tiểu luận Một số đặc điểm tâm lý cơ bản của giai cấp nông dân Việt Nam trong hoạt động tuyên truyền giai đoạn hiện nay - Pdf 26

A. LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam là một đất nước có truyền thống nông nghệp lâu đời với 80%
dân số làm nông nghiệp. Vì thế, dù ờ thời kỳ nào, người nông dân, nông thôn
và kinh tế nông nghiệp cũng có một vai trò vô cùng quan trọng trong sự phát
triển chung của đất nước như đời sống vật chất, đời sống tinh thần…. Nhận
thức đúng đắn được tầm quan trọng này, trong quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước với mục tiêu là đến năm 2020 đưa Việt Nam cơ bản trở
thành một nước công nghiệp. Đảng và Nhà nước ta đặc biệt chú trọng đến vấn
đề công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và phát triển nông thôn. Điều
này được thể hiện rất rõ trong một số chỉ thị, nghị quyết của một số Đại hội
VI, VII, VIII. Đặc biệt trong đại hội IX, nghị quyết TW 5 về “Đẩy mạnh
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001 – 2010”
đã nhấn mạnh “… Ra sức bồi dưỡng sức dân ở nông thôn và phát huy vai trò
của giai cấp nông dân trong sự nghiệp đổi mới, tập trung sự chỉ đạo và tạo
các nguồn lực cần thiết cho Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, phát
triển nụng thụng toàn diện, tiêu thụ nông sản háng hóa, bảo hiểm sản xuất và
bảo hiểm xã hội, phát huy lợi thế từng vùng, giúp đỡ vùng khó khăn, phân bố
dân cư theo quy hoạch, phát triển ngành nghề, giải quyết công ăn, việc làm,
xóa đụi, giảm nghèo, cải thiện đời sống, nâng cao dân trí, xây dựng nụng
thông mới”… Có thể khẳng định: Thiếu sự tham gia của nông dân thì quá
trình công nghiệp hóa, hiện đạt hóa đất nước không bao giờ thành công.
Tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và phát triển
nông thôn ở nước ta cho tới nay đã đạt được rất nhiều các thành tựu, tuy nhiên
cũng nảy sinh rất nhiều vấn đề bất cập và hạn chế như vấn đề đất đai cho sản
xuất nông nghiệp, vấn đề ứng dụng các kỹ thuật hiện đại cho sản xuất, vấn đề
về bao tiêu sản phẩm…Và minh chứng rõ rệt nhất là mức sống và thu nhập.
Thu nhập bình quân của những người thuần túy sản xuất nông nghiệp rất thấp
(tỷ lệ hộ nghèo theo số liệu năm 2008 là 3,7 triệu hộ chiếm 21,2% số hộ cả
nước). Kéo theo đó là sự chênh lệch vô cùng rõ rệt mức sống giữa thành thị và
nông thôn, sự phân hóa giàu nghèo ngày càng cao (mức chênh lệch giữa nhóm
hộ giàu nhất và nhóm hộ nghèo nhất năm 2008 là 8.5 lần trong khi năm 2004

đề tìm ra các biện pháp phát huy ưu điểm, khắc phục nhược điểm, nâng cao
hơn nữa vai trò của người nông dân trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa nông nghiệp và phát triển nông thôn nói riêng, sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước nói chung.

2
B. NỘI DUNG
CHƯƠNG I
GIAI CẤP NÔNG DÂN VIậ́T NAM, CƠ SỞ HÌNH THÀNH TÂM Lí
GIAI CẤP NÔNG DÂN VIỆT NAM
I. Khái niệm giai cấp nông dân và vai trò của giai cấp nông dân
Việt Nam trong lịch sử
1. Khái niệm giai cấp nông dân
- Khái niệm về nông dân: Nông dân là người lao động cư trú ở nông
thôn sống chủ yếu bằng nghề làm ruộng, sau đó bằng các ngành, nghề mà tư
liệu sản xuất chính là đất đai tùy theo từng thời kỳ lịch sử ở từng nước, có
quyền sở hữu khác nhau vè ruộng đất. Những người này hình thành nên giai
cấp nông dân.
- Khái niệm giai cấp nông dân:
+ Theo Bách khoa toàn thư: Giai cấp nông dân là bao gồm những tập
đoàn người sản xuất nhỏ hoặc làm thuê cho địa chủ và cho phú nông trong
nông nghiệp dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân về ruộng đất
+ Vậy giai cấp nông dân là những người sống lâu đời ở nông thôn
(làng, bản, ấp) lấy sản xuất nông nghiệp làm nguồn sống chính dưới hình
thức tư hữu nhỏ. Nông dân là lực lượng cách mạng trong cuộc cách mạng
dân tộc dân chủ và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
Có thể thấy giai cấp nông dân ở nước ta là lực lượng quan trọng, là lục
lượng cơ bản cùng giai cấp công nhân hợp thành đội quân chủ lực của cách
mạng xã hội chủ nghĩa. Đưa nông dân đi theo con đường cách mạng xã hội hủ
nghĩa là tạo ra một lực lượng chủ yếu trong cuộc cải tạo và xây dựng chủ

lớn, một người bạn đồng minh tự nhiên, tin cậy, trung thành của giai cấp công
nhân. Nông dân và công nhân là đội quân chủ lực của cách mạng “là gốc cách
mệnh”. Sau này, Bác tiếp tục khẳng định: “Nụng dân là một lực lượng to lớn
của dân tộc, một đồng minh rất trung thành của giai cấp cụng nhõn.”
Trong quá trình tổng kết lãnh đạo cách mạng, Bác lại một lần nữa
khẳng định: “Trải qua các thời kỳ, Đảng ta đã nắm vững và quyết định đúng
đắn vấn đề nông dân, củng cố được liên minh công nông. Đảng ta đấu tranh
chống xu hướng “hữu khuynh” và “tả khuynh” đánh giá thấp vai trò của
nông dân là quân chủ lực của cách mạng, là bạn đồng minhchur yếu và tin
cậy của giai cấp công nhân, là lực lượng cơ bản cùng với giai cấp công nhân
xây dựng xã hội chủ nghĩa.”

4
Trên cơ sở đánh giá dúng vai trò của giai cấp nông dân, Đảng và Bác
Hồ luôn coi trọng công tác vận động nông dân đã sớm xây dựng được khối
liên minh công nông vững chắc và có những chủ trương chính sách thích hợp
để tạo nên những thành quả to lớn trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, bảo
vệ xây dựng dất nước.
Nhờ có sự lãnh đạo của Đảng, giai cấp nông dân đã phát huy được
những truyền thống tốt đẹp của dân tộc, đã sớm hình thành những phẩm chất
mới của người nông dân trong cuộc cách mạng to lớn của dân tộc, thể hiện rất
rõ nét ở các anh hùng, chiến sĩ thi đua trên mắt trận nông nghiệp, đã được
tuyên dương qua từng chặng đường của đất nước.
Và ngày nay, trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nói chung;
công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn nói riêng, giai cấp nông dân
ngày càng có vai trò quan trọng hơn để góp phần vào việc thực hiện công cuộc đổi
mới, xây dựng một nước Việt Nam ngày một phát triển và giàu mạnh hơn.
II. Cơ sở hình thành tâm lý cơ bản của giai cấp nông dân Việt Nam
Tâm lý của mỗi cộng đồng giai cấp hay tầng lớp được hình thành trên cơ
sở hoạt động và giao tiếp trong những điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể. Những

được như dầu, vải, mắm muối và những vật dụng khác; một phần được dùng
trong gia đình vào những ngày lễ tết, giỗ chạp, cưới xin, ma chay.
Sản xuất của nông dân dù là nông nghiệp thuần tuý hay cú thờm nghề
thủ công, dù canh tác trên ruộng công hay ruộng tư cũng đều được tiến hành
trong quy mô nhỏ bé của từng gia đình và trong khuôn khổ hạn hẹp của làng
xã. Những đơn vị sản xuất này độc lập với nhau, tự giải quyết mọi công việc,
từ khâu đầu đến khâu cuối. Trừ những công việc lớn có liên quan đến sản xuất
chung như đắp đê, đào mương chống lụt, chống hạn mới cần tập trung sức lực
của mọi gia đình, còn nói chung “cơm nà ai nhà nấy ăn, việc nhà ai nhà nấy
làm” không ai phụ thuộc vào ai. Mối quan hệ giữa những người trong làng về
sản xuất thường là quan hệ tương trợ, đổi công. Trong mỗi làng chỉ có vài ba
hộ giàu có, nhiều ruộng cần thuê mướn nhân công, còn nói chung việc sản
xuất trong mỗi gia đình đều trông cậy vào công sức của tất cả các thành viên
của nó; đàn ông cũng như đàn bà, người già cũng như người trẻ, mỗi người
đều có công việc cụ thể, thích hợp.
Dân số đông, gia đình nào cũng làm nông nghiệp, ruộng đất chia ra
manh mún. Sản xuất với công cụ thô sơ, kỹ thuật lạc hậu, năng suất lao động
thấp nên người nông dân chưa bao giờ hết lo thiếu đói. Một mặt, họ phải tích
cực sản xuất để tự thoả mãn những nhu cầu vật chất cơ bản nhất của đời sống,
mặt khác, lại phải cố gắng giới hạn những nhu cầu của mình trong khuôn khổ
những gì có thể tự sản xuất được. Về ăn thỡ lỳa, ngụ, khoai, sắn ngoài đồng;
rau dưa, hoa quả trong vườn, mùa nào thức nấy; gà lợn nuôi trong chuồng; cá

6
thả dưới ao, tôm cua bắt được ngoài đầm, ngoài ruộng, cốt đảm bảo những
bữa ăn hàng ngày. Về ở, nhà cửa trong làng cũng được làm bằng rơm, rạ, tre,
nứa hay cho dù là gạch, ngói chăng nữa cũng là những vật liệu có sẵn. Nhìn
chung, nông dân không có nhiều thứ để bán và cũng cú ớt thứ có thể mua.
Việc mua bán chỉ diễn ra ở chợ làng, một tháng vài ba phiên với những cây
kim, sợi chỉ, bao diêm, gói thuốc, mắm muối, dầu đèn do những người tiểu

thấy một vị thế nào đó để khẳng định vai trò của mình trong cộng đồng.
Mỗi làng tự đặt ra những “lệ”, những “khoản ước” riêng mà tất cả mọi
người phải tuân theo gọi là “hương ước”. Hương ước của làng không giống
nhau về các điều khoản cụ thể, nhưng nhìn chung, nội dung của nó đều khẳng
định tính chất độc lập và riêng biệt của mỗi làng. Nó xác định địa giới của làng
với diện tích công điền, công thổ. Nó quy định những nghĩa vụ của người làng
đối với công việc chung. Một phần quan trọng của hương ước làng dành cho
những quy định về phép tắc ứng xử trong các mối quan hệ làng xã như là
những chuẩn mực đạo đức và pháp lý riêng của làng mà mọi vi phạm đều bị
đưa ra xét xử, phạt vạ và bị dư luận làng lên án. Trong điều kiện biệt lập của
các làng, hương ước là công cụ điều tiết mọi hành vi của cá nhân, giữ vững
được các mối quan hệ, duy trì được sự ổn định của làng. Nhiều hương ước đã
vượt lên trên cả hệ thống pháp luật của nhà nước. “Phộp vua thua lệ làng” là
như vậy.
Tính chất khép kín của làng xã Việt Nam còn được biểu hiện trong các
sinh hoạt văn hoá tinh thần của các làng. Mỗi làng tôn thờ một vị “thành hoàng”,
vị thần bảo trợ cho sự yên vui, thịnh vượng của riêng cộng đồng làng mình. Vì
thế, “trống làng nào làng ấy đỏnh, thỏnh làng nào làng ấy thờ”. Không có trường
hợp hai làng gần nhau cùng thờ một vị thần làm “Thành hoàng làng”.
“Thành hoàng” được thờ ở đình làng, một công trình kiến trúc to rộng
nhất làng, một nơi tôn nghiêm mà khi đi qua mọi người phải “xuống ngựa, bỏ
nún”, một biểu trưng cho tinh thần độc lập, tự tôn của làng. Xâm phạm tới đình
là xâm phạm tới lòng tự tôn của cả cộng đồng. Đình làng cũng là nơi diễn ra
những cuộc tế lễ, các ngày hội hè, các phiên họp “việc làng” và các sinh hoạt văn
hoá tinh thần khác của làng. Lễ hội và các sinh hoạt văn hoá tinh thần của làng
đều khuôn trong phạm vi nội bộ làng, là nơi ôn lại truyền thống, nơi giao lưu tình
cảm, củng cố tinh thần cố kết của cộng đồng làng.
Nói tóm lại, tính chất tiểu nông, tự cung tự cấp của nền kinh tế và tính
chất biệt lập, khép kín các mối quan hệ là những điều kiện cơ bản đã quy định
nên những phương thức hoạt động và giao tiếp của người nông dân, qua đó,

Trong suốt hai cuộc kháng chiến, làng xã là nơi đón tiếp người ở cỏc
vựng cú chiến sự, cỏc vựng bị tạm chiếm tản cư về, là nơi đóng quân của bộ
đội, là hậu phương cung cấp người và của cho tiền tuyến. Hoạt động của
những người nông dân không còn bó hẹp trong công việc đồng áng hay “việc
làng” mà là tham gia vào các công việc chung quan trọng của đất nước, “quốc
gia đại sự”: đánh giặc giữ làng, tiếp tế cho bội đội, đi dân công hoả tuyến,
tham gia bộ đội… Nhiều nông dân đã thoát ly khỏi làng mình, đi đây đi đó,
sống hoà trộn cùng với “người thiên hạ”. Kháng chiến trường kỳ, hoạt động

9
của những người nông dân càng phong phú đa dạng, giao tiếp của họ ngày
càng mở rộng phạm vi.
Nền kinh tế theo cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp tuy không đem lại
những kết qủa như mong muốn chủ quan, có những tác động tiêu cực vào đời
sống kinh tế, văn hoá cũng như đối với tâm lý của mọi người, nhưng không
phải là không tạo nên những thay đổi mang tính chất tích cực đối với làng xã
xưa kia. Đồng ruộng được quy hoạch và cải tạo, hệ thống mương máng được
đào đắp, mạng lưới đường xá được xây dựng, công cụ sản xuất được khuyến
khích cải tiến, kỹ thuật mới được tìm tòi, phổ biến và áp dụng, sự phát triển
của giáo dục, của y tế, của công tác tuyên truyền, thông tin, văn hoá, văn nghệ
cũng tạo nên những tiền đề cho sự biến đổi về nếp nghĩ của những người nông
dân. Bởi thế, trong qỳa trỡnh chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế cũ sang cơ chế
mới, tâm lý người nông dân đã kịp thời có những biến đổi mạnh mẽ.
Trong những tâm lý người nông dân hiện nay trước yêu cầu của công
cuộc đổi mới đó cú những biến đổi tích cực phù hợp với những nhiệm vụ mà
Đảng đã đề ra, nhưng cũng không phải là không xen lẫn những biến đổi tiêu
cực nảy sinh trong nền kinh tế thị trường. Vấn đề đặt ra ở đây là phải tìm hiểu
thực trạng của những biến đổi ấy để có những biện pháp đúng đắn, nhiều mặt
có tính chất định hướng, phát huy được những yếu tố tích cực, hạn chế và xoá
bỏ những yếu tố tiêu cực trong tâm lý người nông dân, tạo nên được một động

trương, chính sách đối với nông thôn, nông nghiệp như chuyển dịch cơ cấu
kinh tế, phát triển ngành nghề, hỗ trợ về vốn, vật tư kỹ thuật, cải tiến cơ cở hạ
tầng, đẩy mạnh việc áp dụng những thành tựu khoa học - kỹ thuật vào sản
xuất nông nghiệp đã làm cho nếp suy nghĩ cũ dần thay đổi. Người nông dân
không chỉ chuyên canh lúa mà tuỳ theo những đặc điểm riêng của từng địa
phương đưa chăn nuôi gia súc, gia cầm, nuôi trồng thuỷ sản, trồng cây ăn
quả… thành những nghề chính. Những nghề truyền thống bắt đầu được phát
triển ở nông thôn. Người nông dân đó cú thu nhập do hàng hoá họ bán được.
Họ đã bắt đầu tham gia vào nền kinh tế hàng hoá, vào hoạt động kinh doanh.
Kinh doanh phải tính tới vốn, tới lãi, tới giá cả, tới chất lượng sản phẩm, tới
cạnh tranh… và biết bao vấn đề phức tạp nữa để duy trì và phát triển sản xuất.
Như vậy, trong hoạt động sản xuất, với những điều kiện khác nhau, tư duy của
người nông dân đang chuyển dần từ tư duy “tự cung, tự cấp” sang tư duy “sản
xuất hàng hoỏ”, dự hàng hoá đó là sản phẩm tiểu thủ công hay sản phẩm nông
nghiệp. Tư duy ấy được nảy sinh trong điều kiện nhu cầu đã phát triển và tăng
trưởng sản xuất. Đó là một biến đổi lớn trong tâm lý, có ý nghĩa lớn đối với sự
phát triển của nông thôn ta vốn bao năm trì trệ.

11
Mức độ biến đổi này tuỳ thuộc vào những điều kiện hiện hữu của từng
vùng, từng địa phương. Tình hình ấy đã tạo nên sự khác biệt trong quá trình
phát triển của cỏc vựng, cỏc địa phương về mọi mặt. Bởi vậy, tạo nên những
điều kiện khách quan cần thiết để thúc đẩy sự biến đổi mạnh mẽ trong tâm lý,
ý thức con người để từ đó có tác động lại đối với hiện thực là nhiệm vụ quan
trọng trong công cuộc đổi mới nông thôn ngày nay. Đú chớnh là quan hệ biểu
hiện giữa tâm lý, ý thức con người và tồn tại khách quan.
1.2. Bước đầu phát triển tư duy lý tính, khoa học
Trong điều kiện của nền kinh tế tiểu nông, tự cung tự cấp tồn tại lâu dài,
lao động sản xuất chủ yếu dựa vào sức lực của con người, công cụ thô sơ và
những kinh nghiệm cảm tính được tích luỹ và truyền thụ từ thế hệ này qua thế

nghiệp, cây ăn quả, nuôi trồng thuỷ sản, chăn nuôi gia cầm, gia súc đã dần dần
trở thành nghề chính của nhiều gia đình, nhiều làng.
- Trong sản xuất, ngay cả trong nông nghiệp, khoa học - kỹ thuật ngày
càng được coi trọng và vận dụng sâu rộng. Mọi người đều đã nói đến độ P.H
của đất, biết sử dụng một cách thích hợp phân lân, phân đạm, am hiểu quá
trình sinh trưởng của các loại sâu bệnh và diệt trừ bằng phương pháp khoa học
theo sự hướng dẫn của các cơ quan bảo vệ thực vật, nắm vững đặc điểm của
các loại gia súc, gia cầm và những phương pháp chăn nuôi thích hợp.
- Trong các gia đình đó cú những công cụ cải tiến, các loại máy móc
nhỏ. Người sản xuất đã đọc các loại sách khoa học - kỹ thuật, luôn luôn theo
dõi các chương trình nông nghiệp của đài phát thanh, chương trình khuyến
nông của đài truyền hình và các chương trình phổ biến khoa học kỹ thuật có
liên quan đến sản xuất.
Coi trọng và bước đầu biết tính toán trong làm ăn, coi trọng khoa học -
kỹ thuật, biết áp dụng những tri thức khoa học - kỹ thuật trong sản xuất là biểu
hiện của sự biến đổi trong nếp tư duy: tư duy lý tính - khoa học bước đầu có
sự phát triển.
Chính vì thế mà nhiều nông phẩm hiện nay đã trở thành hàng hoá cung
cấp cho thị trường. Chỉ riêng về sản xuất lúa gạo, dù diện trồng lúa có phần
thu hẹp, nhân lực bị chia sử nhưng năng suất vẫn tăng nhờ áp dụng những
biện pháp kỹ thuật mới. Đất nước từ chỗ phải nhập khẩu gạo đã trở thành một
nước xuất khẩu gạo đứng thứ nhì, thứ ba thế giới, bước tiến đó cũng có phần
của sự đổi mới tư duy ở người nông dân.
1.3. Sự thay đổi định kiến giàu nghèo
Cùng với tính “an phận thủ thường”, tư tưởng “bỡnh quân chủ nghĩa”,
định kiến sai lầm về giàu - nghèo là hiện tượng tâm lý xã hội đã tồn tại trên cơ
sở nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, tự cung, tự cấp của làng xã xưa.
Công cuộc đổi mới với mục tiêu “dõn giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh” đã khơi dậy ở nông dân ước vọng làm giàu sâu kín


Nói tóm lại, tư duy kinh tế sản xuất hàng hoá xuất hiện thay cho “tư
duy tự cung tự cấp”; tư duy lý tính, khoa học bắt đầu nảy nở, thay cho tư duy
“kinh nghiệm chủ nghĩa” biểu hiện trong lao động sản xuất - hoạt động chủ
yếu của nông dân - cùng với quan niệm mới về giàu nghèo là những đặc điểm
mới, nổi bật trong nhận thức của người nông dân hiện nay.

14
Sự đổi mới tư duy ấy có tác động tích cực đối với quá trình phát triển
của mỗi cá nhân người nông dân cũng như sự phát triển kinh tế - xã hội ở
nông thôn và là những điều kiện cần thiết để bước vào thời kỳ công nghiệp
hoá, hiện đại hoá nông nghiệp hiện nay.
2. Tình cảm của người nông dân
Nói đến tình cảm của người nông dân, người ta thường lưu ý đến những
tình cảm mang đặc điểm đặc trưng hình thành và biểu hiện trong những mối
quan hệ xã hội hạn hẹp của một môi trường khép kín. Đó là tình cảm trong
quan hệ dòng họ, tình cảm trong quan hệ với làng xóm, tình cảm trong quan
hệ với những người ngoài làng…
2.1. Tình cảm của người nông dân trong quan hệ dòng họ
Mối quan hệ dòng họ được xác lập giữa những người cùng huyết thống,
cùng tổ tiên là mối quan hệ tự nhiên, tất nhiên của loài người. “Chim có tổ,
người có tụng”, người Việt Nam trong tiềm thức của mình, luôn luôn coi
trọng mối quan hệ này. Với nông dân, họ hàng thường quần tụ với nhau từ đời
nọ sang đời kia trong cùng một làng. Do nhu cầu phải liên kết lại trong cuộc
đấu tranh sinh tồn, mỗi dòng họ tồn tại trên thực tế như một nhóm chính thức,
một cộng đồng chặt chẽ, có hoạt động chung, có giao tiếp trực tiếp. Từ đó,
tình cảm ở họ mang sắc thái riêng.
- Sự phân biệt dòng họ
Sự phân biệt dòng họ ăn sâu trong tiềm thức của những người nông
dân, chi phối cả quá trình tri giác xã hội, tình cảm và hành vi ứng xử trong
những mối quan hệ làng xã.

khi trở thành cực đoan, nó lại có tác động xấu tới bầu không khí bình lặng,
thuận hoà trong cái cộng đồng làng bé nhỏ.
- Tình giao hảo giữa các dòng họ
Sống, hoạt động và giao tiếp trong một phạm vi hẹp, khép kín trong luỹ
tre làng, trai gái đến tuổi trưởng thành có điều kiện gần nhau, hiểu nhau và kết
hôn với nhau. Trai gái cùng làng kết hôn với nhau là sự liên kết hai dòng họ.
Mối quan hệ ấy càng được mở rộng đời nọ qua đời kia để rồi các họ đều cú
“dõy mơ rễ mỏ” liên quan với nhau tạo nên tình giao hảo giữa các dòng họ
trong làng, điều chỉnh hành vi trong mối quan hệ “trong họ, ngoài làng”, đóng
góp không nhỏ vào “tỡnh làng nghĩa xúm”.
- Tình cảm huyết thống - cơ sở của tình yêu quê hương.
Nền kinh tế nông nghiệp đã gắn chặt con người với ruộng đồng, với làng.
Làng là nơi người ta sinh ra, lớn lên sống quây quần cùng ông bà, cha mẹ, anh
chị em, họ hàng ruột thịt… Làng còn là mảnh đất thiêng liêng, nơi quê cha đất
tổ, nơi có mồ mả tổ tiên, nơi cả dòng họ đời này qua đời khác sinh sống và góp
phần xây dựng nên. Lòng gắn bó với quê hương trước hết là ở mối quan hệ máu

16
thịt ấy. Không có họ hàng ở quê hương hoặc đã cắt đứt quan hệ với họ hàng nơi
chôn rau cắt rốn thì tình cảm đối với quê hương cũng sẽ phai nhạt.
2.2. Tình cảm người nông dân trong quan hệ làng xóm.
Đối với người nông dân mỗi con người sống gắn bó với họ hàng nhưng
cũng không tách khỏi mối quan hệ làng xóm. Cùng với quan hệ dòng họ, mối
quan hệ làng xóm cũng là mối quan hệ chủ yếu mà ở đó tác động qua lại giữa
người và người diễn ra mạnh mẽ góp phần rất quan trọng vào sự hình thành
tình cảm của họ.
- Tình cộng đồng làng xã
Nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu và môi trường xã hội khép kín đã buộc
mọi người phải liên kết với nhau để cựng tụn tại. Họ hợp sức với nhau để khai
phá ruộng đồng, để chống thiên tai; cùng nhau xây dựng nên những công trình

xóm đã có ảnh hưởng tới thái độ và hành vi của người nông dân trong những
mối quan hệ ngoài làng như những hệ quả.
- Tính cục bộ
Hoạt động của cộng đồng làng đã tạo nên mọi của cải vật chất và tinh
thần riêng của từng làng. Người nông dân thường phần biệt rõ rệt cái gì thuộc
về cái “ta” làng, cái gì thuộc về “nú” ngoài thiên hạ và có thái độ ứng xử khác
biệt. Cái gì thuộc về “làng ta” thường được đề cao và bảo vệ một cách thiên
vị. Người làng dù thế nào cũng phải được đối xử tốt hơn người ngoài, lợi ích
của làng phải được đặt lên trên lợi ích của bên ngoài, danh dự của làng phải
được xem trọng hơn tất cả. Phường hội không mở rộng ngoài phạm vi làng.
Nghề nghiệp không được truyền cho người làng khác. Giữa các làng thường
có sự ganh đua về các mặt, làng nọ muốn hơn làng kia, sinh ra đố kỵ, ghen
ghét lẫn nhau. Tính cục bộ trong tâm lý nông dân hạn chế tầm nhìn xa, thấy
rộng, củng cố thờm tớnh bảo thủ, hạn chế sự liên kết hoạt động với bên ngoài,
hạn chế cả sự hoà nhập cuộc sống của cộng động rộng lớn vào sự phát triển
chung của xã hội.
- Tình yêu nước thương nòi
Trong ý thức sâu xa của người nông dân, họ hàng - làng - nước là ba
nhóm xã hội chủ yếu mà ở đó mỗi con người có mối quan hệ ràng buộc. Họ
hàng, làng xã đều là những nhóm nhỏ nằm trong một nhóm lớn là nước.
Trong ngôn ngữ đời thường, người ta ghép làng với nước như “sống vì làng,
sang vì nước”, “họ hàng khinh trước, làng nước khinh sau”, “kờu vỡ làng
nước”… không ai ghép làng với các cấp trung gian. Mối quan hệ giữa những
người trong nước cũng được thăng hoa thành mối quan hệ huyết thống trong
truyền thuyết “Âu Cơ đẻ một bọc trăm trứng” và người trong nước gọi nhau là
“đồng bào”, được sinh ra từ một nguồn, một gốc, một giống, một nũi, cựng là
“con Lạc, cháu Hồng”, cùng một ông tổ Hùng Vương.

18
Ý thức về đất nước, về giống nòi ẩn sâu trong tâm hồn mỗi con người

lại phải đổ ra không biết đâu mà kể. Cần cù lao động chính là một nét tính cách
nổi bật đã trở thành truyền thống tốt đẹp của giai cấp nông dân Việt Nam.

19
Ngày nay, tính cách ấy cùng với tư duy được đổi mới và trình độ kỹ
thuật ngày càng được nâng cao, đưa nền kinh tế sản xuất nông nghiệp nước ta
bước vào thời kỳ công nghiệp hoá với nhiều hứa hẹn trong tương lai.
Mặt khác, thời gian làm việc có thể rút ngắn hay kéo dài tuỳ ý. “Quy
chế” kỷ luật lao động không được đặt ra trong đơn vị sản xuất gia đình. Thực
tế cho thấy, thói quen ấy đã cản trở người nông dân hoà nhập vào cuộc sống
làm việc và sinh hoạt trong một tập thể có tổ chức, có kỷ luật nghiêm ngặt. Họ
thường đem theo một nếp sống tuỷ tiện, xuê xoa theo kiểu “gia đình chủ
nghĩa”, có những hành vi tự do, thiếu kỷ luật, gây trở ngại cho quá trình tiến
hành những hoạt động chung.
3.2. Những nét tính cách biểu hiện trong sinh hoạt - tính đơn giản
Đơn giản cũng là một nét tính cách nổi bật của người nông dân xưa:
đơn giản trong suy nghĩ, đơn giản trong tình cảm và đơn giản trong sinh hoạt.
Sản xuất nông nghiệp trước đây chưa bao giờ thoả mãn được những
nhu cầu tối thiểu của người nông dân, mặc dù họ đã phải dành tất cả thời gian
và sức lực cho nó. Lương thực không đủ ăn. Một năm dù hết sức tiết kiệm
cũng thiếu đói vài ba tháng. Bởi vậy, đủ ăn, đủ mặc, có mái nhà che mưa che
nắng là mục tiêu phấn đấu của cả đời người. Giàu có là ước mơ xa vời của đa
số. Tiêu dùng, tiện nghi, hưởng thụ là những khái niệm xa lạ.
Khi đời sống vật chất cũn quỏ thấp kém, cái ăn cái mặc còn đang là nỗi
lo thường trực của mọi người, thì những nhu cầu về tinh thần cũng không có
điều kiện phát triển.
Tất cả những nhu cầu về vật chất và tinh thần vốn hạn hẹp ấy cũng chỉ
được thoả mãn một cách đơn giản cả về nội dung lẫn hình thức. Đồ ăn là cơm
độn ngô, khoai, kèm với dưa, cà, mắm muối cho qua bữa. Thức đựng là bát
đũa, mâm gỗ, đũa tre. Nơi ăn cũng không phải là mối quan tâm: mùa hè ngoài

lòng với “cơm ba bỏt, ỏo ba manh”, “đúi khụng xanh, rột khụng chết”. Họ
ngại thay đổi nếp sống, ngại những toan tính phức tạp theo lối nghĩ “thà ăn
cơm cáy mà ngáy o o, còn hơn ăn cơm thịt bò mà lo ngay ngỏy”. Họ cũng sợ
phải bôn tẩu phiêu lưu, vì “ta về ta tắm ao ta, dù trong dù đục ao nhà vẫn
hơn”. Tính an phận đã triệt tiêu tính tích cực của nông dân xưa trong hoạt
động để vươn lên cuộc sống ấm no hơn. Bởi thế, thời gian cứ trôi chảy, thế hệ
sau tiếp nối thế hệ trước, đã là nông dân thì vẫn cứ đúi nghèo.
Từ ngày đổi mới cơ chế, nhờ sự quan tâm tới nông nghiệp của Đảng và
Nhà nước với hàng loạt chính sách đúng đắn ra đời, kinh tế nông nghiệp đó cú
những bước phát triển vược bậc. Người nông dân đã vượt qua đúi nghốo và có
điều kiện tiến tới giàu có. Trên thực tế, nhiều nông dân đã nắm bắt được cơ hội,
phát huy những phẩn chất tốt đẹp đó cú, làm ăn theo phong cách mới và thực sự
trở nên giàu có. Tính an phận đã nhường bước cho khát vọng làm giàu.

21
4. í nghĩa của việc nắm vững những đặc điểm tâm lý của nông dân
trong công tác tuyên truyền
Trong công tác tuyên truyền đối với nông dân, nắm vững những đặc
điểm tâm lý của họ là một điều rất cần thiết. Nó vừa có ý nghĩa như là điều
kiện để nâng cao lập trường tư tưởng của người làm công tác tuyên truyền,
vừa có ý nghĩa như một nguyên tắc thuộc về chuyên môn nghiệp vụ của tuyên
truyền, nhằm nâng cao hiệu qủa của công tác này.
4.1. Về tư tưởng
Nắm vững những đặc điểm tâm lý của giai cấp nông dân, người làm công
tác tuyên truyền càng thêm yêu quý họ vì những đặc điểm tâm lý tích cực, hoan
nghênh họ vì những biến đổi phù hợp với bước phát triển của xã hội, đồng thời
cũng thông cảm với họ về những đặc điểm tâm lý tiêu cực nảy sinh một cách tất
yếu từ những điều kiện kinh tế - xã hội tồn tại quá lâu ở nông thôn nước ta.
Cũng từ những nhận thức về cơ sở hình thành của những đặc điểm tâm
lý của nông dân, những người làm công tác tuyên truyền càng thêm tin tưởng

Ngoài ra, nắm bắt được sở thích, hứng thú của nông dân, người làm công
tác tuyên truyền cũng sáng tạo được nhiều hình thức tuyên truyền phong phú,
sinh động, hấp dẫn, chuyển tải được đầy đủ những thông tin cần thiết một cách
nhẹ nhàng nhưng chắc chắn và đem lại hiệu quả cao trong công tác tuyên truyền.

23
C. KẾT LUẬN
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn ở nước ta là một
bộ phận rất quan trọng trong toàn bộ quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước. Nghị quyết Trung ương 5 khoá IX về ôĐẩy mạnh công nghiệp hoá,
hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn giai đoạn 2001 – 2010 ằ đã phát triển
về lý luận, khái quát rộng hơn và được điều chỉnh về mục tiêu, nội dung, bước
đi cho phù hợp với yêu cầu của thực tiễn đó là: ô Xây dựng một nền nông
nghiệp và kinh tế nông thôn phát triển bền vững với nhịp độ tăng trưởng cao,
trên cơ sở kỹ thuật hiện đại, cơ cấu hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ và phù
hợp, nhằm giải phóng mạnh mẽ sức sản xuất, tăng năng sất lao động, giải
quyết việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống nhân dân nông thôn, rút
ngắn khoảng cách giữa nông thôn và thành thị. Xây dựng nông thôn mới văn
minh, hiện đại, công bằng, dân chủ, góp phần thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước ằ
Như vậy, công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn là quá
trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất - kinh doanh - dịch
vụ và quản lý kinh tế - xã hội mà ở đó, nông dân đóng vai trò quyết định, bởi
giai cấp nông dân là một lực lượng chính trị - xã hội, là lực lượng sản xuất
quan trọng, nông dân và nông thôn còn là nơi lưu giữ kho tàng văn hoá dân
tộc. Nhìn lại chặng đường gần 25 năm đổi mới, có thể đánh giá rằng, công
nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam đã đạt được
thành tựu khá toàn diện và to lớn. Nhờ phát triển nông nghiệp theo hướng sản
xuất hàng hóa với tốc độ khá cao, nâng cao được năng suất, chất lượng, hiệu
quả mà an ninh lương thực quốc gia được bảo đảm vững chắc và một số mặt

gốc cơ bản của những thành tựu mà chúng ta đạt được trong quá trình đổi mới
đất nước.

25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status