TÌM HIỂU KHẢ NĂNG PHÁT ÂM ĐÚNG CỦA TRẺ MẪU GIÁO LỚN TRƯỜNG MẦM NON DỊ NẬU - TAM NÔNG- PHÚ THỌ - Pdf 26

Trờng đại học s phạm hà nội
Khoa giáo dục mầm non
Bài tập nghiệp vụ cuối khoá
Tìm hiểu khả năng phát âm đúng của
trẻ mâũ giáo lớn
Trờng mầm non dị nậu - tam nông- phú thọ
Ngời hớng dẫn : T.s Đinh Hồng Thái
Ngời thực hiện : Hán Thị Sinh
Lớp ĐHTC Việt trì - Khoa GDMN

Lời cảm ơn
Để hoàn thành bài tập nghiệp vụ cuối khoá này tôi đã đợc sự giúp đỡ tận
tình của thầy giáo Đinh Hồng Thái cùng toàn thể các thầy cô giáo trong khoa
Giáo dục mầm non, Trờng Đại học s phạm I Hà Nôị; Sự giúp đỡ của các cô giáo
ở các lớp mẫu giáo lơn, đặc biệt là Ban giám hiệu trờng mẫu giáo Dị Nậu
Tôi xin trân trọng cảm ơn tới tất cả các thầy cô giáo khoa giáo dục mầm
non, Trờng Đại học s phạm I Hà Nội. Đặc biệt xin cảm ơn thầy Đinh Hồng Thái
- Ngời đã trực tiếp hớng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành bài tập nghiệp vụ cuối khoá
này.
Kính chúc các thầy, cô giáo luôn mạnh khoẻ, công tác tốt; Chúc khoa Giáo
dục mầm non đạt nhiều thành tích hơn nữa trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo.
Hán Thị Sinh
Sinh viên lớp đại học mẫu giáo
Phần I : Mở đầu

I. Lý do chọn đề tài
Từ ngàn đời xa cha ông ta đã dạy :
Uốn cây từ thuở còn non
Dạy con từ thuở con còn thơ ngây.
Thấm nhuần lời dạy đó của ông cha, ngày nay thế hệ trẻ Việt Nam nói chung và
thế hệ mầm non nói riêng đang nhận đợc sự quan tâm chăm sóc của toàn xã hội

3. Một số biện pháp tác động
4. Kết luận s phạm.
IV. Phơng pháp nghiên cứu
1. Đọc tài liệu
2. Quan sát ghi chép
3. Thực nghiệm s phạm
4. Xử lý số liệu
V. Đối tợng và khách thể nghiên cứu
1. Đối tợng nghiên cứu : Khả năng phát âm của trẻ mẫu giáo và biện pháp
rèn phát âm cho trẻ.
2. Khách thể : 30 cháu ở độ tuổi mẫu giáo lớn của trờng mầm non
Dị Nậu - Tam Nông - Phú Thọ
Phần II
Nội dung nghiên cứu
Chơng I
I. Cơ sở lý luận ngữ âm
1. Đặc điểm của âm tiết tiếng Việt :
Là tính phân tiết cao, mỗi âm tiết nó đứng cách nhau. Mỗi âm tiết bao giờ
cũng gắn liền với thanh điệu cũng làm thay đổi ý nghĩa của âm tiết.
Vì vậy : Lời nói của con ngời bao giờ cũng là lời nói thành tiếng. Khi nói
chúng ta phải phát âm ra thành từ, thành câu, thành văn bản để truyền đạt nội
dung thông báo. Khi nghe chúng ta tiếp nhận các âm thanh ngời nói phát ra, từ
đó hiểu đợc nội dung của lời nói. Trong âm thanh của lời nói do một cá nhân
phát ra, ngoài những đặc điểm cụ thể còn có một cái chung nhất mang chức năng
xã hôị. Những âm thanh cụ thể của lời nói, của mỗi cá nhân là những thực thể
mang chức năng xã hội.
2. Hệ thống ngữ âm của âm tiết tiếng Việt
Có 5 thành phần : Sắp xếp theo sơ đồ sau :
Âm đầu
1

Bậc 1 : Thanh điệu Âm đầu phần vần
Bậc 2 : Âm đệm Âm chính Âm cuối
* Thanh điệu là sự thay đổi độ cao những âm tiết : la, lá, lã đối lập với là,
lả, lạ. Các âm tiết trớc đều đợc phát âm với cao độ cao, các âm tiết sau phát âm
với cao độ thấp.
* Thanh điệu là sự thay đổi về âm điệu, trong những âm tiết trên thì những
âm tiết cùng thuộc độ cao lại đối lập nhau về sự biến thiên của độ cao, trong thời
gian âm tiết la đợc phát âm với cao độ hoàn toàn bằng phẳng; còn lã với đ-
ờng nét biến thiên, cao độ không bằng phẳng, âm điệu là những đờng nét biến
thiên về cao độ.
* Nguyên âm trong Tiếng Việt đợc coi là âm chính, nguyên âm là khi nói
âm vị phát ra luồng hơi đi tự do không có gì cản trở.
VD : Khi phát âm a, á â hơi thoát ra tự do không bị cản ở chỗ nào cho nên
 cũng là nguyên âm. Xét về mặt cấu tạo ngời ta phân chia phân biệt nguyên
âm đơn và nguyên âm đôi.
+ Nguyên âm đôi là âm vị gồm 2 nguyên âm ghép lại liền nhau. Khi phát
âm thì đọc nhanh, đọc lớt từ âm này sang âm kia đầu mạnh sau yếu hơn, do đó
âm sắc chủ yếu của các nguyên âm đôi là do âm đầu quyết định. Có 3 nguyên
âm đôi đó là : uô, ơ, ie. Xét về độ dài, cần phân biệt nguyên âm ngắn và nguyên
âm dài, nguyên âm ngắn khi phát ra không thể kéo dài, nếu kéo dài có thể ảnh
hởng đến nghĩa.
+ Phụ âm : Các âm vị đảm nhiệm thành phần âm đầu của âm tiết Tiếng Việt
bao giờ cũng là các phụ âm. Phụ âm là âm vị khi phát âm luồng hơi đi ra bị cản ở
chỗ nào đó trong bộ máy phát âm, phụ âm có loại bị cản ở môi; có loại bị cản ở
răng, có loại bị cản ở lỡi; có loại bị cản ở thanh hầu. Về phơng thức phát âm ngời
ta chia phụ âm thành :
- Phụ âm tắc : Hơi bị cản lại sau thoát ra đờng miệng vào mũi : b, d, t, s c,
k, m,r, p, ng.
- Phụ âm sát : Hơi đi qua kẽ hở miệng : p, v, s, z, l, x, y, h
- Phụ âm vang : Hơi thoát ra đầu lỡi và bên lỡi : m, n, nh.

cấu tạo phức tạp. Việc thể hiện thanh ngã với âm điệu gãy, ở giữa là cách phát
âm khó đối với trẻ. Trẻ thay thế bằng cách phát âm đơn giản hơn tức là với âm
điệu không gãy ở giữa. Vì vậy dễ đồng nhất với âm điệu của thanh sắc.
VD : Phát âm ngã thành ngá hoặc giã thành giá.
- Sự chuyển đổi hớng đi của đờng nét âm điệu thanh hỏi không diễn ra đột
ngột nh thanh ngã, quá trình phát âm kéo dài trở thành khó đối với trẻ nhỏ có hơi
thở ngắn.
- Khi phát âm, trẻ thay thế âm điệu gãy bằng âm điệu không gãy, điều này
làm cho thanh hỏi ở trẻ gần nh đồng nhất với thanh nặng.
- Phát âm hỏi thành họi hoặc phát âm hổ thành hộ. Đến hết tuổi mẫu
giáo lỗi sai về hai thanh này sẽ đợc khắc phục hầu nh hoàn toàn.
2. Lỗi về âm chính :
Lỗi về âm chính tập trung vào việc trẻ phát âm nguyên âm đôi này thành
nguyên âm đôi kia.
Ví dụ : Trẻ phát âm con hơu thành con hiêu, con Ngỗng thành Con
Ngống
Trẻ phát âm sai là do tập quán của địa phơng hoặc do nghe cha chính xác,
các âm tiết có âm chính là nguyên âm đôi làm cho cấu tạo của âm tiết phức tạp
hơn, phát âm khó khăn hơn.
3. Lỗi phụ âm đầu :
Trẻ thờng hay nói lẫn lộn : l , n
Ví dụ : Con lợn thành con Nợn; Cái nồi thành cái lồi.
- Lỗi lẫn tr thành ch ; s - x; r - d
Gà trống phát âm thành gà chống.
Hoa sen thành Hoa xen
Con rùa thành Con dùa.
- Lỗi lẫn r thành d; gi thành d : cái rổ thành cái dổ; cô giáo thành cô dáo.
Một số trẻ khi phát âm phụ âm P trẻ lẫn sang phụ âm b
VD : Đèn pin thành đèn bin
4. Lỗi về âm đệm :

Trò chơi : Con gì kêu đấy : Cô giáo treo trên bảng tranh vẽ những con vật,
đồ vật và cho cháu đoán hoặc bày lên bàn những đồ chơi là con vật hay đồ vật có
tiếng kêu mà các cháu sẽ đố nhau, cô bảo các cháu nhìn lên tranh và lên đồ chơi
rồi gọi tên chúng sau đó cô bắt chớc tiếng kêu của từng con vật hoặc đồ chơi và
yêu cầu trẻ nói đúng tên con vật và đồ vật đó.
VD : Cô nói tu tu, xình xịch các cháu phải nói tàu hoả; cô nói vịt vịt thì trẻ
nói vịt con; chiếp chiếp thì nói gà con, cô nói ò ó o thì nói gà trống gáy Hoặc
cô có thể cho một cháu ra ngoài lớp, sau đó cô và cháu ở trong lớp chọn một con
vật cất đi, cho cháu đó vào thì cô và cháu ở trong lớp bắt chớc tiếng kêu của con
vật đó hoặc tiếng động cơ của đồ chơi, sau đó cô bảo cháu đó nói tên con vật tên
đồ chơi.
Trong mẫu giáo lớn để hoàn chỉnh cách phát âm thờng sử dụng bài tập, đặc
biệt học thuộc lòng các bài thơ, những câu nói nhanh là một hay nhiều câu khó
phát âm mà trong đó một âm có thể đợc nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Đầu tiên cô
đọc mẫu, cô chọn những câu nói nhanh cần thiết trong một thời hạn dài, nếu
trong một tháng trẻ học thuộc 1 trong 2 câu thì trong 1 năm cần chọn 10 -15 câu
có mức độ phức tạp khác nhau. Cho trẻ làm quen với những câu dễ trớc, câu khó
sau. Trẻ sử dụng câu nói nhanh trong giờ học, trong khi chơi và các giờ hoạt
động ngoài trời.
Những câu có thể dùng cho các cháu nói nhanh nh :
Hoa sen, hoa súng
Hoa súng, hoa sen
Buổi sáng mặt trời mọc
Mặt trời mọc buổi sáng
Nồi đồng nấu ốc
Nồi đất nấu ếch
Mục đích của việc sử dụng những câu nói nhanh là tập luyện bộ máy phát
âm. Trớc khi cho trẻ tập nói cô giáo phải nói mẫu, cô đọc chậm rõ ràng sau đó
nói nhanh dần rồi cho trẻ tự nói thầm một mình để nhắc lại câu nói nhanh, lúc
đầu cô gọi các cháu có trí nhớ tốt và có cách phát âm đúng. Đầu tiên cho trẻ nói

Nhìn chung trẻ mẫu giáo lớn tiếp thu nhậy bén cách phát âm của những ng-
ời xung quanh, trẻ chuyển giọng rất nhanh. Khi chuyển chỗ ở từ địa phơng này
sang địa phơng khác, tác dụng của môi trờng xung quanh rất quan trọng. Vì vậy
phải tạo một môi trờng với cách phát âm đúng quy cách. Trong các gia đình, cha
mẹ và những ngời lớn tuổi chú ý đến cách phát âm của mình; ở trờng mẫu giáo
cô phải phát âm đúng làm mẫu cho các cháu học nói, ngôn ngữ của cô giáo trong
việc giáo dục trẻ có thể gọi là ngôn ngữ hoàn chỉnh, khi nói chuyện với nhau ng-
ời ta ít chú ý đến sự chính xác của các âm và thờng có lỗi về phát âm đó là ngôn
ngữ cha hoàn chỉnh. Còn trong trờng mẫu giáo cô phải sử dụng ngôn ngữ hoàn
chỉnh, ngôn ngữ hoàn chỉnh có đặc điểm khi nói các âm nghe rõ ràng chính xác
và âm điệu chậm rãi. Trong đời sống hàng ngày thỉnh thoảng cô có thể sử dụng
ngôn ngữ cha hoàn chỉnh. Cô mẫu giáo nên tổ chức cho các cháu nghe đài phát
thanh , xem vô tuyến, nghe băng, nghe đĩa. Cô hớng trẻ chú ý nghe các phát
thanh viên phát âm rõ ràng, chính xác. Cô giáo cần bỏ thời gian công sức học tập
để đạt tới ngôn ngữ văn học.
Chơng II
Khảo sát thực trạng khả năng phát âm của trẻ mẫu giáo lớn
I. Cơ sở tiến hành khảo sát
Khảo sát thực trạng khả năng phát âm của 30 cháu ở trờng Mầm non Dị
Nậu - Tam Nông - Phú Thọ. Trờng thuộc một xã vùng nông thôn miền núi. Các
cháu chủ yếu là con em nông thôn. Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho việc
dạy và học còn thiếu thốn. Các lớp học xây dựng không đúng tiêu chuẩn. Hiện
nay nhà trờng có 3 lớp 5 tuổi đang tiến hành chơng trình thực nghiệm về Đổi
mới hình thức tổ chức giáo dục trẻ trong trơng mầm non cho nên các cháu có
rất nhiều thuận lợi trong học tập.
- Trình độ chuyên môn của đội ngũ giáo viên không đồng đều. Tổng số giáo
viên của trờng là 6 ngời.
1 Hiệu trởng : Cao đẳng
1 hiệu phó : Trung cấp (trực tiếp giảng dạy)
4 giáo viên trực tiếp giảng dạy.

lứa tuổi mẫu giáo lớn
Qua khảo sát thực trạng cho thấy kết quả phát âm của trẻ mẫu giáo lớn ở 3
lớn 5 tuổi ở trờng mầm non Dị Nậu - Tam Nông - Phú Thọ thu đợc kết quả nh
sau :
1. Lớp 5 tuổi A
Loại trung bình : 7 cháu = 70%
Loại yếu : 3 cháu = 30%
2. Lớp 5 tuổi B
Loại khá : 02 cháu : 20 %
Loại trung bình : 5 cháu = 50%
Loại yếu : 03 cháu = 30%
3. Lớp 5 tuổi C
Loại tốt : Không
Loại khá : 01 cháu : 10 %
Loại trung bình : 4 cháu = 40%
Loại yếu : 05 cháu = 50%
Phân tích kết quả cho thấy khả năng phát âm của trẻ cũng tăng dần theo tháng
tuôỉ của cháu. Cháu nào sinh vào những tháng cuối năm thì khả năng phát âm
hơi yếu hơn các cháu sinh vào những tháng đầu năm.
Sau đây là một số cháu mắc lỗi nhiều với lý do cụ thể nh sau :
- Cháu Nguyễn Quang Minh sinh ngày 6/10/1998 bị mắc 09 lỗi, gia đình
cháu ở trang trại trong rừng, cả hai bố mẹ đều làm nghề buôn bán không có thời
gian quan tâm đến con caí dẫn đến khả năng phát âm của cháu kém.
cháu bị suy dinh dỡng hay ốm hay nghỉ học nên cháu còn mắc nhiều lỗi phát âm.
- Cháu Trần Minh Thắng lớp 5 tuổi C sinh ngày 15/12/1998 có bố mẹ đều
làm ruộng nên không có thời gian quan tâm để ý đến cháu. Gia đình cháu sống ở
xã Dị Nậu là nơi dân thờng phát âm sai lẫn lộn giữa n - l ; s - x; r - d nên cháu
cũng bị ảnh hởng, cháu mắc 10 lỗi trong đó có cả lỗi về thanh điệu.
- Cháu Hán Thị Hà lớp 5 tuổi C sinh ngày 12/10/1998 sức khoẻ của cháu
yếu, bị suy dinh dỡng độ 2, cháu ít giao tiếp với bạn bè và mọi ngời xung quanh

cách phát âm đúng.
Việc sửa lỗi phát âm cho trẻ phải đợc tiến hành thờng xuyên, dùng các trò
chơi gọi tên và bắt chớc tiếng kêu của con vật, đồ vật, động cơ để gây đợc
hứng thú cho trẻ thì sẽ đem lại kết quả tốt hơn.
2. Dạy trẻ đọc thuộc các bài thơ, ca dao, đồng dao thông qua đó để luyện
phát âm.
Việc rèn phát âm cho trẻ bằng cách dạy trẻ học thuộc các bài ca dao, đồng
dao chính là để rèn bộ máy phát âm của trẻ. Muốn rèn phát âm cho trẻ thì trớc
hết cô phải là ngời phát âm đúng, chính xác. Lúc đầu cô cho trẻ đọc các bài thơ
ngắn, đơn giản rồi sau đó cô nâng dần lên với những bài thơ dài hơn và khó hơn
để làm tăng khả năng phát âm của trẻ. Cô chú ý vào những từ trẻ hay mắc lỗi,
cho trẻ đọc nhiều lần và kiên trì sửa sai cho trẻ.
Vd : Để luyện lỗi phát âm lẫn lộn giữa l và n ta có thể dùng bài đồng
dao sau :
Nu na nu nống
Con cống nằm trong
Con ong nằm ngoài
Củ khoai chấm mật
Tập tầm vông
Tay nào không
Tay nào có
Tập tầm vó
Tay nào có
Tay nào không
Khi chữa lỗi phát âm cho trẻ không nên nhắc nhiều đến lỗi, cần hớng sự
chú ý của trẻ tập trung vào phát âm cho đúng. Khi dạy trẻ đọc thuộc các bài thơ
cô rèn cho trẻ cách phát âm đúng chữ n trong bài nu na nu nống. Khi đọc
các cháu phải đặt đầu lỡi chạm vào răng hàm trên và miệng mở khi phát âm
n . Cô phát âm mẫu rồi cho cả lớp phát âm lại. Cô tập cho trẻ phát âm nhiều
lần các từ đó rồi cho các cháu học thuộc thì các từ khó, dễ nhầm các cháu sẽ dần

cho trẻ đọc thuộc bài thơ.
Với những cháu phát âm phần vần oanh, anh đọc thành oăn, ăn, cô sử
dụng những bài thơ có vần anh, oanh rèn phát âm cho trẻ nh :
Bắp cải xanh
Xanh man mát
Lá bắp cải
Sắp vòng tròn
Bắp cải non
Nằm ngủ giữa
Với những bài thơ để luyện phát âm phần vần cho trẻ cô cũng sử dụng biện pháp
đọc nhấn mạnh phần vần và đọc nhiều lần cho trẻ nghe. Đồng thời cô khuyến
khích động viên trẻ đọc giống cô để sửa sai.
Với các cháu phát âm sai phụ âmr và d thì cô sử dụng những bài thơ
sau :
Rì rà rì rà
Đội nhà đi chơi
Tối lặn mặt trời
úp nhà đi ngủ
Rềnh rềnh ràng ràng
Ba gang chiếu trải
Xích lại cho gần
Một ngời hai chân
Hai ngời bốn chân
Ba ngời sáu chân
Bốn ngời tám chân
Chân gày chân béo
Dệt vải cho bà
Vải hoa vải trắng
Đến khi trời nắng
Đem vải ra phơi

vậy mà khi thực hiện các biện pháp trên để luyện phát âm đúng cho trẻ tôi thấy
khả năng phát âm của trẻ tăng lên rõ rệt.
Sau đây là bảng khảo sát kết quả sau khi đã làm thực nghiệm sử dụng các
biện pháp luyện phát âm tác động vào trẻ
Bảng ngang
Sau khi dùng các biện pháp tác động vào trẻ để luyện phát âm, ta có kết quả
sau :
1. Lớp 5 tuổi A:
Loại tốt : 3 cháu 30%
Loại khá :6 cháu 60%
Loại TB : 1 cháu 10 %
2. Lớp 5 tuổi B
Loại tốt : 4 cháu = 40%
Loại khá : 5 cháu 50%
Loại TB : 01 cháu = 10%
3. Lớp 5 tuổi C
Loại tốt : 2 cháu 20%
Loại khá : 7 cháu 70%
Loại TB : 1 cháu 10%
Bảng so sánh khả năng phát âm của trẻ qua hai giai đoạn
1. Lớp 5 tuổi A
Stt
Nguyễn Thế Bờng
Ngày sinh
Thực
trạng
Sau khi tác
động
1 Tạ Thuý Hằng 12/6/1998 Trung bình Tốt
2 Nguyễn Bích Ngọc 6/5/1998 Trung bình Khá

1 Nguyễn Văn Cơ 12/10/1998 Trung bình Khá
2 Tạ Minh Hải 20/6/1998 Khá Tốt
3 Hán Thị Hà 12/10/1998 Yếu Trung bình
4 Bùi Mạnh Dơng 21/12/1998 Trung bình Tốt
5 Tạ Minh Thoa 16/12/1998 Khá Khá
6 Tạ Thuỳ Tiên 26/11/1998 Trung bình Khá
7 Trần Minh Thắng 15/12/1998 Yếu Khá
8 Bùi Minh Phú 26/10/1998 Yếu Khá
9 Bùi Minh Thành 27/12/1998 Yếu Khá
10 Tạ Công Phú 17/10/1998 Trung bình Khá
Kết luận
Qua khảo sát ta thấy khả năng phát âm đúng của trẻ đợc tăng dần theo tháng tuổi
là phù hợp với sự phát triển của trẻ, phù hợp với sự hoàn thiện của cơ quan phát
âm một cách bình thờng. Tuy nhiên sự tác động của cha mẹ và những ngời lớn
xung quanh trẻ cũng có ảnh hởng lớn đến sự phát âm của trẻ. Trong quá trình
học phát âm đúng của trẻ, cô giáo mẫu giáo có vai trò hết sức quan trọng. Nếu cô
giáo mẫu giáo luôn chú ý đến việc luyện phát âm cho trẻ thì khả năng phát âm
đúng của trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo lớn là lứa tuổi hoàn thiện khả năng phát âm
nhanh nhất. Muốn vậy, việc luyện phát âm đúng cho trẻ phải đợc tiến hành thờng
xuyên, liên tục ở mọi nơi, mọi lúc. Việc luyện phát âm cho trẻ có thể thông qua
một số biện pháp cơ bản nh :
- Cho trẻ bắt chớc tiếng kêu con vật, đồ vật
- Dạy trẻ đọc thuộc các bài ca dao, đồng dao
- Trò chuyện với trẻ để sửa lỗi phát âm.
Thông qua việc làm thực nghiệm tác động các biện pháp trên để luyện phát âm
đúng với các cháu mẫu giáo lớn ở trơng mầm non Thuỵ Vân - Việt Trì . Kết quả
thu đợc sau khi làm thực nghiệm là khả năng phát âm đúng của các cháu tăng
lên rõ rệt.
PHầN III
Kết luận - kiến nghị s phạm

mà còn giúp trẻ phát triển cảm giác, tri giác, trí nhớ để làm giàu vốn từ cho trẻ và
phát triển ngôn ngữ mạch lạc, đồng thời giúp trẻ hiểu đợc thế giới xung quanh và
các mối quan hệ của chúng. Tất cả những điều đó đều tạo thuận lợi để trẻ mẫu
giáo lớn sau này bớc vào học trờng phổ thông đợc thuận lợi hơn, dễ dàng hơn.
Tài liệu tham khảo
1. Tâm lý học trẻ em lứa tuổi mầm non từ lọt lòng đến 6 tuổi :
Nguyễn ánh Tuyết - Nguyễn Nh Mai - Đinh Kim Thoa -1994
2. Tâm lý trẻ em :
TS Nguyễn Công Hoàn và Nguyễn Mai Hà - 1994
3. Sinh lý trẻ em :
PGS - T.s Tạ Thuý Loan và Trần Thị Loan -1995
5. Phơng pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo :
Nguyễn Xuân Khoa - 1997
6. Tiếng Việt dùng cho hệ đào tạo giáo viên mầm non (Tập II) :
Nguyễn Xuân Khoa - 1997
Phụ lục
Phần I : mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
2. Mục đích nghiên cứu
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
4. phơng pháp nghiên cứu
5. Đối tợng và khách thể nghiên cứu
Phần II : Nội dung nghiên cứu
Chơng I : cơ sở lý luận
I. Đăc điểm của âm tiết Tiếng Việt
II. Những đặc điểm phát âm của trẻ mẫu giáo
III. Nội dung và phơng pháp luyện phát âm cho trẻ
Chơng II : Khảo sát thực trạng khả năng phát âm
của trẻ mẫu giáo
I. Cơ sở tiến hành khảo sát


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status