánh. Trên thực
tế, số người đồng tính tổ chức cưới hoặc những buổi tiệc nhỏ để ra mắt người
thân và bạn bè rất nhiều. Hầu hết những trường hợp đó đều là không có đăng ký
kết hôn vì họ không có đầy đủ điều kiện để kết hôn theo đúng quy định của pháp
luật. Ngày càng xuất hiện nhiều hơn những người đồng tính muốn được công lộ
diện, tiết lộ cho mọi người xu hướng tình dục của mình. Họ muốn được là chính
mình, được yêu được kết hôn một cách hợp pháp và đặc biệt là không muốn bị
xã hội nhìn với ánh mắt kì thị. Một vài năm trở lại đây, giới trẻ Việt Nam cũng
có cái nhìn thoáng hơn đối với vấn đề này nhưng đại bộ phận người Việt Nam
vẫn khó có thể chấp nhận được nó một cách hoàn toàn. Có trường hợp một
người đồng tính nữ sau khi bộc lộ mong muốn và thân phận của mình đã bị đưa
vào cơ sở tâm thần để chữa bệnh không phải là chuyện hiếm gặp. Một thực tế
là nhiều bậc cha mẹ khi biết con mình đồng tính vẫn hối thúc con cái lập gia
đình như là một biện pháp để “chữa trị” Chính vì lí do như vậy mà, một số
người đại diện cho họ đã mạnh dạn đứng lên đòi quyền lợi về cho bản thân mình
duy trì nòi giống. Loài người tồn tại, duy trì nòi giống là do sự phối hợp âm
dương nam nữ. Đồng giới kết hôn thì trẻ con sẽ được sinh ra từ đâu? Ai cũng
như thế thì loài người có hậu duệ hay không? Thêm nữa, người đồng tính có thể
5
hạnh phúc nhất thời nhưng không có con cái liệu hôn nhân của họ bền chặt và
lâu dài?
- Thứ hai, chấp nhận hôn nhân đồng giới có nguy cơ làm hỏng cả một thế
hệ. Không phải chúng ta lên án hay kỳ thị những người thật sự là les, là gay
nhưng bây giờ nhiều người trẻ bị na ná cứ nghĩ rằng mình bị les, gay. Mà người
trẻ thì luôn muốn thể hiện mình là con người thời đại, nếu những người trẻ đang
phân vân về giới tính ấy đều hùa theo phong trào như thế thì xã hội ta sẽ như thế
nào. Thực tế là những cặp đồng tình đã công khai tổ chức đám cưới ở Việt Nam
đều ở lứa tuổi 19, đôi mươi. Ai có thể dám chắc đó không phải là một sự bồng
bột của tuổi trẻ?
- Thứ ba, là người Việt Nam thì không thể chấp nhận một cuộc hôn nhân
trái với đạo đức, thuần phong mỹ tục như vậy. Vì chúng ta là người Á Đông,
người Việt phải giữ cái nếp của người Việt.
Công khai đám cưới, nhiều người sẽ cho rằng đôi bạn trẻ dũng cảm, cổ vũ
họ vì được lấy người mình yêu, đời người ngắn ngủi lắm hãy cứ sống với tình
yêu của mình. Nhưng hãy đặt mình vào vị trí của người làm cha, làm mẹ mà
hiểu cho nỗi lòng của bậc sinh thành. Dù có người chấp nhận cho con làm đám
cưới nhưng ẩn sau đó là những nỗi niềm không thể san sẻ.
Pháp luật không công nhận, xã hội không đồng tình, cha mẹ có đồng ý cũng
chỉ vì thương con. Nhưng sau đó họ phải đối mặt với dư luận và đặc biệt là nỗi
đau khi sinh con ra lại rơi vào tình cảnh như vậy.
Vì vậy những người đồng tính, họ có thể yêu nhau nhưng việc kết hôn đối
với họ là điểu không thể.
Trái ngược với ý kiến trên, đã có rất nhiều người lên tiếng ủng hộ việc kết
hôn giữa hai người cùng giới tính. Và họ cũng đã đưa ra những lý do để mọi
người có thể công nhận việc kết hôn này. Họ cho rằng việc cấm kết hôn đồng
vò, không dám ra ngoài rất khổ sở. Gia đình nào có con cái như thế thì bị coi là
đồ bỏ đi, thậm chí có người phải tự tử. Với suy nghĩ như vậy thì một điều tất yếu
là họ sẽ không đồng tình với việc kết hôn giữa những người cùng giới tính.
Nhưng với tình hình hội nhập như hiện nay, suy nghĩ và nhận thức của người
7
Việt Nam cũng dần thay đổi và tiến bộ hơn. Chúng ta đã không còn thái độ kì thị
với những người đồng tính, thậm chí đã có thái độ tôn trọng bới những người
đồng tính họ đã phải chịu quá nhiều thiệt thòi về tinh thần. Họ cũng là một con
người, bởi vậy họ cũng phải có quyền được hưởng những quyền và nghĩa vụ của
một công dân. Nên việc họ yêu và muốn kết hôn với một người cùng giới tính
khác hiện nay nhiều người cho rằng đó là một chuyện không đáng để lên án.
Nhất là giới trẻ hiện nay, thế hệ mà có thể nói là có những suy nghi rất tiến bộ,
bắt kịp với thời đại thì họ cũng đã đồng tình với việc kết hôn “lạ” đó.
Ca sĩ trẻ Phạm Anh Khoa: Đại sứ bình đẳng giới của Việt Nam đã phát biểu
trước báo giới rằng: Tôi đồng tình với quan điểm nên có luật cho phép những
người đồng tính được kết hôn hoặc tổ chức đám cưới. Vì tôi luôn muốn mọi giới
đều được bình đẳng như nhau. Dù chúng ta có thừa nhận hay cố tình không thừa
nhận thì những người đồng tính vẫn tồn tại trong xã hội như một thực tế dễ thấy
nhất trong nhiều năm qua.
Cùng với xu hướng vận động của toàn Thế giới, Bộ Tư Pháp của nước ta đã
bắt đầu trưng cầu ý kiến về việc sửa đổi luật theo hướng công dân kết hôn với
người cùng giới tính. Liệu rằng có phải nhà nước ta đã bắt đầu có cái nhìn
nghiêm túc và cởi mở hơn trong vấn đề vẫn được cho là khá nhạy cảm này?
IV. Những mặt tích cực và hạn chế của quy đinh cấm kết hôn giữa
những người cùng giới. Một số ý kiến khắc phục.
Từ những tìm hiểu về vấn đề kết hôn giữa những người cùng giới tính và
quy định cấm trường hợp kết hôn này trong bối cảnh hội nhập và giao lưu quốc
tế hiện nay, chúng em nhận thấy quy định cấm kết hôn giữa những người cùng
giới tính hiện nay có một số mặt tích cực và bất cập sau.
Về mặt tích cực của quy định cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính,
giới tính là không công nhận hôn nhân cùng giới tính trước pháp luật, mối quan
hệ của họ không có giá trị pháp lí do đó pháp luật không đảm bảo quyền và
nghĩa vụ của họ trong hôn nhân.
9
Thứ ba, pháp luật không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới
nhưng không cấm họ cưới và chung sống với nhau. “Nhiều người vẫn cho rằng
chung sống hay tổ chức lễ cưới giữa những người đồng giới là vi phạm pháp
luật là không phải. Chẳng có điều nào của Luật HN&GĐ hay luật khác cấm tổ
chức lễ cưới của những người đồng giới” - TS. Nguyễn Văn Cừ (Phó Chủ nhiệm
khoa Luật Dân sự, ĐH Luật Hà Nội, thành viên Tổ biên tập sửa đổi Luật
HN&GĐ) khẳng định. Khi hai người cùng giới tính lấy nhau sẽ làm phát sinh
các quan hệ về nhân thân, tài sản hoặc con cái. Hiện nay ở một nước như Việt
Nam chưa có cơ chế pháp lý cụ thể để điều chỉnh các hậu quả pháp lý từ việc
chung sống giữa những người đồng tính nam hay đồng tính nữ cùng giới tính,
nhất là khi có tranh chấp. Đây cũng là một trong những hạn chế của quy định
cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính.
Với những mặt tích cực và hạn chế như trên, vấn đề pháp luật liệu có nên
hủy bỏ quy định cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính và hợp pháp hóa
hôn nhân cùng giới đang diễn ra rất phức tạp và gây nhiều tranh cãi. Việc thừa
nhận hôn nhân giữa những người đồng giới tính ở những nước như Việt Nam
còn phải dựa trên nhiều khía cạnh của xã hội. Trong cuộc đối thoại trực tuyến
với nhân dân trên cổng thông tin Chính phủ sáng 24/7/2012, trả lời câu hỏi của
người dân về ý kiến của mình về hôn nhân đồng tính, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hà
Hùng Cường nhấn mạnh: “Cá nhân tôi cho rằng, việc công nhận hay không
công nhận hôn nhân đồng tính cần phải dựa trên những nghiên cứu hết sức cơ
bản, những đánh giá tác động nghiêm túc trên rất nhiều khía cạnh xã hội và
pháp lý như quyền tự do cá nhân, sự tương thích với văn hóa, tập quán của xã
hội và gia đình Việt Nam, tính nhạy cảm, hậu quả xã hội của quy định pháp
luật…”. Nhiều ý kiến của những chuyên gia pháp luật cũng cho rằng việc công
nhận hôn nhân đồng tính ở Việt Nam vào thời điểm hiện tại là chưa phù hợp.
quyền sở hữu có được ghi tên cả hai người? Hoặc khi họ không chung sống nữa,
khối tài sản đã tạo lập trong thời gian đã chung sống sẽ phân chia thế nào, có
theo quan điểm phân chia tài sản chung của "vợ chồng" (về nguyên tắc sẽ chia
đôi), hay giải quyết theo tranh chấp dân sự thông thường? Hay trường hợp hai
11
người đồng tính cùng nhận con nuôi thì cả hai có được cùng đứng tên là bố,
hoặc cùng đứng tên là mẹ nuôi của đứa trẻ không? Hay một cặp đôi đồng tính
sống chung, khi một người qua đời mà không để lại di chúc thì người kia có
quyền hưởng thừa kế tài sản của họ như quyền thừa kế của vợ, chồng không?
Vì vậy, trong giai đoạn hiện nay, nếu nhìn nhận việc cho phép hôn nhân
đồng giới còn "mới lạ", khó phù hợp với phong tục tập quán truyền thống, dễ
gây ra dư luận thiếu tích cực, thì việc đưa ra các qui định về "kết hợp dân sự" để
giải quyết việc chung sống giữa những người đồng giới và các hậu quả pháp lý
phát sinh từ việc chung sống giữa họ là hợp lý và cần thiết. Đến nay đã có gần
hai chục nước hợp thức hóa hôn nhân đồng tính và 24 nước khác công nhận
dưới hình thức "kết hợp dân sự" và đăng ký sống chung. Ở những nước này, khi
đăng ký "kết hợp dân sự", những cặp đôi đồng tính sẽ được hưởng phần lớn các
quyền hôn nhân. Việc pháp luật có những quy định cụ thể hơn để khắc phục
những bất cập về quy định cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính sẽ giúp
mối quan hệ của người đồng tính trở nên bền vững và có trách nhiệm hơn; đồng
thời bảo đảm được các quyền như quyền thừa kế, quyền tài sản chung, quyền
nhận con nuôi, quyền nhận thân nhân trong các trường hợp khẩn cấp và quyền
hưởng các phúc lợi xã hội, lao động như các cặp khác giới.
C. KẾT THÚC.
Mỗi con người đều có quyền tự do bình đẳng mưu cầu hạnh phúc cho bản
thân mình không phân biệt giới tính.Tuy nhiên, hạnh phúc của mỗi cá nhân luôn
được đặt trong một chỉnh thể thống nhất mang tên xã hội. Tùy vào hoàn cảnh,
truyền thống của mỗi xã hội nhất định, ta sẽ có những định nghĩa, những suy
nghĩ riêng về vấn đề mưu cầu hạnh phúc. Hôn nhân cùng giới tính ở Việt Nam
có lẽ vẫn còn là một vấn đề nhạy cảm cần được nhìn nhận nghiêm túc và phân