Chương 3: Một số giải pháp phát triển họat động CTTC đến năm 2010
GVHD: ThS Nguyễn Quốc Anh
Sinh viên thực hiện: Lê Quỳnh Trâm
54
Chương 3: Một số giải pháp phát triển họat động CTTC đến năm 2010
GVHD: ThS Nguyễn Quốc Anh
3.1. Định hướng phát triển ngành CTTC đến năm 2010:
3.1.1. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn TP.HCM đến năm 2010:
Nền kinh tế Việt Nam trong thời gian qua đã đạt được mức tăng trưởng kinh tế cao, đặc
biệt tốc độ tăng trưởng của TP.HCM luôn dẫn đầu cả nước (năm 2006 đạt 12,2%).
Với mục tiêu phát triển kinh tế năm 2007-2010 là phấn đấu duy trì tốc độ tăng trưởng
kinh tế cao và bền vững đồng thời tạo chuyển biến mạnh về chất lượng, hiệu quả và sức mạnh
cạnh tranh của nền kinh tế, đưa đất nước vượt nhanh ra khỏi tình trạng kém phát triển, thu
nhập thấp, phát triển mạnh nguồn lực con người, giáo dục đào tạo, khoa học và công nghệ,
nâng cao một bước về chất trình độ công nghệ trong nền kinh tế quốc dân, chủ động trong
quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới và tạo ra bước phát triển trên con đường công
nghiệp hóa rút ngắn theo hướng hiện đại.
3.1.2. Định hướng phát triển ngành CTTC đến năm 2010
Hoạt động CTTC trong thời gian qua đã đạt được một số thành tựu. Tuy vậy, để có thể
tiếp tục duy trì và phát triển hiệu quả hoạt động của ngành này cho tương xứng với tiềm năng
thì cần phải hoạch định một chiến lược đúng đắn đảm bảo cho sự phát triển lâu dài và bền
vững. Trên cơ sở đó Nhà nước, các cơ quan ban ngành liên quan và chính bản thân các công
ty CTTC sẽ đưa ra những giải pháp thích hợp để từng bước khắc phục những khó khăn, bất
cập, tồn tại hiện có và xây dựng được một kênh cung ứng vốn hữu hiệu cho mục tiêu phát
triển kinh tế, xã hội.
Hoạt động CTTC nằm trong những hoạt động của ngành tài chính – ngân hàng. Để đề ra
định hướng phát triển ngành CTTC ta phải xem xét định hướng hoạt động của ngành Ngân
hàng từ năm 2007-2010.
Định hướng hoạt động ngành Ngân hàng năm 2007 - 2010:
Trên cơ sở mục tiêu kinh tế vĩ mô, định hướng đổi mới điều hành chính sách tiền tệ đã
được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và các phân tích, dự báo kinh tế - tiền tệ quốc tế và
ty CTTC nên hướng đến mục tiêu cổ phần hóa để có thể huy động vốn trên thị trường
chứng khoán đặc biệt trong giai đoạn thị trường chứng khoán tại Việt Nam rất phát
triển như hiện nay.
- Ba là: Phấn đấu đến năm 2010, mạng lưới hoạt động CTTC được mở rộng đến khắp
các địa phương trong những ngành có triển vọng phát triển mạnh mẽ nhưng thiếu vốn,
thiếu kỹ thuật hoặc khó tiếp cận các nguồn tài trợ vốn khác như: nuôi trồng và chế
biến nông lâm thủy hải sản, ngành dệt may, ngành gỗ để đáp ứng nhanh chóng và hiệu
quả nhu cầu thuê tài chính.
Sinh viên thực hiện: Lê Quỳnh Trâm
56
Chương 3: Một số giải pháp phát triển họat động CTTC đến năm 2010
GVHD: ThS Nguyễn Quốc Anh
- Bốn là: mở rộng đối tượng thuê đến mọi chủ thể có nhu cầu trang bị, đối mới máy móc
thiết bị, phương tiện vận chuyển phục vụ sản xuất kinh doanh bằng hình thức CTTC,
đặc biệt là các doanh nghiệp trong ngành công nghệ thông tin, tự động hóa sản xuất,
lắp ráp và chế tạo máy móc thiết bị. Trên cơ sở đó, vẫn tiếp tục tập trung vào các
DNNVV tăng số lượng các DNNVV có quan hệ CTTC lên 17-20% vào năm 2010,
tăng mức dư nợ cho thuê lên 7-7,5% trong tổng dư nợ tín dụng trung và dài hạn.
3.2. Một số giải pháp phát triển hoạt động CTTC trên địa bàn TP.HCM đến năm
2010:
3.2.1. Về phía chính phủ và các cơ quan ban ngành:
Hiện nay, hoạt động CTTC chỉ dựa trên Nghị định 64/CP, Nghị định 16/CP, Nghị định
65/CP chưa được đưa vào luật như các nước trên thế giới nên mọi hoạt động đều chưa có nền
tảng vững chắc. Thực tế hoạt động CTTC trong mấy năm qua đã cho thấy còn nhiều bất cập
về mội trường pháp lý cần phải tiếp tục giải quyết.
Hoạt động CTTC liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau như: ngân hàng, xuất nhập
khẩu, dân sự, thương mại, tài chính,…Các đạo luật này chưa đưa ra được đầy đủ và đồng bộ
các quy định về hoạt động CTTC. Trong đó luật hợp đồng và luật liên quan đến quyền sở
hữu, luật thuế, luật khuyến khích đầu tư trong nước và nước ngoài ảnh hưởng lớn đến hoạt
động CTTC.
Như đã trình bày thì CTTC có nhiều hình thức cho thuê, nhưng hiện tại 90% các giao dịch
CTTC là thuê tài chính thuần. Hình thức cho thuê này không mấy khác biệt so với hình thức
tài trợ vốn trung và dài hạn của ngân hàng hay các quĩ đầu tư nên CTTC sẽ khó dành được ưu
thế so với ngân hàng và các doanh nghiệp cũng sẽ nghĩ đến ngân hàng trước tiên khi có nhu
cầu về vốn.
Do đó, các công ty CTTC rất muốn mở rộng nhiều hình thức CTTC khác để đa dạng hóa
hoạt động của mình. Tuy nhiêu họ gặp nhiều trở ngại và bất cập từ các qui định:
- Hình thức mua và cho thuê lại: Thực chất nghiệp vụ này nhằm tài trợ cho các DN
thoát khỏi khó khăn về tài chính vì các tài sản nhập khẩu thường có giá trị cao. Nhưng
do các tài sản này thuộc diện này thường được miễn thuế nhập khẩu nên nhằm ngăn
ngừa các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài lợi dụng ưu đãi này để trốn thuế nên
nghị định 24 qui định những tài sản này nếu bán tại thị trường Việt Nam phải được Bộ
Thương Mại cho phép. Trong thực tế, việc này khó được Bộ Thương Mại cho phép mà
nếu được cho phép thì thủ tục rất phức tạp.Ngoài ra, việc bán tài sản cho các công ty
CTTC còn làm phát sinh các khoản thuế VAT, thuế thu nhập từ việc bán tài sản nên
chi phí cho việc bán và tái thuê trở nên khá cao và hình thức cho thuê này trở nên kém
Sinh viên thực hiện: Lê Quỳnh Trâm
58
Chương 3: Một số giải pháp phát triển họat động CTTC đến năm 2010
GVHD: ThS Nguyễn Quốc Anh
hiệu quả. Vì vậy, chính phủ nên xem xét bỏ qua các giới hạn chuyển nhượng tài sản
máy móc thiết bị cũng như miễn giảm thuế thu nhập phát sinh từ việc bán tài sản để
hình thức mua và cho thuê lại thực sự phát huy hiệu quả.
- Hình thức cho thuê vận hành: Để phát triển hệ thống CTTC, tháng 6/2004 NHNN
đã có quyết định cho phép các công ty CTTC được thực hiện cho thuê vận hành (cho
thuê hoạt động). So với CTTC thì cho thuê vận hành cũng có những lợi thế nhất định:
người đi thuê chỉ thuê trong thời gian ngắn do nhu cầu sử dụng thiết bị mang tính thời
hạn, kết thúc hợp đồng thuê không có sự chuyển giao sở hữu tài sản từ công ty CTTC
sang người thuê, người thuê không hạch toán giá trị tài sản thuê vào bảng cân đối kế
toán mà chỉ hạch toán tiền thuê là chi phí. Đây là bước tháo gỡ rất hữu hiệu cho những