Hệ thống pháp luật của nhà nước đối với KTNN và thực tiễn áp dụng của hoạt động kiểm toán DNNN - Pdf 26

Đề án môn học GVHD: Tạ Thu Trang
MỤC LỤC
SV:Nguyễn Thị Hoài Lớp: Kiểm toán 49C
Đề án môn học GVHD: Tạ Thu Trang
Danh mục chữ viết tắt
KTNN : Kiểm toán nhà nước
KTHĐ : Kiểm toán hoạt động
KTTT : Kiểm toán tuân thủ
DNNN : Doanh nghiệp nhà nước
KTV : Kiểm toán viên
BCTC : Báo cáo tài chính
TSCĐ : Tài sản cố định
NSNN : Ngân sách nhà nước
KTV : Kiểm toán viên
CMKT : Chuẩn mực kiểm toán
QTKT : Quy trình kiểm toán
SXKD : Sản xuất kinh doanh
TCT : Tổng Công ty
XDCB : Xây dựng cơ bản
SV:Nguyễn Thị Hoài Lớp: Kiểm toán 49C
Đề án môn học GVHD: Tạ Thu Trang
Lời mở đầu
Cho đến nay kiểm KTNN Việt Nam đã đi được chặng đường hơn 15 năm.
Tuy không phải là một thời gian dài nhưng hoạt động kiểm toán Việt Nam đã và
đang có những đóng góp quan trọng trong việc lành mạnh hoá nền tài chính Việt
Nam, tạo đà cho sự phát triển kinh tế. Do sự đòi hỏi của thực tiễn, Việt Nam
đang dần hoàn thiện hệ thống pháp luật của nhà nước đối với KTNN dựa trên
những kinh nghiệm của quốc tế và hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam. Sự ra đời của
hệ thống pháp luật của nhà nước đối với KTNN đã đóng góp vai trò quan trọng
cho sự phát triển của hoạt động kiểm toán Việt Nam.
Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi chọn đề tài : “Hệ thống pháp luật của

hành Nghị định số 70/CP về việc thành lập cơ quan KTNN và Quyết định số
61/TTg ngày 24/01/1995 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Điều lệ
Tổ chức và hoạt động của Kiểm toán Nhà nước để "giúp Thủ tướng Chính
phủ thực hiện chức năng kiểm tra, xác nhận tính đúng đắn, hợp pháp của các
tài liệu và số liệu kế toán, báo cáo quyết toán của cơ quan Nhà nước, các đơn
vị kinh tế Nhà nước, các đoàn thể quần chúng, các tổ chức xã hội có sử̉ dụng
kinh phí do NSNN cấp" đánh giá sự tuân thủ pháp luật và hiệu quả hoạt động
SV:Nguyễn Thị Hoài Lớp: Kiểm toán 49C
2
Đề án môn học GVHD: Tạ Thu Trang
của các đơn vị được kiểm toán. Với tinh thần đó, hàng năm các số liệu, báo
cáo quyết toán ngân sách của các địa phương trước khi trình ra Hội đồng nhân
dân; Tổng quyết toán NSNN trước khi trình ra Quốc hội; báo cáo quyết toán
của các cơ quan, đơn vị thụ hưởng ngân sách, các chương trình, dự̣ án, công
trình đầu tư -xây dựng cơ bản của Nhà nước, các DNNN cần phải được
KTNN tiến hành kiểm toán và xác nhận.
Với tư cách là cơ quan kiểm tra tài chính công tối cao, KTNN phải thực
hiện 4 nhiệm vụ quan trọng:
Một là, KTNN phải báo cáo và tư vấn cho Quốc hội về những vấn đề
có liên quan trong quá trình ra các quyết định của Quốc hội, không những ở
chừng mực Quốc hội là cơ quan giám sát cơ quan hành pháp, mà cả trong việc
thực hiện nhiệm vụ của mình với tư cách là cơ quan ban hành Luật NSNN và
các đạo luật chuyên môn có hiệu lực tài chính.
Hai là, KTNN phải báo cáo, tư vấn và giải toả trách nhiệm cho Chính
phủ, cụ thể là cho các cấp quản lý hành chính Nhà nước, các Bộ, ban, ngành
trong việc thực hiện nhiệm vụ của mình, cũng như về tác động tài chính của
những biện pháp đề ra.
Ba là, KTNN thực hiện chức năng phòng ngừa và răn đe những biểu
hiện tham nhũng, lãng phhí và những hành vi lạm dụng nguồn lực tài chính
của Nhà nước

Bất cứ một chế độ xã hội nào , ngân sách nhà nước cũng là nguồn lực
quan trọng nhất đảm bảo tài chính cho mọi lĩnh vực. Hoạt động của bộ máy
nhà nước, một trong những công cụ để góp phần quản lý và sử dụng có hiệu
lực nguồn lực ấy là cơ quan kiểm toán nhà nước nhất là trong điều kiện nền
kinh tế chuyển đổi như nước ta hiện nay. Kiểm toán nhà nước đã khẳng định
sự cần thiết và vai trò ngày càng lớn của mình trong việc góp phần quản lý
kinh tế vĩ mô nói chung vã trong lĩnh vực quản lý ngân sách nhà nước công
SV:Nguyễn Thị Hoài Lớp: Kiểm toán 49C
4
Đề án môn học GVHD: Tạ Thu Trang
quỹ quốc gia nói riêng với chức năng kiểm tra, đánh giá và xác nhận tính
đúng đắn chung thực, chính xác ,hợp pháp, hợp lệ của số liệu kiểm toán , báo
cáo kiểm toán của các đơn vị nhà nước, đơn vị kinh tế, đơn vị sự nghiệp , các
đoàn thể quần chúng và các tổ chức xã hội.
Trong quá trình hoạt động vai trò của kiểm toán nhà nước không ngừng
được củng cố và tăng cường đáp ứng một phần yêu cầu đòi hỏi của thực tiễn
trong việc quản lý điều hành đất nước, nó được thể hiện một số mặt chủ yếu sau.
* Thứ nhất góp phần kiểm tra việc chấp hành những quy định hiện
hành về nghĩa vụ nộp ngân sách nhà nước ,thực hiện nộp đúng, nộp đủ theo
quy định của pháp luật.
* Thứ hai kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng ngân sách nhà nước chống
thất thoát, chống lãng phí, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và tài sản nhà nước.
* Thứ ba cung cấp cơ sở dữ liệu để thực hiện việc quyết định và quản
lý ngân sách nhà nước sát thực và có hiệu quả hơn. Một trong những vấn đề
quan trọng để nâng cao hiệu lực và hiệu quả của việc sử dụng ngân sách nhà
nước và công quỹ quốc gia trong việc quản lý điều tiết nền kinh tế là dự toán
ngân sách nhà nước.
Thông qua việc kiêm tra tài chính. Kiểm toán nhà nước đã chỉ ra những
bất họp lý trong việc xác định những chỉ tiêu thu, chi ngân sách nhà nước,
góp phần tạo lập cơ sở, căn cứ để xây dựng dự toán ngân sách nhà nước cho

1.1.5. Tổ chức cơ quan.
KTNN được tổ chức và quản lý tập trung thống nhất gồm bộ máy điều
hành, KTNN chuyên ngành, KTNN khu vực và các đơn vị sự nghiệp. Hiện
nay KTNN có 25 đơn vị thuộc và trực thuộc.
Theo Luật KTNN, Tổng KTNN là người đứng đầu KTNN, chịu trách
nhiệm về tổ chức và hoạt động của KTNN trước pháp luật, Quốc hội, Uỷ Ban
thường vụ Quốc hội và Chính phủ do Quốc hội bầu với nhiệm kỳ 7 năm.
SV:Nguyễn Thị Hoài Lớp: Kiểm toán 49C
6
Đề án môn học GVHD: Tạ Thu Trang
Hội đồng kiểm toán nhà nước do Tổng KTNN quyết định thành phần.
Hội đồng này có thẩm quyền không chỉ tư vấn thẩm định hoặc tái thẩm định
các báo cáo của KTNN bị khiếu nại mà cần thiết nên mở rộng đến việc thẩm
định, tái thẩm định cuối cùng các báo cáo kết luận liên quan hạch toán kế toán
NSNN của các cơ quan khác (Điều 25, 26 của Luật KTNN).
Tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm toán được thực hiện theo hình thức
Đoàn kiểm toán. Đoàn kiểm toán gồm Trưởng đoàn, phó đoàn, các tổ trưởng
và các thành viên khác. Hoạt động của đoàn phải đảm bảo nguyên tắc độc lập
và chỉ tuân theo pháp luật, trung thực, khách quan.
1.1.6. Sự phát triển của KTNN ở Việt Nam.
Sự hình thành và phát triển KTNN ở Việt Nam là không có tiền lệ
trong cơ cấu tổ chức Nhà nước, không có tổ chức tiền thân nhưng phù hợp với
thông lệ quốc tế và tiến trình cải cách nền hành chính quốc gia. 15 năm qua,
với phương châm: "Vừa xây dựng tổ chức bộ máy, vừa phát triển lực lượng
kiểm toán viên, vừa đào tạo và bồi dưỡng cán bộ, vừa triển khai kế hoạch
kiểm toán hàng năm được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt", KTNN đã chủ
động vươn lên và khẳng định sự cần thiết hình thành và phát triển KTNN ở
Việt Nam; đáp ứng yêu cầu không thể thiếu được của nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa. . Hoạt động KTNN đã có bước phát triển lớn
mạnh, nhất là từ khi Luật KTNN có hiệu lực thi hành từ 2006. Tổng hợp kết

cường kiểm tra, kiểm soát việc thực hiện NSNN, xử lí các vi phạm trong thu chi
điều hành và quyết toán NSNN. Những số liệu kiểm toán còn cung cấp cho cơ
quan quản lí nhà nước tình hình quản lí và sử dụng các nguồn lực NSNN trong
từng địa phương và đơn vị; cung cấp các thông tin xác thực cho các cơ quan
quản lí nhà nước về thực trạng thu chi, điều hành và quyết toán NSNN Nó
cũng là một trong những căn cứ để quốc hội xem xét quyết định phân bổ và phê
chuẩn quyết toán NSNN, đồng thời giúp chính phủ hoạch định chính sách và đề
SV:Nguyễn Thị Hoài Lớp: Kiểm toán 49C
8
Đề án môn học GVHD: Tạ Thu Trang
ra các biện pháp tăng cường quản lí vĩ mô nền kinh tế. Thông qua hoạt động
thực tiễn, KTNN đã xứng đáng là công cụ bảo vệ sự minh bạch của nền tài chính
quốc gia, góp phần quan trọng vào quá trình quản lý, điều hành và sử dụng
NSNN; đặc biệt là vai trò phòng ngừa và răn đe.
Hiện nay, các khu vực trên thế giới đều hình thành Tổ chức các Cơ
quan Kiểm toán tối cao và đều ra nhập Tổ chức Quốc tế các Cơ quan Kiểm
toán tối cao (International Organization of Supreme Audit Institutions -
INTOSAI) với 178 thành viên.
Năm 1996, KTNN Việt Nam là thành viên chính thức của Tổ chức
Quốc tế các Cơ quan Kiểm toán tối cao - INTOSAI).
Năm 1997, KTNN Việt Nam là thành viên chính thức của Tổ chức các
Cơ quan Kiểm toán tối cao châu á (Asian Organization of Supreme Audit
Institutions - ASOSAI).
1.2. Hệ thống pháp luật của nhà nước đối với KTNN.
1.2.1. Vai trò của hệ thống pháp luật của KTNN đối với hoạt động của
KTNN
Các văn bản liên quan đến hoạt động kiểm toán cuả kiểm toán nhà
nước bao gồm:
Luật Kiểm toán Nhà nước, các văn bản pháp luật về quản lý kinh tế, tài
chính, kế toán và các văn bản pháp luật khác của Nhà nước đối với doanh

- Dựa vào Hệ thống Chuẩn mực Kiểm toán, tổ chức kiểm toán nói
chung và KTNN nói riêng xây dựng quy trình, nội dung và tổ chức các cuộc
kiểm toán đạt hiệu quả mong muốn.
- Dựa vào Hệ thống Chuẩn mực Kiểm toán, KTNN có thể kiểm tra,
kiểm soát một cách chặt chẽ các hoạt động kiểm toán của từng kiểm toán
viên, của các Đoàn kiểm toán, Tổ kiểm toán, giảm thiểu rủi ro trong hoạt
động kiểm toán của KTNN.
SV:Nguyễn Thị Hoài Lớp: Kiểm toán 49C
10
Đề án môn học GVHD: Tạ Thu Trang
- Dựa vào Hệ thống Chuẩn mực Kiểm toán và mức độ tuân thủ chuẩn
mực kiểm toán của các kiểm toán viên, Chính phủ, Quốc hội và công chúng
có được mức độ tin cậy đối với các kết quả kiểm toán của KTNN và sự minh
bạch hoá các thông tin tài chính công khai đã được kiểm toán của KTNN.
Sự giám sát của nhân dân về việc quản lý và sử dụng tài chính công của
Chính phủ và các cơ quan, tổ chức quản lý và sử dụng tài chính công thông
qua quyền giám sát tối cao của Quốc hội. KTNN là một công cụ của Quốc
hội, của nhân dân để thực hiện các quyền năng này. Trong khi đó toàn bộ hoạt
động kiểm toán của KTNN phải bám sát Hệ thống Chuẩn mực Kiểm toán.
Điều này cho thấy vai trò quan trọng của Hệ thống Chuẩn mực Kiểm toán
trong hoạt động của KTNN.
1.2.2. Thực trạng hệ thống pháp luật của kiểm toán nhà nước đối với KTNN.
Ở Việt Nam trước đây, Kiểm toán Nhà nước được thành lập và hoạt
động theo Nghị định số 70/CP ngày 11 tháng 7 năm 1994 của Chính phủ,
Quyết định số 61/TTg ngày 24 tháng 01 năm 1995 của Thủ tướng Chính phủ
về việc ban hành Điều lệ tổ chức và hoạt động của Kiểm toán Nhà nước, Luật
ngân sách nhà nước, Luật ngân hàng nhà nước và một số văn bản pháp luật
khác. Hoạt động kiểm toán của kiểm toán Nhà nước trong giai đoạn đầu chủ
yếu được thực hiện dựa trên các quy định hiện hành của Nhà nước và vận
dụng các Chuẩn mực kiểm toán của INTOSAI (Tổ chức Quốc tế các Cơ quan

hướng dẫn và quy định riêng. Cụ thể:
- Nhóm chuẩn mực chung đưa ra các hướng dẫn về tính độc lập và yêu
cầu về khả năng trình độ chuyên môn của các Kiểm toán viên làm cơ sở cho
việc tuyển chọn, đào tạo và bồi dưỡng nhằm trang bị cho các kiểm toán viên
những kiến thức chuyên môn cần thiết đáp ứng được công việc đòi hỏi
chuyên môn cao. Đồng thời đưa ra các hướng dẫn về tính thận trọng và bảo
SV:Nguyễn Thị Hoài Lớp: Kiểm toán 49C
12
Đề án môn học GVHD: Tạ Thu Trang
mật nhằm tránh rủi ro và sai sót có thể có trong quá trình nhận xét, đánh giá
và kết luận về các vấn đề kinh tế - tài chính của đối tượng kiểm toán.
- Nhóm chuẩn mực thực hành, đưa ra các hướng dẫn về các quy định và
nguyên tắc cần tuân thủ cho các bước kiểm toán từ khâu lập kế hoạch, nghiên
cứu đánh giá về hệ thống kiểm soát của đối tượng sao cho tiết kiệm thời gian,
chi phí cho một cuộc kiểm toán trong khi kết quả kiểm toán hạn chế được các
rủi ro và sai sót có thể có. Đưa ra các hướng dẫn về đánh giá các trọng yếu và
rủi ro, các kỹ thuật thu thập bằng chứng làm cơ sở dẫn liệu đó trên cơ sở đó
kiểm toán viên đưa ra các nhận xét, đánh giá, tránh suy luận mang tính chủ
quan. Đồng thời đưa ra các hướng dẫn về việc kiểm tra và soát xét chất lượng
kiểm toán đảm bảo sản phẩm của kiểm toán Nhà nước là các Báo cáo kiểm
toán có chất lượng cao.
- Nhóm chuẩn mực báo cáo đưa ra được các quy định cụ thể làm hướng
dẫn về việc các Kiểm toán viên cần làm để lập các Báo cáo kiểm toán với nội
dung và thể thức phù hợp theo yêu cầu của Kiểm toán Nhà nước đáp ứng các
yêu cầu về quản lý.
- Hệ thống chuẩn mực chính là căn cứ pháp lý quan trọng để Kiểm toán
Nhà nước ban hành các quy định, quy chế hoạt động và biểu mẫu báo cáo kiểm
toán, đảm bảo việc điều chỉnh hoạt động kiểm toán đạt hiệu lực và hiệu quả cao.
Đồng thời điều chỉnh các hoạt động của Kiểm toán Nhà nước, phương pháp
nghiệm vụ do các kiểm toán viên thực hiện đi vào nề nếp, quy chuẩn hóa các

đó khó áp dụng trong thực tiễn hoạt động kiểm toán. Kiểm toán viên chủ yếu
vẫn dựa trên kinh nghiệm bản thân.
Hệ thống chuẩn mực kiểm toán nhà nước ban hành năm 1999 đã có
nữhng đóng góp tích cực trong việc nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động
kiểm toán, tăng cường hiệu lực của Kiểm toán Nhà nước
SV:Nguyễn Thị Hoài Lớp: Kiểm toán 49C
14
Đề án môn học GVHD: Tạ Thu Trang
Luật KTNN ra đời đã xác định chức năng, nhiệm vụ quan trọng của
hoạt động KTNN và kiểm toán tính kinh tế, tính hiệu quả của việc quản lý và
sử dụng các nguồn lực tài chính công. Bên cạnh đó, theo luật KTNN thì địa vị
pháp lý và phạm vi kiểm toán của KTNN đã có điều chỉnh theo hướng tăng
cường và mở rộng rất nhiều. Mặt khác, Hệ thống Chuẩn mực Kiểm toán của
INTOSAI đã được sửa đổi, điều chỉnh nhiều lần so với hệ thống chuẩn mực
kiểm toán ban hành lần đầu năm 1992, là một thành viên của INTOSAI,
KTNN Việt Nam cần phải sửa đổi Hệ thống Chuẩn mực Kiểm toán của mình
đáp ứng các yêu cầu mới cũng như phù hợp với Hệ thống Chuẩn mực Kiểm
toán của INTOSAI.
SV:Nguyễn Thị Hoài Lớp: Kiểm toán 49C
15
Đề án môn học GVHD: Tạ Thu Trang
Chương 2
Thực trạng áp dụng hệ thống pháp luật
đối với KTNN
2.1. Khái quát kết quả kiểm toán hoạt động của KTNN mấy năm qua.
Tạo lập khuôn khổ pháp lý cho tổ chức và hoạt động KTNN đã từng
bước tạo lập môi trường pháp lý cho tổ chức và hoạt động kiểm toán. Trước
năm 2006, KTNN là cơ quan thuộc Chính phủ, được tổ chức và hoạt động
theo Nghị định số 70/CP và Quyết định số 61/TTg của Thủ tướng Chính phủ,
thực hiện kiểm toán theo chương trình, kế hoạch kiểm toán do Thủ tướng

lực khác nhau, trong ba năm từ khi Luật KTNN có hiệu lực, KTNN tổ chức
biên soạn, in và phát hành hàng vạn tài liệu hướng dẫn, hỏi đáp và phổ biến
Luật KTNN và các văn bản hướng dẫn đến tất cả các bộ, ngành, cơ quan
Trung ương, HĐND và UBND các cấp chính quyền tỉnh, huyện, xã. Tổ chức
và phối hợp tổ chức hơn 40 lớp nghiên cứu, phổ biến Luật KTNN cho hơn
6.000 học viên ngoài ngành, kể cả cho đội ngũ cán bộ quản lý báo chí, các
biên tập viên, phóng viên của các cơ quan truyền thông để góp phần tuyên
truyền, phổ biến thông tin về tổ chức và hoạt động KTNN.
KTNN đã hình thành bộ máy theo mô hình tập trung thống nhất gồm
25 đơn vị cấp vụ trực thuộc, trong đó có 6 đơn vị tham mưu, giúp việc, bảy
KTNN chuyên ngành, chín KTNN khu vực và ba đơn vị sự nghiệp, với hơn
1.300 cán bộ, công chức. Có thể nói, KTNN đã tạo lập được môi trường, xây
dựng được cơ chế, kế hoạch, chương trình đào tạo, bồi dưỡng liên tục, đa
dạng, khá đồng bộ và toàn diện cả về đào tạo bằng cấp và chuyên gia; trong
và ngoài nước; chuyên môn nghiệp vụ, tin học, ngoại ngữ và kiến thức, kỹ
năng quản lý, văn hóa và ứng xử nghề nghiệp; bồi dưỡng cập nhật kiến thức
và đào tạo theo ngạch, bậc công chức, kết hợp với thi và cấp chứng chỉ KTV
Nhà nước. Công tác quy hoạch, tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, luân
SV:Nguyễn Thị Hoài Lớp: Kiểm toán 49C
17
Đề án môn học GVHD: Tạ Thu Trang
chuyển, bổ nhiệm và bổ nhiệm lại cán bộ luôn được thực hiện bài bản, khoa
học, công khai, minh bạch, theo đúng quy định của Đảng, Nhà nước, phù
hợp điều kiện đặc thù và khả năng của ngành. Nhờ vậy, chất lượng đội ngũ
cán bộ, công chức không ngừng được nâng cao, đến nay hơn 97,5% có trình
độ đại học trở lên, 100% KTV có trình độ đại học trở lên, nhiều người có từ
hai đến ba văn bằng đại học, hơn 17% số cán bộ, công chức có trình độ sau
và trên đại học, trong đó có năm giáo sư, phó giáo sư, hơn 200 tiến sĩ, thạc
sĩ. KTNN đã chọn cử và đào tạo thành công một số giảng viên có trình độ
quốc tế của INTOSAI, đào tạo 40 người đầu tiên có trình độ KTV quốc tế

Trong những năm gần đây, nền kinh tế từng bước phát triển theo chiều
sâu, chất lượng tăng trưởng được chú trọng, KTNN đã có những tiến bộ mới
trong kiểm toán hoạt động nhằm đánh giá tính kinh tế, hiệu lực và hiệu quả
trong quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản Nhà nước, trước hết là đối
với các dự án đầu tư, chương trình MTQG. Năm 2008 và 2009, trước diễn
biến nhanh của nền kinh tế, để hỗ trợ tăng cường kiểm soát, nâng cao hiệu
lực, hiệu quả chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa, KTNN đã điều chỉnh
mục tiêu, trọng tâm kiểm toán, chú trọng kiểm tra phân tích nguyên nhân lạm
phát, đánh giá việc thực hiện trên thực tế các giải pháp của Chính phủ chống
lạm phát, kích cầu theo kết luận của Bộ Chính trị và Nghị quyết của Quốc hội.
Cùng với sự đa dạng các loại hình kiểm toán, các phương thức kiểm toán
quyết toán (hậu kiểm), bắt đầu từ năm 2006, thực hiện quy định của Luật
KTNN, KTNN đã thực hiện thẩm định và trình bày ý kiến về dự toán NSNN
hằng năm Chính phủ trình Quốc hội. Nhiều dự án trọng điểm quốc gia cũng
được kiểm toán từ khi khởi công đến khi kết thúc đầu tư như: Trung tâm Hội
nghị quốc gia, Dự án Cầu Vĩnh Tuy, Dự án Đường 5 kéo dài, Dự án Nhà máy
xi-măng Thái Nguyên, Dự án Điện Cà Mau 1, Cà Mau 2 theo chỉ đạo của
Thủ tướng Chính phủ và đề nghị của một số bộ, địa phương. Phương thức
SV:Nguyễn Thị Hoài Lớp: Kiểm toán 49C
19
Đề án môn học GVHD: Tạ Thu Trang
kiểm toán chuyên đề cũng được triển khai mở rộng từ khi thực hiện Luật
KTNN nhằm đi sâu kiểm toán, giải đáp các vấn đề thực tiễn trong công tác
quản lý ngân sách, tiền và tài sản Nhà nước đang được dư luận quan tâm và
đã đề xuất được nhiều ý kiến có giá trị để hoàn thiện hệ thống luật pháp,
chính sách, chế độ quản lý. Điển hình là các cuộc kiểm toán chuyên đề quản
lý và sử dụng ngân sách chi cho khoa học - công nghệ giai đoạn 2003 - 2006;
chuyên đề chi sự nghiệp môi trường giai đoạn 2006 - 2008; chuyên đề bù lỗ
mặt hàng dầu giai đoạn 2006 - 2008; chuyên đề quản lý và sử dụng phí, lệ phí
giao thông đường bộ hay chuyên đề mua sắm, quản lý, sử dụng tài sản của

2.2. Thực trạng tổ chức kiểm toán của KNNN.
2.2.1. Giai đoạn chuẩn bị kiểm toán.
Trước khi có luật KTNN, trong giai đoạn chuẩn bị kiểm toán, công việc
thu thập, khảo sát những thông tin có liên quan đến đơn vị được kiểm toán,
tìm hiểu sơ bộ về hệ thống kiểm soát nội bộ để từ đó lập kế hoạch kiểm toán
trình tổng kiểm toán nhà nước phê duyệt và ra quyết định thành lập đoàn kiểm
toán, do kiểm toán nhà nước chuyên ngành ( khu vực ) tổ chức thực hiện.
Nhưng đến nay theo luật KTNN thì những công việc nêu trên trong giai đoạn
chuẩn bị kiểm toán có thể được chia ra những bước sau:
- Bước 1: Khảo sát, thu thập thông tin về hệ thống kiểm soát nội bộ,
tình hình tài chính và các thong tin về đơn vị được kiểm toán, đánh giá hệ
thống kiểm soát nội bộ, tình hình tài chính và các thong tin về đơn vị được
kiểm toán; đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ để xác định mục tiêu và nội
dung phạm vi kiểm toán và phương pháp kiểm toán; từ đó trình tổng kiểm
toán nhà nước ra quyết định kiểm toán. Bước này do trương Trưởng kiểm
toán chuyên nghành ( khu vực ) tổ chức thực hiện trực tiếp.
SV:Nguyễn Thị Hoài Lớp: Kiểm toán 49C
21
Đề án môn học GVHD: Tạ Thu Trang
- Bước 2: Lập kế hoạch kiểm toán do trưởng đoàn kiểm toán có nhiệm
vụ thực hiện trình kiểm toán trưởng để trình Tổng kiểm toán nhà nước phê
duyệt kế hoạch kiểm toán của cuộc kiểm toán.
Tuy vậy, trong 2 năm đầu sau khi luật KTNN có hiệu lực, do chưa có
hướng dẫn cụ thể nên giai đoạn chuẩn bị kiểm toán vẫn được tiến hành như
cũ.
Thực hiện đúng luật, nhà nước đã có hướng dẫn lại và bổ sung, điều
chỉnh mẫu, biểu kiểm toán phù hợp với hai bước của giai đoạn trên bao gồm:
- Nội dung và biểu mẫu khảo sát thu thập thông tin và đánh giá hệ
thống kiểm soát nội bộ có liên quan về đơn vị được kiểm toán.
- Tờ trình phê duyệt các nội dung của quyết định kiểm toán để tổng

kiểm toán với người thực hiện kiểm toán do vậy nhiều thông tin, ý tưởng của
người khảo sát lập kế hoạch không đồng nhất với người thực hiện kiểm toán.
Nhiều thông tin về đơn vị được kiểm toán thu thập sẽ không được sử dụng
nhiều trong quá trình kiểm toán; các giai đoạn của quy trình kiểm toán bị xé
lẻ, cắt khúc.
Kế hoạch kiểm toán mà Kiểm toán DNNN lập cho cuộc kiểm toán
DNNN còn hạn chế vì bao gồm nội dung về "Giới hạn Kiểm toán", trong đó
loại trừ một số lĩnh vực hoặc nhóm giao dịch kế toán nhất định (như tiền mặt,
vốn đầu tư) trong đợt kiểm toán. Điều này đã làm hạn chế giá trị của cuộc
kiểm toán được tiến hành (Tham khảo Phụ biểu 01. Kế hoạch kiểm toán, phần
Giới hạn kiểm toán). Như đã nêu, KTNN chưa có cơ chế để đảm bảo rằng tất
cả các hoạt động lĩnh vực được kiểm toán trong một khoảng thời gian “có thể
chấp nhận được”. Một cơ quan Kiểm toán Tối cao có thể quyết định tập trung
vào kiểm toán một số nội dung cụ thể của các giao dịch kế toán trong phạm vi
một số mẫu có trước và bỏ qua các mẫu khác. Tuy nhiên, cơ quan đó phải
SV:Nguyễn Thị Hoài Lớp: Kiểm toán 49C
23

Trích đoạn Hoàn thiện quy định pháp luật, xác định vai trò và vị trí củaKTNN Hoàn thiện quy trình kiểm toán
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status