Công nghiệp hóa gắn với hiện đại hóa ngay từ bây giờ và trong suốt các giai đoạn - Pdf 26

I. Đặt vấn đề
Thế giới đã bước vào thế kỷ 21 với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học -
công nghệ (KH - CN). Ngày nay KH - CN được ứng dụng rất nhiều vào cuộc sống
của con người. Đặc biệt, ứng dụng tri thức KH - CN trong phát triển kinh tế là một
hướng đi đúng.
ở các nước phát triển hiện nay, nền kinh tế phát triển có ứng dụng tri thức KH
- CN. Đối với Việt Nam đang trong quá trình phát triển nền kinh tế theo định hướng
XHCN, mặc dù đã đạt được những thành tựu to lớn trong 15 năm đổi mới vừa qua,
song nền kinh tế vẫn còn kém phát triển so với các nước khu vực và thế giới, đồng
thời đang gặp phải những thách thức không nhỏ: đó là nguy cơ tụt hậu xa hơn về
kinh tế so với nhiều nước trong khu vực do xuất phát của Việt Nam quá thấp, lại
phải phát triển trong môi trường cạnh tranh quyết liệt. Sự khác biêt về trình độ công
nghệ của Việt Nam so với các nước phát triển là rất lớn, nhìn chung công nghệ nước
ta tục hậu so với trình độ chung của thế giới khoảng 3, 4 thập kỷ.
Quá trình CNH - HĐH dẫn đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao
động giữa các ngành, đặc biệt là sự chuyển lao động từ nông nghiệp sang các lĩnh
vực công nghiệp và dịch vụ. Mục tiêu trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
đến năm 2010 là đẩy mạnh nhanh quá trình đổi mới kỹ thuật công nghệ trong sản
xuất, mở rộng các khu công nghiệp, khu chế suất đưa Việt Nam trở thành một nước
có trình độ KTCN ở trung bình tiên tiến so với các nước trong khu vực. Chuyển dịch
cơ cấu kinh tế theo hướng tăng trưởng công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng của
nông nghiệp trong GDP, đồng thời điều chỉnh cơ cấu lao động đến năm 2010 chỉ
còn khoảng 50% lao động trong lĩnh vực nông nghiệp.
Hội nhập nền kinh tế thế giới đang là một xu thế tất yếu của thời đại. Vì vậy
bên cạnh sử dụng năng lực nội sinh, các nước đang phát triển như Việt Nam, không
có con đường nào khác phải biết vận dụng những thành tựu của khoa học công nghệ
và phải bắt kịp tri thức mới để phát triển nhanh nền kinh tế. Vì vậy vấn đề đặt ra cho
Việt Nam hiện nay là phát triển nguồn nhân lực có tri thức, trình độ, tay nghề cho
sjư phát triển nền kinh tế
Quá trình phát triển nền kinh tế nước ta đầu thế kỷ XXI trong điều kiện của
kinh tế tri thức theo tinh thần Đại hội Đảng IX là “Công nghiệp hóa gắn với hiện đại

hiểu theo nghĩa là toàn bộ những sự phản ánh tinh thần của con người về thế giới
khách quan. Phản ánh là năng lực, khả năng của một hệ thống vật chất ghi nhận và
tái hiện những đặc điểm, những tính chất của một hệ thống khác. Phản ánh là nhiệm
vụ phổ biến của một tổ chức.
Xét về cấu trúc ý thức bao gồm những yếu tố; tri thức, sự hiểu biết, tâm lý,
tình cảm, ý chí con người, lý tưởng, ước mơ con người. Trong đó nhân tố tri thức là
trung tâm bao hàm biểu hiện nhất định. Tri thức là nhân tố quan trọng nhất của ý
thức, bất cứ một hình thức phản ánh của ý thức chỉ là tồn tại một khi trong nó có tri
thức.
b. Bản chất của ý thức.
Theo Mac nói: “ý thức chẳng qua là cái vật chất được di chuyển vào bộ óc
con người và cải biến đi ở trong đó”. Còn theo Lênin: “ý thức là hình ảnh chủ
quan”.
Để hiểu bản chất của ý thức, trước hết, chúng ta thừa nhận cả vật chất và ý
thức đều là “hiện thực” nghĩa là đều tồn tại. Nhưng giữa chúng có sự khác nhau
3
mang tính đối lập. ý thức là sự phản ánh, là cái phản ánh; còn vật chất là cái được
phản ánh. Cái được phản ánh - tức là vật chất - tồn tại khách quan, ở ngoài và độc
lập với cái phản ánh tức là ý thức. Cái phản ánh - tức là ý thức - là hiện thực chủ
quan, là hình ảnh chủ quan hay hình ảnh tinh thần của sự vật khách quan, lấy cái
khách quan làm tiền đề, bị cái khách quan quy định, không có tính vật chất. Vì vậy
không thể đồng nhất, hoặc tách rời cái được phản ánh - tức vật chất, với cái phản
ánh - tức ý thức. Nếu coi cái phản ánh - tức ý thức - là hiện tượng vật chất thì sẽ lẫn
lộn giữa cái được phản ánh và cái phản ánh - tức lẫn lộn giữa vật chất và ý thức, làm
mất ý nghĩa của đối lập giữa vật chất và ý thức, từ đó dẫn đến làm mất đi sự đối lập
giữ chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm.
Thứ hai, khi nói cái phản ánh - tức ý thức - là hình ảnh chủ quan của thế giới
khách quan, thì nó không phỉa là hình ảnh vật lý hay hình ảnh tâm lý động vật về sự
vật. ý thức là của con người, mà con người là một thực thể xã hội năng động sáng
tạo. ý thức ra đời trong quá trình con người hoạt động cải tạo thé giới, cho nên ý

ánh mà kết quả bao giờ cũng là những khách thể tinh thần. Sáng tạo và phản ánh là
hai mặt thuộc bản chất ý thức. ý thức là sjư phản ánh vào chính thực tiễn xã hội của
con người tạo ra sự phản ánh phức tạp, năng động, sáng tạo của bộ óc.
ý thức là một hiện tượng xã hội. Sự ra đời, tồn tại của ý thức gắn liền với hoạt
động thực tiễn lịch sử, chịu sự chi phối không chỉ các quy luật sinh học mà chủ yếu
là của quy luật xã hội, do nhu cầu giao tiếp xã hội và các điều kiện sinh hoạt hiện
thực của con người quy định. ý thức mang bản chất xã hội.
c. Nguồn gốc của ý thức
 Nguốc gốc tự nhiên
Chủ nghĩa duy tâm cho rằng ý thức có trước, vật chất có sau, ý thức sinh ra
vật chất, chi phối sự tồn tại và vận động của thế giới vật chất. Học thuyết triết học
duy tâm khách quan và triết học duy tâm chủ quan có quan niệm khác nhau nhất
định về ý thức, song về thực chất họ giống nhau ở chỗ tách ý thức ra khỏi vật chất,
lấy ý thức làm điểm xuất phát để suy ra giới tự nhiên.
Các nhà duy vật trước Mác đã đấu tranh phê phán lại quan điểm trên của chủ
nghĩa duy tâm, không thừa nhận tính chất siêu tự nhiên của ý thức, đã chỉ ra mối liên
hệ khăng khít giữa vật chất và ý thức, thừa nhận vật chất có trước ý thức, ý thức phụ
thuộc vào vật chất. Do khoa học chưa phát triển, do ảnh hưởng của quan điểm siêu
hình - máy móc nên họ đã không giải thích đúng nguồn gốc và bản chất của ý thức.
Dựa trên cơ sở những thành tựu của khoa học tự nhiên, nhất là sinh lý học
thần kinh, chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng, ý thức không phải có nguồn gốc
5
siêu tự nhiên, không phải ý thức sản sinh ra vật chất như các nhà thần học và duy
tâm khách quan đã khẳng định mà ý thức là một thuộc tính của vật chất, nhưng
không phải là của mọi dạng vật chất, mà chỉ là thuộc tính của một dạng vật chất có
tổ chức cao là bộ óc con người. Bộ óc người là cơ quan vật chất của ý thức. ý thức
là chức năng của bộ óc con người. ý thức phụ thuộc vào hoạt động bộ óc người, do
đó khi óc bị tổn thương thì hoạt động của ý thức sẽ không bình thường. Vì vậy,
không thể tách rời ý thức ra khỏi hoạt động của bộ óc. ý thức không thể diễn ra, tách
rời hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc người.

bước phát triển mới về chất trong sự tiến hóa của các hình thức phản ánh. Hình thức
phản ánh của các cơ thể sống đơn giản nhất là biểu hiện ở tính kích thích, tức là
phản ứng trả lời tác động của môi trường ở bên ngoài có ảnh hưởng trực tiếp đến
quá trình trao đổi chất của chúng. Hình thức phản ánh tiếp theo của các động vật
chưa có hệ thần kinh là tính cảm ứng, tính nhạy cảm đối với sự thay đổi của môi
trường. Hình thức phản ánh của các động vật có hệ thống thần kinh là các phản xạ.
Hình thức phản ánh ở động vật bậc cao khi có hệ thần kinh trung ương xuất hiện là
tâm lý. Như vậy, phản ánh sinh học trong các cơ thể sống đã có sự định hướng, sự
lựa chọn, nhờ đó các sinh vật thích nghi với môi trường để duy trì sự tồn tại của
mình. Phản ánh sinh học được thực hiện thông qua các hình thức kích thích ở thực
vật, các phản xã ở động vật có hệ thống thần kinh và tâm lý ở động vật cấp cao. Tâm
lý động vật chưa phải là ý thức, nó mới là sự phản ánh có tính chất bản năng do nhu
cầu trực tiếp của sinh lý cơ thể và do quy luật sinh học chi phối.
ý thức là hình thức cao nhất của sự phản ánh thế giới hiện thức. ý thức chỉ
nảy sinh ở giai đoạn phát triển cao của thế giới vật chất cùng với sự xuất hiện con
người. ý thức là ý thức con người, nằm trong con người, không thể tách rời con
người. ý thức bứt nguồn từ một thuộc tính của vật chất - thuộc tính phản ánh - phát
triển thành. ý thức ra đời là kết quả phát triển lâu dài của thuộc tính phản ánh của vật
chất. Nội dung của ý thức là thông tin về thế giới bên ngoài, về vật được phản ánh. ý
thức là sự phản ánh thế giới bên ngoài và đầu óc con người. Bộ óc người là cơ quan
phản ánh, song chỉ có riêng bộ óc thôi thì chưa thể có ý thức. Không có sự tác động
của thế giới bên ngoài lên các giác quan và qua đó đến bộ óc thì hoạt động ý thức
không thể xảy ra.
7
Như vậy, bộ óc người [cơ quan phản ánh về thế giới vật chất xung quanh]
cùng với thế giới bên ngoài tác động lên bộ óc - đó là nguồn gốc tự nhiên của ý
thức.
Những điều đã trình bày về nguồn gốc tự nhiên của ý thức cho thấy “sự đối
lập giữa vật chất và ý thức chỉ có nghĩa tuyệt đối trong những phạm vi hết sức hạn
chế: trong trường hợp này, chỉ giới hạn trong vấn đề nhận thức luận cơ bản là thừa

con người không có cách nào khác ngoài lao động đẻ óc thể phản ánh đúng đắn thế
giới khách quan. Như vậy, ý thức được hình thành chủ yếu do hoạt động cải tạo thế
giới khách quan của con người, làm biến đổi thế giới đó. ý thức với tư cách là hoạt
động phản ánh sáng tạo không thể có được ở bên ngoài quá trình con người lao động
làm biến đổi thế giới xung quanh. Vì thế có thể nói khái quát rằng lao động tạo ra ý
thức tư tưởng, hoặc nguồn gốc cơ bản của ý thức tư tưởng là sự phản ánh thế giới
khách quan và đầu óc con người trong quá trình lao động của con người.
Lao động không xuất hiện ở trạng thái đơn nhất, ngay từ đầu nó đã mang tính
tập thể xã hội. Vì vậy, nhu cầu trao đổi kinh nghiệm và nhu cầu trao đổi tư tưởng
cho nhau xuất hiện. Chính nhu cầu đó đòi hỏi phải xuất hiện ngôn ngữ.
Ngôn ngữ do nhu cầu của lao động và nhờ lao động mà hình thành. Ngôn ngữ
là hệ thống tín hiệu vật chất mang nội dung ý thức. Không có ngôn ngữ thì ý thức
không thể tồn tại và thể hiện được.
Ngôn ngữ cũng cổ xưa như ý thức. Ngôn ngữ vừa là phương tiện giao tiếp
trong xã hội, đồng thời là công cụ của tư duy nhằm khái quát hóa, trừu tượng hóa
hiện thực. Nhờ ngôn ngữ mà con người tổng kết được thực tiễn, trao đổi thông tin,
trao đổi tri thức từ thế hệ này sang thế hệ khác. ý thức không phải thuần túy là hiện
tượng cá nhân mà là một hiện tượng xã hội, do đó không có phương tiện trao đổi xã
hội về mặt ngôn ngữ thì ý thức không thể hình thành và phát triển được.
Vậy, nguồn gốc trực tiếp quan trọng nấht quyết định sự ra đời và phát triển
của ý thức là lao động, là thực tiễn xã hội. ý thức phản ánh hiện thức khách quan vào
bộ óc con người thông qua lao động, ngôn ngữ và các quan hệ xã hội. ý thức là sản
phẩm xã hội, là một hiện tượng xã hội.
2. Vai trò của tri thức khoa học công nghệ đối với việc phát triển kinh tế
ở Việt Nam hiện nay
a. Quan niệm về KH - CN
 Quan niệm về khoa học
Trong lịch sử phát triển tư duy của nhân loại có rất nhiều các quan niệm khác
nhau về khoa học, một mặt nó phụ thuộc vào trình độ phát triển của xã hội; mặt khác
phụ thuộc vào trình độ nhận thức. Xét về phương diện xã hội, khoa học là một hiện

chỉ là sức mạnh, là sự biến đổi mau lẹ, mà còn là biểu hiện sự giàu có, thịnh vượng
của mọi quốc gia, dân tộc và cá nhân.
10
- Hệ thống tri thức khoa học là sản phẩm của quá trình phát triển lâu dài, liên
tục của tư duy nhân loại từ thế hệ này sang thế hệ khác. Ngày nay nó đang trở thành
tài sản chung của xã hội loài người.
Như vậy, qua một số những đặc trưng cơ bản trên đây về quan niệm khoa
học, ta thấy nổi lên cái cốt lõi của khoa học - đó là hệ thống tri thức chân thực về tự
nhiên, xã hội và tư duy. Khoa học là hệ thống tri thức chân thực, nhưng có phải mọi
tri thức chân thực đều là khoa học hay không? Để hiểu rõ điều này, chúng ta phải đi
tìm hiểu nguồn gốc, bản chất của tri thức, con đường từ tri thức đến khoa học.
 Quan niệm về công nghệ
Công nghệ theo nghĩa chung nhất có thể coi đó là tập hợp tất cả những sự
hiểu biết của con người vào việc biến đổi, cải tạo thế giới nhằm đáp ứng nhu cầu
sống của con người, sự tồn tại và phát triển của xã hội. Công nghệ trong sản xuất là
một tập hợp các phowng tiện vật chất, các phương pháp, các quy tắc, các kỹ năng
được con người sử dụng để tác động vào đối tượng lao động nhằm tạo ra một sản
phẩm nào đó cần thiết cho xã hội.
Có ba nghĩa chủ yếu về công nghệ được sử dụng phổ biến nhất hiện nay:
Một là, công nghệ được coi như một bộ môn khoa học ứng dụng, triển khai
(trong tương quan với khoa học cơ bản), trong việc vận dụng các quy luật tự nhiên
và các nguyên lý khoa học nhằm đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần ngày
càng cao của con người.
Hai là, công nghệ được hiểu với tư cách như là các phương tiện vật chất - kỹ
thuật, hay đó là sự thể hiện cụ thể của tri thức khoa học đã được vật thể hóa thành
các công cụ, các phương tiện kỹ thuật cần cho sản xuất và đời sống.
Ba là, công nghệ bao gồm các cách thức, các phương pháp, các thủ thuật, các
kỹ năng có được nhờ dựa trên cơ sở tri thức khoa học và được sử dụng vào sản xuất
trong các ngành khác nhau để tạo ra các sản phẩm.
Ngày nay, trong thời địa của cuộc cách mạng khoa học công nghệ mới, hay

xuất xã hội. Nhờ đó, ngày nay, sản xuất xã hội đã gắn liền với những phát minh,
sáng chế trong khoa học và công nghệ; nó luôn được đổi mới và hiện đại hóa cùng
với sự phát triển của khoa học và công nghệ. Hiện đại hóa nền sản xuất xã hội là nền
tảng để thực hiện sự hiện đại hóa toàn bộ đời sống xã hội.
12
Hiện đại hóa nền sản xuất trước hết là hiện đại hóa trong lực lượng sản xuất
để đẩy nhanh sự phát triển của lực lượng sản xuất nhằm nâng cao năng suất lao
động, từ đó làm chuyển biến mạnh mẽ cơ cấu của nền kinh tế, tạo điều kiện thuận
lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội của một đất nước.
Khoa học và công nghệ là yếu tố cấu thành của lực lượng sản xuất. Tuy
nhiên, nếu như trong những giai đoạn phát triển trước đây, khoa học và công nghệ là
những yếu tố gián tiếp của lực lượng sản xuất, đứng ngoài quá trình sản xuất trực
tiếp theo nghĩa là từ khoa học, công nghệ đến sản xuất phải trải qua một thời gian
biến đổi lâu dài, tới hàng chục năm, thậm chí hàng trăm năm thì ngày nay, nhìn
chung, khoa học và công nghệ đã và đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp.
Trong một số nước công nghiệp phát triển, tri thức của những phát minh mới nhất ở
một số lĩnh vực khoa học như tin học, điều khiển học, sinh vật học v.v đã nhanh
chóng được đưa vào công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu
mới và từ đó, trực tiếp đi vào sản xuất và dịch vụ của xã hội. Bằng cách này, lực
lượng sản xuất xã hội không ngừng được bổ sung và đổi mới theo hướng gia tăng
tính hiện đại, tiên tiến.
Ngày nay xu hướng vận động chung của lực lượng sản xuất hiện đại là không
ngừng thay thế dần các trang thiết bị kỹ thuật, các quy trình, hệ thống công nghệ
chưa hoàn thiện (cho năng suấtt thấp, tiêu hoa nhiều nguyên, nhiên vật liệu, thải bỏ
nhiều các chấy gây ô nhiễm môi trường v.v ) bằng những thiết bị, những hệ thống
công nghệ cao, công nghệ làm sạch, mang nhiều hàm lượng tri thức. Điều này chỉ có
thể thực hiện được bằng con đường phát triển khoa học và công nghệ. Như vậy,
khoa học và công nghệ đã thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất theo hướng
hiện đại, và đó là tiền đề, là cơ sở của hiện đại hóa nền sản xuất xã hội, vì lực lượng
sản xuất là yếu tố quyết định trong một phương thức sản xuất.

nước ta cũng có mục đích và nhiệm vụ trước tiên là phải phát triển sản xuất. Tuy
nhiên, từ một nước nông nghiệp còn nghèo nàn, lạc hậu, để có thể đi vào nền sản
xuất hiện đại, chúng ta cần phải tiến hành một quá trình chuyển đổi căn bản và toàn
diện tất cả các hoạt động xã hội, trước tiên là hoạt động sản xuất - từ chủ yếu là lao
động thủ công, sang chủ yếu là lao động có kỹ thuật - nhằm nâng cao năng suất lao
động xã hội. Điều này đã được khẳng định tại Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành
Trung ương khóa VII, khi Đảng ta chủ trương gắn quá trình công nghiệp hóa với
hiện đại hóa “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, tàon
14
diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội từ sử
dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng
với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển
của công nghiệp và tiến bộ khoa học - công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội
cao”
(1)
.
Vai trò nền tảng, động lực và then chốt của khoa học và công nghệ đối với
quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nói riêng, đối với sự phát triển xã hội Việt
Nam nói chung, được biểu hiện trên những mặt cụ thể sau đây:
Một là, khoa học và công nghệ có vai trò quyết định trong việc trang bị và
trang bị lại các máy móc, trang thiết bị kỹ thuật, công nghệ hiện đại, tiên tiến cho
nền sản xuất xã hội nói riêng, cho tất cả các ngành kinh tế quốc dân nói chung, nhằm
nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, tăng cường sức cạnh tranh của
các sản phẩm hàng hóa Việt Nam trên thị trường thế giới, v.v với mục tiêu không
ngừng cải thiện và nâng cao mức sóng của người dân, sự phồn vinh và sức mạnh của
xã hội Việt Nam. Đó là nhiệm vụ đầu tiên, quan trọng nhất của sự nghiệp đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay. Trên thực tế, nước ta đã tiến hành
công nghiệp hóa từ đầu những năm 60 của thế kỷ XX. Tuy nhiên, do nhiều nguyên
nhân chủ quan và khách quan, đặc biệt là chưa gắn kết được công nghiệp hóa với
hiện đại hóa, mà cho đến nay, lực lượng sản xuất của nước ta chủ yếu vẫn ở trong

giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng, khai thác và phát huy nguồn lực con người, đặc biệt là
nguồn lực trí tuệ - một nguồn lực to lớn, có tính chất quyết định đối với sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta. Có nhiều cách thức để chúng ta thực hiện
việc trang bị và trang bị lại công nghệ hiện đại, tiên tiến cho các ngành kinh tế quốc
dân. Tuy nhiên, dù bằng cách thức nào đi chăng nữa, điều quan trọng và có tính chất
quyết định nhất ở đây là cần phải có những con người có đủ tri thức và năng lực để
có thể khai thác, sử dụng một cách hiệu quả các trang thiết bị hiện đại. Điều này chỉ
có khoa học và công nghệ tiên tiến mới làm được.
Con người là chủ thể sáng tạo ra khoa học và công nghệ. Đến lượt mình,
khoa học và công nghệ trở thành phương tiện, công cụ và đồng thời là cơ sở để con
người vươn lên tự toàn thiện về mọi mặt, đặc biệt là về năng lực trí tuệ. Trước hết,
thông qua quá trình giáo dục, đào tạo, khoa học và công nghệ sẽ trang bị cho con
người những tri thức khoa học và công nghệ cần thiết để một mặt, giúp họ có thể am
(1)
Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX. Nxb Chính trị
Quốc gia, Hà nội, 2001, tr.91
16
hiểu, sử dụng và khai thác một cách tích cực, có hiệu quả những trang thiết bị kỹ
thuật hiện đại, và mặt khác, có thể sáng tạo ra công nghệ mới.
Trong điều kiện nước ta hiện nay, tuy đã qua hơn 40 năm công nghiệp hóa,
nhưng nhìn chung, nền sản xuất, đặc biệt là lực lượng sản xuất vẫn còn rất lạc hậu.
Với gần 80% dân số là nông dân, 70% lao động là lao động nông nghiệp, với cơ cấu
nền kinh tế quốc dân đang hiện hành “nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ”, với một
truyền thống xã hội ít “trọng nông”, “trọng thương”, v.v. đã và đang là những rào
cản rất lớn đối với con người Việt Nam trong việc tiếp cận với khoa học và công
nghệ tiên tiến của thời đại. Hơn nữa, tư duy kinh nghiệm - một lối tư duy truyền
thống phổ biến - đã ăn sâu vào xã hội Việt Nam từ bao đời nay. Không ai phủ nhận
vai trò của tư duy kinh nghiệm trong đời sống. Tuy nhiên, trên bình diện phát triển
khoa học và công nghệ hiện nay thì tư duy kinh nghiệm là không thể đủ, mà nhất
thiết phải trang bị tư duy lý luận, tư duy khoa học - công nghệ. Ph. Ăngghen đã từng

kinh doanh dịch vụ và cả những hoạt động tinh thầnh. Có trang thiết bị, máy móc
hiện đại, có những con người đã được đào tạo tay nghề và có kỹ năng, kỹ xảo cao,
nhưng nếu thiếu thông tin thì sẽ dẫn đến chỗ không biết đâu tư chúng vào đâu cho
đúng để kịp thời sinh lợi nhanh, và vì vậy, rất dễ sa vào chỗ mất phương hướng phát
triển. Bởi vì, thông tin trong lĩnh vực khoa học và công nghệ có liên quan rất chặt
chẽ đến việc nắm bắt các bí quyết, bí mật công nghệ nằm trong các phương pháp,
thiết bị, các dữ liệu khoa học và công nghệ mới nhất. Thông tin như một người
hướng dẫn nắm trong tay chiếc chìa khóa vàng kỳ diệu, giúp cho người ta có thể mở
ra những cánh cửa làm ăn đúng lúc và đúng cách, tìm kiếm những cơ hội, những
lĩnh vứ làm ăn còn tiềm năng và triển vọng, đồng thời biết khép cửa lại, rút lui đúng
lúc khi tiềm năng trong lĩnh vực đó đã cạn kiệt v.v
Công nghệ thông tin đã chính thức đi vào nước ta khoảng hơn chục năm nay
và hệ thống thông tin khoa học - công nghệ quốc gia trải qua hơn 30 năm hoạt động
đã có những đóng góp đáng kể vào sự phát triển khoa học và công nghệ nói riêng,
vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nói chung. Tuy nhiên, đối với nước ta,
đây là một lĩnh vực hoàn toàn mới mẻ, còn rất nhiều vấn đề phức tạp, nan giải và bất
cập. Đặc điểm nổi bật của sự phát triển công nghệ thông tin trong thời gian qua ở
nước ta là chưa gắn kết được các giải pháp công nghệ (việc trang bị các máy móc kỹ
thuật công nghệ thông tin) với các giải pháp về tổ chức quản lý, chuẩn hóa thông tin
và với công tác đào tạo, huấn luyện chuyên viên kỹ thuật, những người sử dụng,
quản lý thông tin. Vì vậy mà trong nhiều trường hợp, hệ thống công nghệ thông tin
hiện đại đã được thiết lập đầy đủ, nhưng không vận hành được do thiếu thông tin,
thiếu nhân viên kỹ thuật. Cho đến năm 2000, nguồn nhân lực thông tin khoa học -
công nghệ nước ta vẫn còn quá mỏng và yếu kém, chưa đủ sức đáp ứng so với nhu
cầu thực tế. Số người làm công tác thông tin khoa học - công nghệ chuyên nghiệp
18
mới chỉ có 3000 người, trong đó, số người có trình độ đại học chiếm 66,3%, trên đại
học chiếm 6,45%
(3)
.

Có thể có nhiều cách hiểu khác nhau về phát triển lâu bền, nhưng cách hiểu
chung nhất là, làm sao cho sự phát triển, trước hết là sự phát triển về kinh tế, của các
thế hệ hôm nay không cản trợ cơ hội phát triển ủca các thế hệ mai sau. Phát triển lâu
bền là “sự cải thiện chất lượng cuộc sống của con người đi đôi với nhiệm vụ bảo vệ
các hệ sinh thái”
(1)
, nghĩa là phải hớng đến ba mục tiêu cơ bản: 1. Mục tiêu tăng
trưởng kinh tế nhanh và an toàn; 2. Mục tiêu xã hội - nhân văn; 3. Mục tiêu bảo vệ
và không ngừng cải thiện chất lượng môi trường sống, hay mục tiêu sinh thái. Do
vậy, để có thể phát triển xã hội một cách lâu bền, phải kết hợp một cách hài hòa, đầy
đủ 4 yếu tố cơ bản: yếu tố kinh tế, yếu tố con người (dân số), yếu tố môi trường, ính
thái và yếu tố công nghệ.
Nhiệm vụ trọng tâm của khoa học và công nghệ là cung cấp những trang thiết
bị kỹ thuật hiện đại thông qua các công nghệ cao, công nghệ sách để con người khắc
phục được những hậu quả tiêu cjư cdo chính những phương tiện kỹ thuật chưa hoàn
thiện trước đây gây ra (xử lý các chất thải độc hại, phục hồi các hệ sinh thái tự
nhiên ); xây dựng những quy trình công nghệ mới không có chất thải, những khu
sản xuất liên hợp mà những chất thải cuối cùng của chúng có thể được các sinh vật
khác sử dụng để đưa vào chu trình sản học, v.v.
Là động lực và là cơ sở của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nói riêng,
của sự phát triển xã hội nói chung, khoa học và công nghệ đang đóng gó phần quyết
định trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển lâu bền, đặc biệt là mục tiêu xã hội
- nhân văn.
(1)
Xem: Những nhân tố của sự phát triển bền vững. Thông tin chiến lược phát triển khoa
học, kỹ thuật, kinh tế, số 8, 1996
20
III. Kết luận
Việt Nam xuất phát điểm là một nước nghèo và kém phát triển, việc xây dựng
và phát triển tri thức KHCN là phù hợp với bối cảnh nước ta đang thực hiện mục

nghiệp hóa, hiện đại hóa. Do vậy đưa khoa học và công nghệ, trước hết là phổ cập
những tri thức khoa học và công nghệ cần thiết và sản xuất và đời sống xã hội là một
nhu cầu cấp thiết của xã hội ta hiện nay. Bởi lẽ, cho dù chúng ta có tiến hành cuộc
cách mạng khoa học và công nghệ, có đưa các trang thiết bị kỹ thuật tiên tiến nhất,
những quy trình công nghệ hiện đại nhất vào nước ta thì ucngx không có gì để có thể
bảo đảm đẩy mạnh được công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nếu như trong thực tế chúng
ta chưa có được đầy đủ những con người am hiểu và sử dụng chúng.
Hiện nay, xã hội hóa tri thức khoa học và công nghệ cần phải tập trung giải
quyết một số vấn đề trọng điểm sau: 1. Tạo mặt bằng dân trí cần thiết để có thể tiến
hành xã hội hóa tri thức khoa học và công nghệ; 2. Cần biết chọn lựa và ưu tiên xã
hội hóa những tri thức khoa học và công nghệ thuộc những ngành nghề, những lĩnh
vực đang giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân; 3. Xã hội hóa tri thức khoa
học và công nghệ trong đó có sự kết hợp giữa công nghệ tiên tiến ngoại nhập với
công nghệ truyền thống, trên cơ sở phát huy tối đa năng lực nội sinh về kho ahọc và
công nghệ của đất nước; 4. Tạo lập và mở rộng địa bàn và thị trường để xã hội hóa
nhanh và rộng rãi tri thức khoa học và công nghệ.
 Tạo lập môi trường hợp tác quốc tế thuận lợi cho sjư phát triển khoa học
và công nghệ
Là một nước nông nghiệp còn lạc hậu, khoa học và công nghệ còn ở trình độ
thấp, nguồn vốn tài chính ít iỏi, các nguồn lực khác, đặc biệt là nguồn lực con người,
tuy ta có tương đối dồi dào, nhưng phần lớn còn ở dạng tiềm năng, để có thể tiếp
thu, nghiên cứu và phát triển khoa học công nghệ cho sự nghiệp CNH, HĐH đất
nước chúng ta rất cần các nguồn lực bên ngoài. Các nguồn lực bên ngoài sẽ góp
phần giúp chúng ta khai thác nguồn tiềm năng nội lực thành hiện thực. Vì vậy, sự
hợp tác quốc tế là một yếu tố không thể thiếu được trong việc tạo dựng môi trường
thuận lợi cho sự phát triển của khoa học và công nghệ.
Cần tạo môi trường thuận lợi để tăng khả năng thu hút vốn đầu tư của nước
ngoài: FDI, ODA
22
Thu hút nguồn vốn của nước ngoài để phát triển công nghệ là con đường


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status