tình huống luật kinh tế thương mại - Pdf 26

Luật kinh tế
LỜI NÓI ĐẦU:
Trong đời sống xã hội, pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng. Nó là công
cụ không thể thiếu, bảo đảm cho sự tồn tại, vận hành bình thường của xã hội nói
chung và của nền đạo đức nói riêng. Pháp luật không chỉ là một công cụ quản lý
nhà nước hữu hiệu, mà còn tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển của ý thức
đạo đức, làm lành mạnh hóa đời sống xã hội và góp phần bồi đắp nên những giá
trị mới.
Trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay, việc tăng cường vai trò của
pháp luật được đặt ra như một tất yếu khách quan. Điều đó không chỉ nhằm mục
đích xây dựng một xã hội có trật tự, kỷ cương, văn minh, mà còn hướng đến bảo
vệ và phát triển các giá trị chân chính, trong đó có ý thức đạo đức. Pháp luật
càng chặt chẽ, càng đầy đủ và được thi hành nghiêm chỉnh thì đạo đức càng
được đề cao, đồng thời khả năng điều chỉnh và giáo dục của đạo đức càng được
mở rộng và ảnh hưởng một cách toàn diện, tích cực đến mọi hành vi, mọi mối
quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với xã hội. Một hệ thống
pháp luật hoàn chỉnh, thể hiện đúng đắn ý chí và nguyện vọng của số đông, phù
hợp với xu thế vận động của lịch sử sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển và tiến
bộ xã hội.
Ở tất cả các quốc gia, các hoạt động kinh tế luôn đóng vai trò đặc biệt quan
trọng, quyết định đến sự tồn tại và phát triển của đất nước và ở đâu cũng vậy,
hiệu quả của các hoạt động kinh tế luôn phụ thuộc rất lớn vào môi trường pháp
lý trong đó các hoạt động kinh tế được tiến hành.
Trong đó, luật doanh nghiệp nhằm tạo ra mặt bằng pháp lý chung cho tất cả
doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau, nâng cao khả năng cạnh
tranh của môi trường kinh doanh ở nước ta, tạo kênh huy động vốn cho nền
kinh tế cũng như để đáp ứng được các yêu cầu phát triển kinh tế đất nước và hội
nhập kinh tế quốc tế. Luật thương mại nhằm đảm bảo sự công bằng giữa các
bên trong các hợp đồng thương mại và các hoạt động thương mại theo quy định
của pháp luật.
Nhóm 4 Page 1

Căn cứ theo điểm c, khoản 2, điều 49 – Luật doanh nghiệp 2005
quy định: Chủ tịch hội đồng thành viên có các quyền và nhiệm vụ sau
đây:
“Triệu tập và chủ trì cuộc họp Hội đồng thành viên hoặc tổ chức việc lấy
ý kiến các thành viên”.
Vì D là chủ tịch hội đồng thành viên nên D có quyền triệu tập cuộc họp
hội đồng thành viên.
• Về thẩm quyền triệu tập cuộc họp HĐTV:
Theo khoản 1, điều 50, luật Doanh nghiệp năm 2005 quy định về
thẩm quyền triệu tập cuộc họp HĐTV như sau:
“Hội đồng thành viên được triệu tập bất cứ khi nào theo yêu cầu của
chủ tịch hội đồng thành viên hoặc theo yêu cầu của thành viên hoặc
nhóm thành viên quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 41 của luật này”.
Theo đó, trong tình huống trên sau 1 năm thành lập và hoạt động, D là
chủ tịch HĐTV đã triệu tập hội đồng thành viên để quyết định lại phương
án chia lợi nhuận trong công là hoàn toàn đúng với quy định của pháp
luật.
• Về điều kiện tiến hành họp HĐTV
Theo khoản 1, Điều 51 luật doanh nghiệp 2005 quy định: điều kiện
tiến hành cuộc họp hội đồng thành viên:
“Cuộc họp Hội đồng thành viên được tiến hành khi có số thành viên
dự họp đại diện ít nhất 75% vốn điều lệ; tỷ lệ cụ thể do Điều lệ công ty
quy định”. Trong tình huống này, đề bài không đề cập đến quy định của
điều lệ công ty, cho nên ta mặc nhiên hiểu rằng điều lệ công ty không quy
định gì khác, do vậy mọi điều kiện sẽ căn cứ vào quy định của pháp luật.
A, B, C, D, E cùng góp vốn thành lập công ty TNHH Hưng Thịnh với
số vốn điều lệ là 2 tỷ
Nhóm 4 Page 3
Luật kinh tế
Vốn cam kết :

kết góp, điều này không ảnh hưởng đến sự hợp pháp của cuộc họp HĐTV
cũng như quyết định của HĐTV. Vì theo khoản 3, điều 6, nghị định 102
quy định:
“ Thời hạn mà thành viên, chủ sở hữu công ty phải góp đủ số vốn đã
cam kết vào vốn điều lệ quy định tại các khoản 1 và 2 điều này không
quá 36 tháng, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh
nghiệp hoặc giấy chứng nhận đăng ký bổ sung, thay đổi thành viên”.
Vì vậy theo số vốn cam kết góp thì C, D, E chiếm đúng 75% vốn điều lệ.
Và cuộc họp trên thỏa mãn về điều kiện tiến hành cuộc họp thành viên
theo khoản 1, điều 51 luật DN 2005 quy định.
Việc tham gia cuộc họp HĐTV là một trong những quyền của thành viên
công ty chứ không phải là một nghĩa vụ. Do đó, việc A, B không đi dự
họp có nghĩa là A, B đã tự từ bỏ quyền lợi của mình . Và điều này không
không ảnh hưởng gì đến việc C, D, E được tiến hành cuộc họp vì C, D, E
đã đáp ứng được điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 51 luật DN 2005.
Về thủ tục chuẩn bị trước khi tiến hành họp hội đồng thành viên:
Theo khoản 2, Điều 50, Luật DN 2005 quy định các thủ tục khi triệu
tập họp hội đồng thành viên là:
- Thông báo mời họp hội đồng thành viên có thể bằng giấy mời, điện
thoại, fax, telex hoặc các phương tiện điện tử khác do điều lệ của công
ty quy định và được gửi trực tiếp đến từng thành viên hội đồng thành
viên. Nội dung thông báo mời họp phải xác định rõ thời gian, địa điểm
và chương trình họp.
- Chương trình và tài liệu họp phải được gửi cho các thành viên công ty
trước khi họp. Tài liệu sử dụng trong cuộc họp liên quan đến quyết
định về sửa đổi, bổ sung điều lệ của công ty, thông qua phương án
phát triển công ty, thông qua báo cáo tài chính hàng năm, tổ chức lại
hoặc giải thể công ty phải được gửi tới các thành viên chậm nhất 2
ngày làm việc trước ngày họp. Thời hạn gửi các tài liệu khác do Điều
lệ công ty quy định.

Nhóm 4 Page 6
Luật kinh tế
Điều 57 BLTM năm 2005 quy định về vấn đề chuyển rủi ro trong
trường hợp có địa điểm giao hàng xác định như sau: “Trừ trường hợp có
thỏa thuận khác, nếu bên bán có nghĩa vụ giao hàng cho bên mua tại một
địa điểm nhất định thì rủi ro về mất mát hoặc hư hỏng hàng hóa được
chuyển cho bên mua khi hàng hóa đã được giao cho bên mua hoặc người
được bên mua ủy quyền đã nhận hàng tại địa điểm đó, kể cả trong trường
hợp bên bán được ủy quyền giữ lại các chứng từ xác lập quyền sở hữu
đối với hàng hóa”.
TH1: Nếu giữa A và B không có thỏa thuận khác:
Quay trở lại những dữ kiện đề bài cung cấp: Trong hợp đồng mua bán,
hai bên có thỏa thuận về nghĩa vụ vận chuyển, thời gian và địa điểm giao,
nhận hàng hóa như sau: “A có nghĩa vụ giao hàng cho B trong khoảng
thời gian từ ngày 15/8 đến ngày 30/8/2010 tại kho hàng số 1 của công ty
B tại quận K”. Theo đó, bên A (tức bên bán) có nghĩa vụ vận chuyển
hàng hóa và giao hàng cho B ( tức bên mua) từ ngày 15/8 đến ngày
30/8/2010 tại kho 1 của công ty B.
Xét việc thực hiện hợp đồng của hai bên: Về phía A: A đã thực hiện
đầy đủ các nghĩa vụ thỏa thuận trong hợp đồng giữa hai bên cụ thể:
Thứ nhất: Thời hạn giao, nhận hàng hóa: “ngày 20/8/2010, A gọi điện
đến cho B thông báo giao hàng cho B vào ngày 21/8/2010”. Theo khoản
2 điều 37 Luật thương mại 2005 về thời hạn giao hàng:
“ Trường hợp chỉ có thỏa thuận về thời hạn giao hàng mà không
xác định thời điểm giao hàng cụ thể thì bên bán có quyền giao
hàng vào bất kỳ thời điểm nào trong thời hạn đó và phải thông báo
trước cho bên mua”
Như vậy, A đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật tại Điều 37
BLTM về thời hạn giao hàng, cụ thể là giao hàng vào ngày 21/8/2010 -
phù hợp với khoảng thời gian mà 2 bên đã thỏa thuận ( từ ngày 15/8 đến

hỏng” . Khi B thông báo thay đổi địa điểm giao hàng so với nội dung hợp
đồng, A chấp nhận chứng tỏ hai bên đã thống nhất với nhau rằng sẽ thay
Nhóm 4 Page 8
Luật kinh tế
đổi điều khoản về địa điểm giao hàng trong hợp đồng, tuy nhiên theo
điều 423 – luật dân sự quy định:
1. Các bên có thể thỏa thuận sửa đổi hợp đồng và giải quyết hậu quả
của việc sửa đổi, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Trong trường hợp hợp đồng được thành lập bằng văn bản, được công
chứng, chứng thực, đăng ký hoặc cho phép thì việc sửa đổi hợp đồng
cũng phải tuân theo hình thức đó.
Hợp đồng mua muối giữa A va B được ký kết vì vậy hợp đồng này được
lập thành văn bản. Theo như việc thay đổi về địa điểm giao hàng giữa A
và B nói trên không thể hiện sự đồng ý này thành văn bản. Vì vậy coi
như hợp đồng này chưa được sửa đổi. Việc bên A chấp nhận giao hàng
tại địa điểm mới (kho số 2) của B đồng nghĩa với việc A cũng chấp nhận
thêm rủi ro về phía mình khi phải vận chuyển hàng hóa đến kho hàng số 2
Theo hợp đồng, đáng lẽ A phải giao hàng cho B tại kho 1, đồng thời
chuyển giao rủi ro cho B nhưng A lại không thực hiện việc giao hàng
theo đúng thỏa thuận mà lại mang hàng hóa đến địa điểm thỏa thuận mới
là kho 2 nên khi có tai nạn xảy ra trên đường vận chuyển thì A phải
chịu(2)
Vì vậy cả hai bên đều có lỗi. Như vậy trường hợp này rủi do thuộc về A
nhưng vì B cũng vi phạm nghĩa vụ của mình đối với hợp đồng gốc nên A
có quyền yêu cầu B phải chịu trách nhiệm đối với số hàng hóa bị thiệt
hại.
(Không thấy nhắc đến người vận chuyển nhưng nếu có người vận chuyển
thì trách nhiệm đối với rủi ro hàng hóa cũng được tính cho người vận
chuyển theo thỏa thuận giữa các bên).
TH2: Nếu A và B có thỏa thuận khác:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status